1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm

Tải bản đầy đủ - 125trang

15
3. Đặc điểm chung của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước là bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước, do đó so với các
tổ chức trong xã hội, không phải là nhà nước, thì cơ quan nhà nước có đặc điểm riêng là:
Việc thành lập, hoạt động hay giải thể của các cơ quan nhà nước đều phải tuân theo quy đònh của pháp luật. Các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động của mình
dựa trên cơ sở quy đònh của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền. Hoạt động của cơ quan nhà nước mang tính quyền lực vì cơ quan nhà nước được
giao quyền nhân danh nhà nước để thực hiện quyền lực nhà nước, cho nên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình, cơ quan nhà nước được phép
ban hành những văn bản pháp luật có tính bắt buộc thi hành đối với những tổ chức, đơn vò, cá nhân có liên quan và có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện những
văn bản do mình ban hành. Nếu tổ chức, đơn vò, cá nhân nào không thực hiện hoặc thực hiện sai đều phải chòu trách nhiệm.
16
Chương II NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

I. NGUỒN GỐC, KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT 1. Nguồn gốc pháp luật


Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội luôn gắn liền với nhau, do đó nguyên nhân về sự ra đời của Nhà nước cũng là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật.
Theo quan điểm của học thuyết Mác-Lênin về vấn đề Nhà nước và pháp luật thì xã hội loài người ở thời kỳ đầu tiên là cộng sản nguyên thủy chưa có Nhà nước, nên
cũng chưa có pháp luật. Ở thời kỳ đó, những cộng đồng người như thò tộc, bộ lạc tổ chức, duy trì cuộc sống của mình dựa trên các quy phạm xã hội như: phong tục, tập
quán, đạo đức, các tín điều tôn giáo… Những quy tắc xã hội này xuất hiện từ nhu cầu khách quan của xã hội, được mọi người chấp nhận và lưu truyền qua các thế hệ. Cuộc
sống của con người khi đó chỉ cần đến những quy tắc này là đủ vì cơ sở kinh tế của xã hội lúc bấy giờ là nền kinh tế tự nhiên, chưa có sự phân công lao động chuyên môn hóa.
Hoạt động lao động sản xuất chỉ là thu nhận những sản phẩm có sẵn từ thiên nhiên qua hoạt động săn bắt, hái, lượm… Xã hội tổ chức đơn giản nên chưa cần đến những quy tắc
phức tạp để điều chỉnh đến hành vi xử sự của con người.
Sau này, từ sự vận động và phát triển của xã hội loài người, sự cải tạo công cụ lao động của con người đã làm cho năng suất lao động tăng lên, xuất hiện sự tư hữu và
phân hóa giai cấp trong xã hội. Nền kinh tế tự nhiên được thay thế dần bằng nền kinh tế sản xuất, sự thay thế này thể hiện qua ba lần phân công lao động xã hội, các ngành
nghề chuyên môn hóa đã hình thành. Khi đó trong xã hội đòi hỏi phải có sự tổ chức ở trình độ cao hơn, cần phải có sự chỉ huy, điều hành để sắp xếp con người vào những vò
trí nhất đònh trong quá trình sản xuất.
Mặt khác, khi trong xã hội đã hình thành giai cấp đối kháng thì các quy tắc xã hội không còn phù hợp với ý chí chung của mọi người trong xã hội nữa. giai cấp có của
cũng muốn có những quy tắc mới, có sức mạnh hơn hẳn so với những quy tắc xã hội cũ để bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình, nên đã tìm cách giữ lại những tập quán có lợi, vận
dụng và biến đổi các tập quán đó sao cho có lợi cho giai cấp mình.
Khi nhà nước ra đời, giai cấp thống trò đã chọn lọc những phong tục, tập quán, tín điều tôn giáo… nào có lợi cho việc duy trì, bảo vệ lợi ích giai cấp mình, có tác dụng
trong việc duy trì trật tự chung của xã hội thì quy đònh chúng thành quy tắc xử sự chung trong xã hội, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo. Đồng thời giai cấp
thống trò còn đề ra những quy đònh mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Từ đó pháp luật đã xuất hiện.
17 Như vậy, nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội mang tính lòch sử, đều
là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Chúng chỉ ra đời và tồn tại khi trong xã hội có những điều kiện nhất đònh, điều kiện đó là có sự tư hữu, xã hội phân
chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp.
2. Khái niệm pháp luật. Từ việc nghiên cứu về nguồc gốc của pháp luật, chúng ta đi đến khái niệm về
pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí Nhà nước, được Nhà nước bảo đảm thực
hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Từ khái niệm trên, chúng ta thấy pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Pháp luật được nhà nước bảo
đảm thực hiện bằng những biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế. Pháp luật phản ánh ý chí, nội dung kinh tế của giai cấp thống trò, là yếu tố điều chỉnh các
quan hệ xã hội và là cơ sở pháp lý của đời sống xã hội.

II. BẢN CHẤT PHÁP LUẬT


Cũng giống như nhà nước, bản chất của pháp luật được thể hiện ở hai mặt: bản chất về mặt giai cấp và bản chất về mặt xã hội.
1. Bản chất giai cấp của pháp luật Theo quan điểm của học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ ra đời tồn tại và phát
triển trong xã hội có giai cấp. Bản chất pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên hay pháp luật không mang tính giai cấp”. Mác đã viết về bản
chất giai cấp của pháp luật: pháp luật là ý chí của giai cấp thống trò được đề lên thành luật, mà nội dung của nó được quy đònh bởi các điều kiện vật chất xã hội.
Qua đó chúng ta thấy bản chất giai cấp của pháp luật được thể hiện trước hết ở chỗ: pháp luật phản ánh ý chí của giai cấp thống trò. Do nắm trong tay bộ máy nhà
nước, giai cấp thống trò đã sử dụng bộ máy đó để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và trở thành ý chí nhà nước, ý chí đó được thể chế hóa thành
các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Bất cứ giai cấp nào, sau khi đã giành được chính quyền, đã chiếm đoạt được quyền lực, đều phải nhanh chóng thể chế hóa ý chí của giai cấp mình thành pháp luật và dùng
pháp luật làm hình thức để khẳng đònh vai trò thống trò của giai cấp mình đối với toàn xã hội. Như vậy, ý chí của giai cấp thống trò như thế nào thì được thể hiện trong những
quy đònh của pháp luật như thế ấy. Chẳng hạn: pháp luật của nhà nước chủ nô đã quy đònh về quyền lực vô hạn của chủ nô và tình trạng vô quyền của những người nô lệ.
Pháp luật của nhà nước phong kiến đã có những quy đònh rất hà khắc để bảo vệ đặc

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×