1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
THUỘC TÍNH PHÁP LUẬT

THUỘC TÍNH PHÁP LUẬT

Tải bản đầy đủ - 125trang

19 Pháp luật thường điều chỉnh những mối quan hệ mang tính chất phổ biến, điển hình
và ổn đònh. Vì vậy, pháp luật có phạm vi tác động rộng lớn cả về không gian và thời gian, cho nên so với các quy phạm xã hội khác thì pháp luật mang tính phổ biến hơn.
2. Tính cưỡng chế Khi pháp luật được ban hành, mọi cơ quan, đơn vò, tổ chức, cá nhân trong xã hội
đều phải tuân theo. Việc tuân theo này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, không phụ thuộc vào nghề nghiệp, đòa vò, giới tính, tuổi tác, tôn giáo… của mọi
người. Vì vậy, pháp luật mang tính cưỡng chế.
Sở dó pháp luật có tính cưỡng chế là vì pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nhà nước lại có những biện pháp như: biện pháp về mặt kinh tế, biện
pháp về mặt tư tưởng, biện pháp về mặt tổ chức, đặc biệt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nhằm bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện. Mặc dù pháp luật có
tính cưỡng chế nhưng tính cưỡng chế của pháp luật thể hiện nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào mỗi nhà nước. Về vấn đề này, Mác đã viết: “Không phải con người sinh ra cho
pháp luật, mà pháp luật sinh ra vì con người”.
3. Tính xác đònh chặt chẽ về mặt hình thức Về hình thức bên ngoài, pháp luật được tồn tại chủ yếu là ở dạng văn bản. Các văn
bản này được ban hành theo trình tự, thủ tục nhất đònh, có tên gọi theo quy đònh. Về nội dung bên trong, các văn bản pháp luật thường được chia thành các mục,
chương, điều và được sắp xếp theo một trật tự nhất đònh. Ngôn ngữ, trong những văn bản pháp luật được thể hiện chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, một nghóa và đúng ngữ
pháp… để mọi người đều hiểu đúng và tuân theo.

IV. CHỨC NĂNG, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT 1. Chức năng của pháp luật


Pháp luật có ba chức năng: chức năng điều chỉnh, chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục.
1.1. Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội Chức năng này của pháp luật là sự tác động trực tiếp của pháp luật tới các quan
hệ xã hội bằng cách ghi nhận các quan hệ chủ yếu trong xã hội, đồng thời xác đònh những quyền và nghóa vụ pháp lý của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội
ấy. Sự điều chỉnh này nhằm tạo lập hành lang pháp lý, đònh hướng cho các quan hệ xã hội đó tồn tại, phát triển theo quy luật khách quan và phù hợp với ý chí giai cấp thống
trò xã hội.
1.2. Chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội
20 Chức năng này thể hiện pháp luật bảo vệ chính những quan hệ xã hội mà nó điều
chỉnh, ngăn cấm mọi hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội đó bằng cách quy đònh các chế tài để xử lý những hành vi đã vi phạm pháp luật. Đồng thời pháp luật còn loại trừ
những quan hệ xã hội lạc hậu, không phù hợp với bản chất của chế độ. Chức năng bảo vệ của pháp luật còn thể hiện pháp luật luôn tạo ra và bảo đảm cho trật tự xã hội luôn
được ổn đònh và bền vững.
1.3. Chức năng giáo dục Do pháp luật có tính cưỡng chế, đồng thời khi nhà nước ban hành pháp luật, nhà
nước lại có những biện pháp nhằm tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người. Qua đó đã tác động đến nhận thức của con người, hướng con
người tới cách xử sự hợp lý, thể hiện sự tôn trọng pháp luật, có ý thức sống và làm việc theo pháp luật.
2. Vai trò của pháp luật Từ những thuộc tính của mình, pháp luật có rất nhiều vai trò trong đời sống xã hội.
Trong đó có những vai trò cơ bản là: 2.1. Pháp luật là phương tiện chủ yếu để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội
Nhà nước là đại diện chính thức của toàn thể xã hội, vì vậy nhà nước có chức năng quản lý các mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục… Để thực hiện được chức năng này, nhà
nước thường sử dụng nhiều phương tiện và biện pháp khác nhau. Trong những biện pháp đó thì việc dùng pháp luật để quản lý mọi mặt đời sống xã hội là quan trọng nhất.
Bởi vì xuất phát từ những thuộc tính cơ bản của pháp luật, cho nên pháp luật đã thể hiện những ưu thế vượt trội hơn hẳn so với những quy phạm khác trong xã hội. Từ ưu
thế đó, pháp luật có khả năng triển khai những chủ trương chính sách của Nhà nước một cách nhanh nhất, đồng bộ nhất, hiệu quả nhất, trên quy mô rộng lớn nhất.
Khi nói đến vai trò này của pháp luật, tại Điều 12 của Hiến pháp năm 1992 nước ta đã khẳng đònh: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế XHCN”. 2.2. Pháp luật là phương tiện bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Nhìn chung, pháp luật của các nhà nước đều quy đònh về các quyền, nghóa vụ cơ bản của công dân và bảo đảm cho công dân thực hiện được các quyền và lợi ích của
mình, tuy nhiên việc bảo đảm này còn thể hiện ở những mức độ khác nhau, tùy theo mỗi nhà nước. Khi công dân thực hiện các quyền và lợi ích của mình phải trong khuôn
khổ quy đònh của pháp luật, không được lạm dụng mà gây tổn hại đến lợi ích chung của xã hội, đến lợi ích của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Để bảo đảm các quyền và
lợi ích của công dân, pháp luật còn quy đònh về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước, chống thái độ vô trách nhiệm, hách dòch, quan liêu,
cửa quyền… mà gây ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THUỘC TÍNH PHÁP LUẬT

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×