1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm

CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm

Tải bản đầy đủ - 125trang

9 Chức năng của nhà nước được xác đònh dựa trên bản chất của nhà nước đó, do
cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết đònh. Chức năng của nhà nước cũng có sự thay đổi tuỳ thuộc vào bản chất và những nhiệm vụ đặt ra trong từng giai đoạn
phát triển của xã hội.
2. Phân loại chức năng Thông thường chức năng của nhà nước bao gồm hai loại sau:
2.1. Chức năng đối nội Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước, diễn ra trong
phạm vi nội bộ đất nước như: tổ chức quản lý nền kinh tế và các mặt văn hoá, xã hội, giáo dục; giữ vững an ninh chính trò, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ những quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân; trấn áp những phần tử chống đối chính quyền, đi ngược lại lợi ích chung của xã hội… Chức năng này còn gọi là chức năng quản lí mọi
măt đời sống xã hội.
2.2. Chức năng đối ngoại Chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước diễn ra
trong mối quan hệ với các quốc gia khác, các dân tộc khác như: thiết lập mối quan hệ bang giao với các quốc gia khác; gia nhập vào các tổ chức quốc tế và khu vực;
phòng thủ đất nước, chống giặc ngoại xâm…
Giữa chức năng đối nội và chức năng đối ngoại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó chức năng đối nội giữ vai trò quan trọng, làm cơ sở cho việc thực
hiện chức năng đối ngoại. Ngược lại, chức năng đối ngoại cũng có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện chức năng đối nội.
3. Hình thức thực hiện chức năng Để thực hiện được chức năng, Nhà nước thường sử dụng nhiều hình thức và
phương pháp khác nhau, trong đó có ba hình thức cơ bản là: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật.
Tương ứng với ba hình thức đó thì có ba loại cơ quan: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp.
4. Phương pháp thực hiện chức năng Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nhà nước, mà các phương pháp để thực
hiện chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng. Nhưng nhìn chung các nhà nước thường sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp thuyết phục và phương pháp
cưỡng chế. Tuỳ thuộc vào bản chất của nhà nước mà sử dụng phương pháp nào làm phương pháp cơ bản. Nhà nước XHCN chủ yếu là giáo dục, thuyết phục, động viên,
khuyến khích mọi người tham gia vào quản lý xã hội, quản lý nhà nước. Biện pháp cưỡng chế chỉ áp dụng khi cần thiết và cũng là dựa trên cơ sở thuyết phục.
10

