1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
Hiệu lực theo đối tượng tác động.

Hiệu lực theo đối tượng tác động.

Tải bản đầy đủ - 125trang

51
Chương V QUAN HỆ PHÁP LUẬT
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT 1. Khái niệm quan hệ pháp luật
Trong đời sống xã hội, xuất phát từ hành vi xử sự của con người đã làm xuất hiện rất nhiều quan hệ xã hội. Các quan hệ này rất đa dạng, phong phú như: quan hệ hôn nhân -
gia đình, quan hệ lao động, quan hệ tài sản, quan hệ chính trò, đạo đức… Các quan hệ này được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội và quy phạm pháp luật. Nhưng trong đó Nhà
nước dùng quy phạm pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội chủ yếu, hay còn gọi là những mối quan hệ xã hội phổ biến và điển hình, nhằm bảo đảm cho chúng phát triển
phù hợp với quy luật khách quan và phù hợp với ý chí và lợi ích của nhà nước. Việc nhà nước dùng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, đã làm cho các quan
hệ xã hội ấy có tính chất pháp lý, nghóa là pháp luật quy đònh cho các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội đó có những quyền và nghóa vụ nhất đònh.
Từ đó chúng ta có khái niệm: Quan hệ pháp luật là những quan hệ nảy sinh trong đời sống xã hội, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó các chủ thể tham gia
có những quyền và nghóa vụ được pháp luật quy đònh và bảo đảm thực hiện.
2. Đặc điểm của quan hệ pháp luật 2.1. Quan hệ pháp luật là loại quan hệ có ý chí
Trước hết, quan hệ pháp luật luôn phản ánh ý chí nhà nước. Do quan hệ pháp luật
hình thành dựa trên cơ sở quy đònh của quy phạm pháp luật, mà nội dung của quy phạm pháp luật luôn thể hiện ý chí nhà nước. Việc nhà nước quy đònh về quyền và nghóa cơ
bản của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật là nhằm hướng các chủ thể này có cách xử sự phù hợp với ý chí nhà nước.
Quan hệ pháp luật còn phản ánh ý chí của các bên chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Do các bên chủ thể muốn đạt được những mục đích hay thoả mãn nhu cầu
nhất đònh, nên họ mới thực hiện những hành vi xử sự, từ đó làm xuất hiện hay thay đổi những quan hệ pháp luật. Ví dụ: xuất phát từ những mục đích, nhu cầu nhất đònh nào đó
nên trước khi lên lớp học sinh viên đã gởi xe cho người nhận giữ xe. Từ những hành vi gửi và nhận giữ xe đó đã làm hình thành một quan hệ pháp luật, gọi là quan hệ gửi giữ
tài sản. Qua đó, quan hệ pháp luật luôn thể hiện ý chí của các bên tham gia.
2.2. Quan hệ pháp luật xuất hiện dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật Quan hệ pháp luật khác với quan hệ xã hội nói chung là được điều chỉnh bởi quy
phạm pháp luật, từ sự điều chỉnh này đã làm nảy sinh những quan hệ pháp luật trong các lónh vực hình sự, hành chính, dân sự và kỉ luật.
52 Thông qua quy phạm pháp luật, nhà nước quy đònh những mối quan hệ pháp lý
giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, ràng buộc giữa các chủ thể ấy những quyền và nghóa vụ mang tính bắt buộc.
2.3. Quan hệ pháp luật luôn gắn liền với sự kiện pháp lý Sự tác động của quy phạm pháp luật để làm nảy sinh quan hệ pháp luật là một cơ
chế rất phức tạp. Quy phạm pháp luật chỉ có thể làm nảy sinh quan hệ pháp luật giữa các chủ thể khi gắn liền với những sự kiện pháp lý. Nghóa là mặc dù đã có quy phạm
pháp luật điều chỉnh để một quan hệ xã hội trở thành quan hệ pháp luật rồi, nhưng chỉ khi có sự kiện pháp lý xuất hiện, thì mới làm cho quan hệ pháp luật nảy sinh, thay đổi
hay chấm dứt. Ví dụ: Do có quy phạm pháp luật điều chỉnh nên đã có quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình. Nhưng chỉ khi Ủy ban nhân dân tiến hành hoạt động đăng kí
kết hôn cho người nam và người nữ, thì quan hệ vợ chồng mới được xác lập.

