1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
Hiệu lực theo thời gian:

Hiệu lực theo thời gian:

Tải bản đầy đủ - 125trang

49
Hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật được xác đònh từ thời điểm
phát sinh cho đến khi chấm dứt sự tác động của văn bản đó. 6.1.1 Thời điểm phát sinh hiệu lực:
Thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật thường được thể hiện theo hai cách: ghi rõ trong văn bản và không ghi rõ trong văn bản.
- Trường hợp có ghi rõ ngày tháng năm phát sinh hiệu lực thì thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản kể từ ngày đó.
- Trường hợp trong văn bản không ghi cụ thể thời gian phát sinh hiệu lực thì thời điểm phát sinh được xác đònh như sau:
+ Luật, nghò quyết của Quốc Hội và pháp lệnh, nghò quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành sẽ có hiệu lực kể từ ngày Chủ tòch nước ký lệnh công bố, trừ trường
hợp có quy đònh khác. + Lệnh, quyết đònh của Chủ tòch nước có hiệu lực kể từ ngày đăng công báo, trừ
trường hợp có quy đònh khác. + Các văn bản do các cơ quan nhà nước khác ở trung ương ban hành có hiệu lực
sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo hoặc muộn hơn nếu được quy đònh tại văn bản đó. Riêng đối với văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và
UBND cấp tỉnh ban hành để áp dụng các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp thì thời điểm có hiệu lực được quy đònh ngay tại văn bản đó, không phụ thuộc vào ngày
đăng công báo.
6.1.2 Thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xác đònh
như sau Theo điều 78 – Luật ban hành văn bản quy phạm phạm pháp luật: + Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy đònh trong văn bản.
+ Được thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó.
+ Bò hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. + Văn bản quy đònh chi tiết, hướng dẫn thi hành của văn bản hết hiệu lực cũng
đồng thời hết hiệu lực cùng với văn bản đó, trừ trường hợp được giữ lại toàn bộ hoặc một phần vì còn phù hợp với các quy đònh của văn bản quy phạm pháp luật mới.
- Văn bản quy phạm pháp luật cũng có thể bò ngưng hiệu lực khi nó bò đình chỉ thi hành cho đến khi có quyết đònh xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau thời gian
bò đình chỉ thì văn bản đó sẽ tiếp tục có hiệu lực hoặc khi bò hủy bỏ nó sẽ hết hiệu lực. 6.1.3 Hiệu lực hồi tố hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật
50 Để củng cố pháp chế XHCN, pháp luật không thừa nhận hoặc áp dụng phổ biến
hiệu lực hồi tố của văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong những trường hợp thật cần thiết, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo XHCN nhà làm luật cần dự liệu chính xác
để sử dụng hiệu lực hồi tố trong một số quy phạm cụ thể. Pháp luật Việt Nam quy đònh không được quy đònh hiệu lực hồi tố đối với các trường hợp:
- Một là: quy đònh trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy đònh trách nhiệm pháp lý.
- Hai là: quy đònh trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

6.2 Hiệu lực theo không gian:


Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn phạm vi tác động của văn bản về mặt không gian, có thể là toàn bộ lãnh thổ quốc gia, một vùng hoặc
một đòa phương nhất đònh. Hiệu lực về không gian được xác đònh theo hai cách cơ bản: ghi rõ trong văn bản và không ghi rõ trong văn bản.
- Đối với những văn bản đã có điều khoản xác đònh rõ hiệu lực về thời gian đó thì phải dựa vào thẩm quyền và nội dung các quy phạm trong văn bản để xác đònh:
+ Thường những văn bản do các cơ quan ở trung ương ban hành có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên cũng có những văn bản để điều chỉnh một số quan
hệ ở miền núi, hải đảo thì chỉ áp dụng cho những vùng đó. + Những văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành
chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền của các cơ quan đó.

