1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
Tính đồng bộ.

Tính đồng bộ.

Tải bản đầy đủ - 125trang

41 - Yêu cầu cụ thể: Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật còn được xác đònh bởi sự
đồng bộ ngay trong bản thân từng ngành luật cụ thể. Sự thống nhất giữa các quy phạm pháp luật và các chế đònh pháp luật trong cấu trúc của ngành luật tạo ra lôgic nhất quán
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

3.3. Tính phù hợp:


Tính phù hợp của hệ thống pháp luật đòi hỏi một hệ thống pháp luật phải được xây dựng phù hợp với những điều kiện cụ thể của xã hội trong mỗi giai đoạn lòch sử nhất
đònh, xã hội nào, pháp luật ấy. Do vậy, trình độ của hệ thống pháp luật không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển của kinh tế xã hội. Một hệ thống pháp luật dù
được xây dựng khá toàn diện, đồng bộ không có mâu thuẫn chồng chéo nhưng lại không phù hợp với trình độ phát triển của xã hội là một hệ thống ảo. Như vậy, pháp luật chỉ
thực hiện tốt chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội khi nó có tính phù hợp.
3.4. Trình độ kỹ thuật pháp lý. Kỹ thuật pháp lý là tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong
quá trình soạn thảo và hệ thống hoá pháp luật, chứa đựng các nguyên tắc, các quy tắc khoa học nhằm đảm bảo cho pháp luật có đầy đủ các khả năng để điều chỉnh có hiệu
quả các quan hệ xã hội.
Một hệ thống pháp luật hoàn thiện còn phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao. Đây là một quá trình mang tính công nghệ, do đó ta phải chú ý tới các vấn
đề: xác đònh phương pháp phát hiện các nhu cầu điều chỉnh pháp luật phải chính xác phù hợp. Sau đó phải tiến hành điều tra, khảo cứu, xác đònh mục tiêu của vấn đề, chọn
hình thức thể hiện. Sử dụng ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô động, lôgic, chính xác và một nghóa. Từ đó xây dựng các quy phạm, các chế đònh và dự thảo văn bản,
kiểm nghiệm dự thảo văn bản trên thực tế, giám đònh văn bản…

II. QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái niệm và đặc điểm của quy phạm pháp luật.


1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật.


Trong xã hội con người phải biết liên kết với nhau thành những cộng đồng. Và những cộng đồng người này để đạt được những mục đích nhất đònh cho sự tồn tại và
phát triển xã hội cần phải có nhu cầu điều chỉnh. Để điều chỉnh được những hoạt động của các cá nhân riêng rẽ con người phải đưa ra những quy tắc xử sự làm mẫu để bất kỳ
ai khi ở vào những hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu cũng xử sự như vậy.
Đời sống xã hội rất phong phú và đa dạng nên đòi hỏi phải đặt ra những quy tắc xử sự khác nhau để điều chỉnh hành vi của con người. Những quy tắc xử sự được sử
dụng nhiều lần trong đời sống xã hội chúng được gọi là quy phạm.
42 Có hai loại quy phạm là quy phạm xã hội và quy phạm kó thuật. Trong đó các quy
phạm xã hội có vai trò rất quan trọng, không thể thiếu trong đời sống xã hội, là phương tiện để quản lí xã hội. Quy phạm xã hội là những quy tắc xử sự được hình thành trong
quá trình hoạt động của con người, chúng được dùng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội giữa người với người. Còn quy phạm kó thuật là loại quy tắc dựa trên nhận thức về
các quy luật tự nhiên, điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với máy móc.
Trong xã hội tồn tại rất nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm tập quán, quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm của các tổ chức chính trò xã hội,
quy phạm phap luật… Các quy phạm này có những đặc tính khác nhau nhưng chúng liên quan mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Trong xã hội có giai cấp thì quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng nhất đối với việc duy trì trật tự xã hội, tạo điều kiện cho xã hội ổn đònh và phát triển.
Từ sự phân tích ở trên, chúng ta có thể đònh nghóa quy phạm pháp luật như sau: “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện
để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những đònh hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất đònh”.
1.2 Đặc điểm của quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, vì vậy nó vừa mang đầy đủ các
đặc tính chung vốn có của các quy phạm xã hội, vừa có những thuộc tính riêng của mình. Cụ thể là:
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự: Quy phạm pháp luật là khuôn mẫu cho hành vi của con người, hướng dẫn hành vi của con người theo những “hành lang” nhất đònh.
Quy phạm pháp luật đã chỉ ra cách xử sự và xác đònh các phạm vi xử sự của con người cũng như những hậu quả bất lợi gì nếu như không thực hiện đúng những mô hình hành
vi đó. Quy phạm pháp luật là tiêu chuẩn để xác đònh giới hạn và đánh giá hành vi của con người. Thông qua quy phạm pháp luật, chúng ta mới biết được hoạt động nào của
các chủ thể có ý nghóa pháp lý, hoạt động nào là phù hợp pháp luật và hoạt động nào là trái pháp luật. Ví dụ như: để xác đònh vi phạm hình sự hay vi phạm hành chính chúng ta
phải căn cứ vào các quy phạm của pháp luật hình sự và pháp luật hành chính.
- Quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Đây là thuộc tính thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa quy phạm pháp luật với các loại quy phạm
xã hội khác. Chỉ có quy phạm pháp luật mới do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn, thể hiện ý chí nhà nước ý chí của giai cấp cầm quyền
trong việc điều chỉnh cac quan hệ xã hội. Nhà nước áp đặt ý chí của mình trong quy phạm pháp luật bằng cách xác đònh những tổ chức, cá nhân nào trong những điều kiện, hoàn
cảnh nào phải chòu sự tác động của quy phạm pháp luật, những quyền và nghóa vụ pháp lý mà họ có và những biện pháp cưỡng chế mà họ buộc phải gánh chòu.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính đồng bộ.

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×