II. THÀNH PHẦN CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT


Về mặt cấu trúc, quan hệ pháp luật bao gồm các thành phần: chủ thể, khách thể và nội dung.
1. Chủ thể quan hệ pháp luật Chủ thể của quan hệ pháp luật là những cá nhân hay tổ chức có đủ điều kiện do
pháp luật quy đònh khi tham gia vào quan hệ pháp luật nhất đònh. Chủ thể quan hệ pháp luật là khái niệm để chỉ các bên tham gia quan hệ pháp luật, có những quyền và nghóa
vụ do pháp luật quy đònh. Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, cá nhân hay tổ chức đều phải bảo đảm có đủ năng lực chủ thể. Năng lực chủ thể không phải là thuộc
tính tự nhiên của cá nhân hay tổ chức mà chúng chỉ xuất hiện trên cơ sở quy đònh của pháp luật. Thông qua quy đònh của pháp luật mới xác đònh được cá nhân hay tổ chức có
đủ năng lực để được tham gia hoặc phải tham gia vào quan hệ pháp luật nhất đònh.
Xét theo góc độ pháp lý, năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật thể hiện ở hai yếu tố: năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
1.1. Năng lực pháp luật của chủ thể Là khả năng của chủ thể có được những quyền hay có nghóa vụ pháp lý mà nhà
nước quy đònh cho cá nhân, tổ chức nhất đònh. Năng lực pháp luật của chủ thể có từ khi chủ thể xuất hiện, cụ thể như sau:
- Năng lực pháp luật của cá nhân do pháp luật quy đònh. Nó xuất hiện kể từ khi cá nhân sinh ra và chỉ mất đi khi cá nhân đó chết. Năng lực pháp luật của cá nhân ngày
càng được mở rộng cùng với quá trình lớn lên, trưởng thành của cá nhân đó. Ví dụ: theo quy đònh của pháp luật, cá nhân khi sinh ra đã có ngay quyền được bảo đảm về tính
mạng, sức khỏe, chỗ ở, quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục… hoặc tại điều 14, điều 15, điều 16 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy đònh về năng lực pháp luật dân sự của
cá nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự.
53 - Năng lực pháp luật của tổ chức xuất hiện từ khi tổ chức đó được thành lập hợp
pháp và chỉ mất đi khi tổ chức đó không còn tồn tại. 1.2. Năng lực hành vi của chủ thể
Là khả năng của chủ thể thực hiện được hành vi, nhận thức được hậu quả từ hành vi đó và chòu trách nhiệm về hậu quả từ hành vi đó.
- Đối với chủ thể là cá nhân: Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình,
thực hiện quyền và nghóa vụ pháp lý trong những quan hệ pháp luật xác đònh. Như vậy, để có khả năng thực hiện được những quyền và nghóa vụ pháp lý ấy, đòi hỏi cá nhân
phải có đủ hai điều kiện: đã đến độ tuổi do pháp luật quy đònh và có trí óc bình thường trong khi thực hiện hành vi tham gia vào quan hệ pháp luật.
Cụ thể về hai điều kiện đó như sau: + Điều kiện về độ tuổi của cá nhân:
Theo quy đònh của pháp luật, cá nhân phải đạt đến độ tuổi nhất đònh thì mới có thể
tham gia vào quan hệ pháp luật nhất đònh. Tuỳ theo tính chất của từng quan hệ pháp luật hoặc từng nhóm quan hệ pháp luật mà độ tuổi của cá nhân được pháp luật quy đònh
ở các mức tối thiểu khác nhau. Ví dụ ở nước ta, muốn tham gia vào quan hệ hôn nhân thì người nam phải từø 20 tuổi trở lên và người nữ phải từ đủ18 tuổi trở lên; trong quan
hệ pháp luật lao động thì người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên mới có thể tham gia vào những quan hệ lao động nhất đònh; trong quan hệ pháp luật hình sự, tại Điều 12 Bộ luật
hình sư quy đònh: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chòu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm”. “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chòu trách nhiệm
hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. Theo quy đònh tại Điều 19, 22, 23 Bộ luật dân sự năm 2005 nước ta thì người từ đủ 18 tuổi trở
lên, còn gọi là người đã thành niên, không bò bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, là người có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ để tham gia vào đa số các quan hệ pháp luật…
Nhìn chung, đa số các quốc gia đều lấy độ tuổi 18 để xác đònh cá nhân có năng lực hành vi để được tham gia hoặc phải tham gia vào đa số các quan hệ pháp luật nói
chung. Như vậy, đối với chủ thể là cá nhân thì năng lực hành vi sẽ xuất hiện muộn hơn so với năng lực pháp luật.
+ Điều kiện có trí óc bình thường trong khi thực hiện hành vi: Là cá nhân không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức và khả năng làm chủ hành vi của mình trong khi cá nhân thực hiện những hành vi nhằm tham gia vào quan hệ pháp luật nhất đònh. Ví dụ: Điều 13 Bộ luật
hình sự năm 1999 quy đònh: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh nào khác, làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chòu trách nhiệm hành sự…”.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hiệu lực theo đối tượng tác động.

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×