1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
NGUỒN GỐC, KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT 1. Nguồn gốc pháp luật

NGUỒN GỐC, KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT 1. Nguồn gốc pháp luật

Tải bản đầy đủ - 125trang

17 Như vậy, nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội mang tính lòch sử, đều
là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Chúng chỉ ra đời và tồn tại khi trong xã hội có những điều kiện nhất đònh, điều kiện đó là có sự tư hữu, xã hội phân
chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp.
2. Khái niệm pháp luật. Từ việc nghiên cứu về nguồc gốc của pháp luật, chúng ta đi đến khái niệm về
pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí Nhà nước, được Nhà nước bảo đảm thực
hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Từ khái niệm trên, chúng ta thấy pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Pháp luật được nhà nước bảo
đảm thực hiện bằng những biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế. Pháp luật phản ánh ý chí, nội dung kinh tế của giai cấp thống trò, là yếu tố điều chỉnh các
quan hệ xã hội và là cơ sở pháp lý của đời sống xã hội.

II. BẢN CHẤT PHÁP LUẬT


Cũng giống như nhà nước, bản chất của pháp luật được thể hiện ở hai mặt: bản chất về mặt giai cấp và bản chất về mặt xã hội.
1. Bản chất giai cấp của pháp luật Theo quan điểm của học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ ra đời tồn tại và phát
triển trong xã hội có giai cấp. Bản chất pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên hay pháp luật không mang tính giai cấp”. Mác đã viết về bản
chất giai cấp của pháp luật: pháp luật là ý chí của giai cấp thống trò được đề lên thành luật, mà nội dung của nó được quy đònh bởi các điều kiện vật chất xã hội.
Qua đó chúng ta thấy bản chất giai cấp của pháp luật được thể hiện trước hết ở chỗ: pháp luật phản ánh ý chí của giai cấp thống trò. Do nắm trong tay bộ máy nhà
nước, giai cấp thống trò đã sử dụng bộ máy đó để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và trở thành ý chí nhà nước, ý chí đó được thể chế hóa thành
các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Bất cứ giai cấp nào, sau khi đã giành được chính quyền, đã chiếm đoạt được quyền lực, đều phải nhanh chóng thể chế hóa ý chí của giai cấp mình thành pháp luật và dùng
pháp luật làm hình thức để khẳng đònh vai trò thống trò của giai cấp mình đối với toàn xã hội. Như vậy, ý chí của giai cấp thống trò như thế nào thì được thể hiện trong những
quy đònh của pháp luật như thế ấy. Chẳng hạn: pháp luật của nhà nước chủ nô đã quy đònh về quyền lực vô hạn của chủ nô và tình trạng vô quyền của những người nô lệ.
Pháp luật của nhà nước phong kiến đã có những quy đònh rất hà khắc để bảo vệ đặc
18 quyền, đặc lợi cho giai cấp đòa chủ phong kiến và để đàn áp nhân dân lao động. Pháp
luật nhà nước tư sản có những quy đònh rất chặt chẽ để thừa nhận và bảo vệ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất trong xã hội. Pháp luật của nhà nước XHCN thể hiện ý chí của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ để quản lý, xây dựng xã hội mới, bảo đảm quyền tự do bình đẳng cho mọi người.
2. Bản chất xã hội của pháp luật. Từ khi xuất hiện, pháp luật bao giờ cũng là công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích cho
giai cấp thống trò. Nhưng mặt khác, pháp luật còn là công cụ, phương tiện để tổ chức đời sống xã hội. Ở những mức độ khác nhau thì pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích
của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Về mặt này, pháp luật đã thể hiện bản chất xã hội. Bản chất xã hội của pháp luật được thể hiện rõ nét hay không là tuỳ thuộc vào
bản chất nhà nước đó.
Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp, vừa thể hiện tính xã hội. Hai mặt này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, mức độ “đậm, nhạt”
của hai mặt đó thường thay đổi tuỳ thuộc vào mỗi nhà nước trong từng giai đoạn lòch sử nhất đònh.
Khi nghiên cứu về bản chất của pháp luật, chúng ta cần nhận thức rằng, pháp luật tuy là ý chí của giai cấp thống trò nhưng không phải do giai cấp thống trò tự nghó ra mà
pháp luật phát sinh từ thực tiễn đời sống xã hội, cho nên pháp luật chính là sự phản chiếu thực tế khách quan, nhưng sự phản chiếu này lại thông qua ý chí chủ quan của nhà làm
luật, do đó nhà làm luật thường lựa chọn góc độ phản ánh sao cho có lợi nhất cho giai cấp mình, do đó pháp luật vừa mang tính chủ quan lại vừa mang tính khách quan.

III. THUỘC TÍNH PHÁP LUẬT


Thuộc tính của pháp luật hay còn gọi là đặc điểm đặc trưng của pháp luật. Trong xã hội có rất nhiều loại quy phạm, nhưng chỉ có quy phạm pháp luật mới có đặc điểm
riêng của nó. Nhờ có những đặc điểm này mà pháp luật có những ưu thế vượt trội hơn hẳn so với những quy phạm xã hội khác. Những đặc điểm đó thể hiện như sau:
1. Tính quy phạm và phổ biến Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, do đó những quy đònh của pháp luật là
khuôn mẫu, mô hình, là thước đo cho hành vi xử sự của con người trong xã hội. Những quy đònh của pháp luật đã xác đònh về giới hạn cần thiết mà nhà nước quy đònh để mọi
chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong giới hạn pháp luật đã cho phép. Vượt quá giới hạn đó là trái luật. Giới hạn đó được xác đònh ở nhiều khía cạnh khác nhau như: cho
phép, cấm đoán, bắt buộc. Nếu không có những khuôn mẫu, giới hạn như pháp luật đã quy đònh thì cũng không thể có cơ sở để quy kết một hành vi nào là trái hay không trái
với những quy đònh của pháp luaät.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NGUỒN GỐC, KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT 1. Nguồn gốc pháp luật

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×