V. KIỂU VÀ HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC 1. Kiểu nhà nước


Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại phát triển của nhà nước trong một hình
thái kinh tế - xã hội nhất đònh. Trong lòch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua và biết đến những
kiểu Nhà nước khác nhau, đó là : - Kiểu nhà nước chủ nô
- Kiểu nhà nước phong kiến - Kiểu nhà nước tư sản
- Kiểu nhà nước xã hội chủ nghóa Cơ sở để xác đònh kiểu nhà nước là các yếu tố kinh tế - xã hội tồn tại trong một
giai đoạn lòch sử nhất đònh. Các nhà kinh điển chủ nghóa Mác-Lênin khi nghiên cứu về lòch sử phát triển của nhân loại đã chia quá trình ấy thành năm hình thái kinh tế -
xã hội, trong đó hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có nhà nước. Còn lại thì cứ tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một kiểu nhà nước.
1.1. Kiểu nhà nước chủ nô Là kiểu nhà nước đầu tiên trong lòch sử. Nhà nước chủ nô hình thành dựa trên
phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ. Nhà nước chủ nô là công cụ của giai cấp chủ nô dùng để áp bức bóc lột những người nô lệ.Trong nhà nước chủ nô, người nô lệ bò
coi như một thứ tài sản, một công cụ lao động biết nói. Việc chủ nô sở hữu nhiều hay ít nô lệ là tiêu chuẩn đánh giá sự giàu có của chủ nô.
Trong nhà nước chủ nô, do quyền lực của giai cấp chủ nô quá mạnh nên sự đấu tranh của những người nô lệ chỉ nhằm mục đích thoát khỏi sự áp bức cá nhân chứ
chưa hẳn là cuộc đấu tranh giai cấp. 1.2. Kiểu nhà nước phong kiến
Nhà nước phong kiến là công cụ bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của giai cấp đòa chủ, phong kiến và để đàn áp lại giai cấp nông dân.
Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là chế độ sở hữu của giai cấp đòa chủ, phong kiến đối với tư liệu sản xuất mà chủ yếu là sở hữu về ruộng đất. Người nông
dân không có hoặc có rất ít ruộng đất nên phải phụ thuộc vào đòa chủ, phong kiến. Người nông dân bò bóc lột bằng hình thức nộp tô thuế. Tuy nhiên mức độ phụ
thuộc của người nông dân vào đòa chủ không như người nô lệ phụ thuộc vào chủ nô. Đòa vò người nông dân trong xã hội phong kiến có những ưu thế hơn so với đòa vò
người nô lệ, họ cũng được sở hữu về nhà cửa, công cụ lao động, sức kéo… mặc dù chỉ với số lượng ít. Điều này thể hiện nhà nước phong kiến đã có những tiến bộ hơn nhà
nước chủ nô.
1.3. Kiểu nhà nước tư sản
11 Giai cấp tư sản là giai cấp đã hình thành trong lòng xã hội phong kiến, họ cùng
liên kết với nông dân nổi dậy tiến hành cuộc cách mạng tư sản giành thắng lợi và lập ra nhà nước tư sản. Trong giai đoạn đầu, nhà nước tư sản có vai trò tích cực trong việc
giải phóng xã hội khỏi trật tự độc tài, chuyên chế của nhà nước phong kiến đưa đến bước phát triển nhảy vọt của xã hội loài người. Giai cấp vô sản thoạt đầu được giải
phóng nhưng do không có tư liệu sản xuất nên phải làm thuê cho giai cấp tư sản và lại bò bóc lột.
Nhà nước tư sản đã thể hiện nhiều tiến bộ như: chủ trương xây dựng thể chế dân chủ tư sản, con người được hưởng các quyền cơ bản mà nhà nước phong kiến
không có. Nhưng xuất phát từ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên nhà nước tư sản cũng là công cụ của giai cấp thống trò đối với các giai cấp và tầng lớp khác. Hiện
nay nhà nước tư sản cũng có những thích nghi nhất đònh như: có sự quan tâm nhiều đến chính sách xã hội, phúc lợi xã hội. Các phương thức quản lý của nhà nước tư sản
cũng có nhiều thay đổi, hình thức bóc lột ngày càng tinh vi hơn vì vậy bản chất nhà nước tư sản cũng khó nhận diện hơn.
1.4. Kiểu nhà nước xã hội chủ nghóa. Nhà nước xã hội chủ nghóa ra đời sau khi diễn ra cuộc cách mạng vô sản hoặc
cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ do Đảng cộng sản lãnh đạo. Nhà nước xã hội chủ nghóa tồn tại, phát triển qua nhiều giai đoạn với chức năng, nhiệm vụ khác nhau.
Nhà nước xã hội chủ nghóa luôn là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân cùng toàn thể nhân dân lao động nhằm mục đích chủ yếu là cải tạo xã hội cũ, xây
dựng xã hội mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, xoá bỏ áp bức, bóc lột, xoá bỏ giai cấp, thực hiện sự công bằng xã hội. Kiểu nhà nước XHCN có bản
chất khác hẳn với các kiểu nhà nước bóc lột trước đó.
Qua việc tìm hiểu về các kiểu nhà nước trong lòch sử, chúng ta nhận thấy kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ hơn kiểu nhà nước trước. Các kiểu nhà nước tuy
có những đặc điểm khác nhau, nhưng trong đó ba kiểu nhà nước đầu có nét chung nhất: đều là nhà nước bóc lột, bảo vệ duy trì chế độ tư hữu, vì vậy đều là nhà nước
theo đúng nghóa của nó. Kiểu nhà nước xã hội chủ nghóa là kiểu nhà nước tiến bộ và là kiểu nhà nước cuối cùng trong lòch sử xã hội loài người.
Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước khác tiến bộ hơn là quy luật tất yếu dựa trên sự vận động, phát triển, thay thế các hình thái kinh tế - xã hội mà
nhân tố làm nên sự thay thế đó chính là các cuộc cách mạng. Điều này đã được chứng minh qua các cuộc cách mạng diễn ra trong thực tiễn lòch sử.
2. Hình thức nhà nước còn gọi là mô hình nhà nước Hình thức nhà nước là vấn đề có ý nghóa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Kết
quả của việc tiến hành sự thống trò về chính trò của nhà nước phụ thuộc phần lớn vào việc giai cấp thống trò tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước theo hình thức nào.
2.1. Khái niệm hình thức nhà nước

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×