6.3 Hiệu lực theo đối tượng tác động.


Hiệu lực theo đối tượng tác động là giới hạn phạm vi các cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ thi hành văn bản. Việc xác đònh hiệu lực theo đối tượng tác động được quy
đònh như sau: - Thông thường các văn bản quy phạm pháp luật tác động đến tất cả các đối tượng
nằm trong phạm vi lãnh thổ mà văn bản đó có hiệu lực về thời gian và không gian. - Đối với những văn bản quy đònh những lónh vực, ngành nghề khác nhau thì đối
tượng tác động chỉ là những cá nhân, tổ chức hoạt động trong các lónh vực, ngành nghề đó. - Trong những trường hợp nhất đònh văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam còn
có hiệu lực đối với người nước ngoài và người không quốc tòch ở Việt Nam trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy đònh khác.
Tóm lại, việc xác đònh rõ hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật cả về ba mặt thời gian, không gian và đối tượng tác động là một trong những tiền đề quan trọng, bảo
đảm hiệu quả điều chỉnh của văn bản, giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật.
51
Chương V QUAN HỆ PHÁP LUẬT
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT 1. Khái niệm quan hệ pháp luật
Trong đời sống xã hội, xuất phát từ hành vi xử sự của con người đã làm xuất hiện rất nhiều quan hệ xã hội. Các quan hệ này rất đa dạng, phong phú như: quan hệ hôn nhân -
gia đình, quan hệ lao động, quan hệ tài sản, quan hệ chính trò, đạo đức… Các quan hệ này được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội và quy phạm pháp luật. Nhưng trong đó Nhà
nước dùng quy phạm pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội chủ yếu, hay còn gọi là những mối quan hệ xã hội phổ biến và điển hình, nhằm bảo đảm cho chúng phát triển
phù hợp với quy luật khách quan và phù hợp với ý chí và lợi ích của nhà nước. Việc nhà nước dùng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, đã làm cho các quan
hệ xã hội ấy có tính chất pháp lý, nghóa là pháp luật quy đònh cho các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội đó có những quyền và nghóa vụ nhất đònh.
Từ đó chúng ta có khái niệm: Quan hệ pháp luật là những quan hệ nảy sinh trong đời sống xã hội, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó các chủ thể tham gia
có những quyền và nghóa vụ được pháp luật quy đònh và bảo đảm thực hiện.
2. Đặc điểm của quan hệ pháp luật 2.1. Quan hệ pháp luật là loại quan hệ có ý chí
Trước hết, quan hệ pháp luật luôn phản ánh ý chí nhà nước. Do quan hệ pháp luật
hình thành dựa trên cơ sở quy đònh của quy phạm pháp luật, mà nội dung của quy phạm pháp luật luôn thể hiện ý chí nhà nước. Việc nhà nước quy đònh về quyền và nghóa cơ
bản của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật là nhằm hướng các chủ thể này có cách xử sự phù hợp với ý chí nhà nước.
Quan hệ pháp luật còn phản ánh ý chí của các bên chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Do các bên chủ thể muốn đạt được những mục đích hay thoả mãn nhu cầu
nhất đònh, nên họ mới thực hiện những hành vi xử sự, từ đó làm xuất hiện hay thay đổi những quan hệ pháp luật. Ví dụ: xuất phát từ những mục đích, nhu cầu nhất đònh nào đó
nên trước khi lên lớp học sinh viên đã gởi xe cho người nhận giữ xe. Từ những hành vi gửi và nhận giữ xe đó đã làm hình thành một quan hệ pháp luật, gọi là quan hệ gửi giữ
tài sản. Qua đó, quan hệ pháp luật luôn thể hiện ý chí của các bên tham gia.
2.2. Quan hệ pháp luật xuất hiện dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật Quan hệ pháp luật khác với quan hệ xã hội nói chung là được điều chỉnh bởi quy
phạm pháp luật, từ sự điều chỉnh này đã làm nảy sinh những quan hệ pháp luật trong các lónh vực hình sự, hành chính, dân sự và kỉ luật.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hiệu lực theo thời gian:

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×