1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 106 (trang)
Khái niệm và vai trò của thuế nhập khẩu. Khái niệm.

Khái niệm và vai trò của thuế nhập khẩu. Khái niệm.

Tải bản đầy đủ - 106trang

Khoa Luật
CHƯƠNG I: NHỮNG ĐỀ PHÁP LÝ CHUNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU.

I. Khái quát chung về thuế nhập khẩu.


1. Khái niệm và vai trò của thuế nhập khẩu. 1.1. Khái niệm.
Theo quan niệm chung, thuế là một khoản tiền do các cá nhân, tổ chức nộp cho nhà nước để góp phần chia sẻ gánh nặng chi tiêu với nhà nước trong
quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế nhập khẩu là một loại thuế có vai trò và ý nghĩa thiết thực, không chỉ
tạo nguồn thu cho ngân sách mà quan trọng hơn, nó là cơng cụ hữu hiệu trong tay nhà nước để kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hố từ nước ngồi, bảo
hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của chính phủ trong từng thời kỳ. Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang
từng bước ảnh hưởng đến số phận của thuế nhập khẩu theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này, song về cơ bản, thuế nhập khẩu vẫn sẽ là giải pháp quản
lý vĩ mơ có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước, nhất là đối với quốc gia đang trong quá trình từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường
như Việt Nam hiện nay. Có thể hiểu khái niệm thuế nhập khẩu từ các góc độ tiếp cận khác nhau.
Nếu xét về phương diện kinh tế, thuế nhập khẩu là khoản đóng góp bằng tiền của các cá nhân, tổ chức vào ngân sách Nhà nước khi họ có hành vi nhập
khẩu hàng hoá, dịch vụ qua biên giới. Với cách tiếp cận này, thuế nhập khẩu được quan niệm như một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh
giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế và người thu thuế là nhà nước. Mặt khác, thuế nhập khẩu cũng được hiểu như là đòn bẩy kinh tế hay biện
pháp kinh tế để nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi quốc gia và chi phối gián tiếp đối với hoạt động kinh tế
Lê Thị Hà Ly Luật kinh doanh 45
Khoa Luật
trong phạm vi khu vực và toàn cầu. Nếu xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu là quan hệ pháp luật
phát sinh giữa hai chủ thể: một bên là Nhà nước và một bên là các cá nhân, tổ chức. Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành. Mỗi một quốc gia độc lập, có chủ quyền đều sử dụng thuế nhập khẩu,
thuế xuất khẩu đánh vào hàng hoá nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới nước mình. Thuế này gọi chung là thuế quan custom duty. Ở nhiều nước trên thế
giới, hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới với nước ngoài được điều tiết và kiểm sốt bởi hai cơng cụ chủ yếu là “hàng rào thuế quan” và “hàng rào phi
thuế quan”. Do quan niệm khác nhau giữa các nước về nội hàm của khái niệm “thuế quan” nên chính sách thuế quan của các nước cũng có sự khác nhau.
1.2. Vai trò. Giống như các sắc thuế khác Thuế Giá trị gia tăng, Thuế tiêu thụ đặc
biệt, Thuế thu nhập cá nhân,… , t huế nhập khẩu thể hiện hai vai trò cơ bản. - Thứ nhất, vai trò thuế nhập khẩu là tạo nguồn thu cho ngân sách.
Thuế là một thực thể do nhà nước đặt ra thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật. Các văn bản này không chỉ quy định nội dung thuế nhập khẩu mà
còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện, thu, nộp thuế. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu
vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Do vậy, thuế nhập khẩu là một nguồn thu quan trọng, góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện
và tiền đề cho việc phát triển lâu dài. Hơn nữa, đây lại là một loại thuế dễ thu nhất, ít bị phản ứng thuế trong nước và được sự ủng hộ của nhiều nước.
- Thứ hai, thuế nhập khẩu có vai trò điều tiết hoạt động nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng. Thuế nhập khẩu cấu thành trong giá cả hàng hoá, làm
giá hàng hoá tăng, do đó có tác dụng điều tiết hoạt động nhập khẩu và hướng
Lê Thị Hà Ly Luật kinh doanh 45
Khoa Luật
dẫn tiêu dùng; bởi vì lượng hàng hố nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ của hàng hố đó, yếu tố này phụ thuộc vào giá cả. Giá cả cao hay thấp sẽ
quyết định giảm hay tăng sức cạnh tranh của hàng hố đó trên thị trường. Như vậy, thông qua thuế nhập khẩu, nhà nước điều tiết việc nhập khẩu hàng hoá,
đồng thời hạn chế việc tiêu dùng hàng hố xa xỉ hoặc các loại hàng hố khơng được khuyến khích sử dụng như: thuốc lá, rượu, bia…Tuy nhiên xuất phát từ
đặc trưng cơ bản của loại thuế này là đánh vào hàng hoá nhập khẩu và sau đó được cấu thành trong giá cả hàng hố nhập khẩu nên loại thuế này có vai trò
khá đặc thù là bảo hộ sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh khơng cân sức giữa hàng hố trong nước và hàng hoá ngoại nhập. Cụ thể là,
đối với hàng hoá nhập khẩu do bị đánh thuế nhập khẩu nên về lý thuyết giá cả hàng hoá này trên thị trường nhập khẩu sẽ tăng lên, trong khi đó, các hàng
hố được sản xuất trong nước do khơng phải chịu thuế nhập khẩu hoặc chỉ chịu thuế nhập khẩu do phần nguyên liệu hoặc máy móc nhập khẩu nên giá
cả của chúng có xu hướng rẻ hơn và do đó, sức cạnh tranh lớn hơn hàng hố ngoại nhập. Điều này cho thấy, việc đánh thuế nhập khẩu thực chất là một
biện pháp để bảo vệ sản xuất trong nước, khi chính phủ nhận thấy những bất lợi nghiêng về phía hàng hố được sản xuất từ phía các doanh nghiệp trong
nước. Mặt khác, thuế nhập khẩu giúp các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành còn non trẻ trong nước có thời gian trường thành và sinh lời, từ đó
có thể cạnh tranh với hàng hố nhập khẩu. Theo quy định của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
GATT, thuế quan-với rất ít ngoại lệ-là một cơng cụ chính sách duy nhất được chấp nhận để bảo hộ. Nó là công cụ cấp cao hơn để thay thế cho các
công cụ bảo hộ như các rào cản phi thuế NTB
s
, hạn ngạch, giấy phép và các rào cản kỹ thuật thương mại TBT
s
vì thuế quan ít tạo ra trục lợi và tham nhũng trong thực tế và nó cũng hạn chế được việc sử dụng sức mạnh độc
Lê Thị Hà Ly Luật kinh doanh 45
Khoa Luật
quyền trong nước, nếu có, trong khi các rào cản phi thuế quan không làm được. So với các công cụ bảo hộ khác thuế nhập khẩu có đặc điểm khá rõ
ràng, ổn định, thuận tiện cho nhà nhập khẩu dự báo về thị trường. Tuy nhiên, thuế nhập khẩu cũng có những tác động tiêu cực tới sản xuất
và tiêu dùng như: khuyến khích sản xuất không hiệu quả trong nước làm tăng giá hàng hoá khiến người tiêu dùng cắt giảm mua sắm, gián tiếp tạo ra môi
trường cho buôn lậu…do vậy, điều quan trọng là phải “lựa chọn người được bảo hộ”, tức là xác định ứng cử viên có thể đáp ứng các điều kiện cho sự can
thiệp, lựa chọn và duy trì mức thuế suất nhập khẩu.

2. Tác động của thuế nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái niệm và vai trò của thuế nhập khẩu. Khái niệm.

Tải bản đầy đủ ngay(106 tr)

×