1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 1. Khái niệm thực hiện pháp luật

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 1. Khái niệm thực hiện pháp luật

Tải bản đầy đủ - 125trang

60 thân họ chưa nhận thức được đầy đủ các yêu cầu của pháp luật. Còn có thể những hành
vi hợp pháp được thực hiện do kết quả của việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do lo sợ bò áp dụng những biện pháp đó.

2. Các hình thức thực hiện pháp luật


Các quy phạm pháp luật rất phong phú cho nên những hình thức thực hiện chúng cũng rất phong phú và đa dạng. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật,
khoa học pháp lý đã xác đònh những hình thức thực hiện pháp luật sau đây: 2.1. Tuân thủ pháp luật
Tuân thủ pháp luật xử sự thụ động là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn
cấm. Những quy phạm pháp luật cấm trong luật hình sự, luật hành chính… được thực hiện dưới hình thức này.
Tương ứng với hình thức tuân thủ pháp luật, có loại quy phạm pháp luật cấm đoán. Đây là hình thức khá phổ biến, hàng ngày mọi chủ thể vẫn thực hiện. Khi chủ thể
tự kiềm chế, không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm là đã thực hiện pháp luật. Ví dụ: không buôn bán các chất ma tuý, không trộm cắp tài sản của người khác,
không chạy xe quá tốc độ quy đònh, không vượt đèn đỏ…
2.2. Thi hành pháp luật Thi hành chấp hành pháp luật là một hình thức thực hòên pháp luật, trong đó
các chủ thể pháp luật phải thực hiện những hành vi nhất đinh nhằm thi hành các nghóa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Những quy phạm pháp luật bắt buộc quy
đònh nghóa vụ phải thực hiện những hành vi tích cực nhất đònh được thực hiện ở hình thức này.
Tương ứng với hình thức thi hành pháp luật này, có loại quy phạm pháp luật bắt buộc. Ở hình thức này, đòi hỏi chủ thể phải có cách xử sự tích cực nhằm thực hiện
những hành vi mà pháp luật yêu cầu phải làm. Đây là hình thức có tính bắt buộc vì chủ thể không muốn, cũng phải thực thi.
Mọi người đều là chủ thể của hình thức thi hành pháp luật này, nhưng chỉ thực hiện hành vi trong những tình huống cụ thể. Có nghóa là quan hệ pháp luật cụ thể, có
liên quan đến chủ thể nào thì chủ thể đó mới phải thực hiện. Ở hình thức này, chủ thể có nghóa vụ thường phải tìm hiểu pháp luật, do đó pháp luật được nhận diện dễ nhất. Ví
dụ: người kinh doanh phải thực hiện nghóa vụ đóng thuế cho nhà nước theo quy đònh; công dân A phải thực hiện nghóa vụ quân sự khi có giấy báo nhập ngũ; bác só, y tá phải
cấp cứu bệnh nhân…
2.3. Sử dụng pháp luật
61 Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép. Những quy phạm pháp luật quy đònh các quyền và tự do dân chủ của công dân
được thực hiện ở hình thức này. Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thề pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý
chí của mình, chứ không bò ép buộc phải thực hiện.
Tương ứng với hình thức sử dụng pháp luật này, có loại quy phạm pháp luật cho phép. Nếu như trong hai hình thức nêu trên, hoạt động thực hiện pháp luật là mang tính
bắt buộc đối với chủ thể, thì ở hình thức thứ ba này lại không có tính bắt buộc, mà chủ thể được tuỳ ý trong việc thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép, dùng pháp luật
như một công cụ để hiện thực hóa các quyền và lợi ích của mình.
Tuỳ thuộc vào ý chí của chủ thể có quyền, họ có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình. Nhưng nếu chủ thể không thực hiện quyền của mình thì sẽ không
tạo điều kiện cho chủ thể khác thực hiện nghóa vụ của họ. Vì vậy, hình thức sử dụng pháp luật này phải được truyền bá rộng rãi, để mọi chủ thể cùng tích cực thực hiện,
nhằm ngăn chặn, hạn chế những vi phạm pháp luật do chủ thể khác không thực hiện theo đúng nghóa vụ của họ. Ví dụ: cán bộ có thẩm quyền đã cấp đất sai đối tượng, khi
mọi người phát hiện, cần phải thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình để người có thẩm quyền cấp đất ấy phải thực hiện đúng nghóa vụ của họ.
2.4. Áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông
qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy đònh của pháp luật; hoặc tự mình căn cứ vào các quy đònh của pháp
luật để tạo ra các quyết đònh làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Trong trường hợp này các chủ thể pháp luật thực hiện các quy đònh
của pháp luật có sự can thiệp của nhà nước. Ví dụ như cơ quan có thẩm quyền ra quyết đònh xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ thể đã có hành vi vi phạm hành chính; Tòa
án ra bản án xét xử người phạm tội…
Nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình
thức luôn luôn có sự tham gia của nhà nước thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền. Vì vậy, áp dụng pháp luật là một hình thức rất quan trọng của thực hiện
pháp luật cần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
Áp dụng pháp luật là hình thức rất quan trọng trong các hình thức thực hiện pháp luật. Nó không chỉ là hình thức thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, mà còn là
những hoạt động của cơ quan nhà nước. Áp dụng pháp luật được thực hiện trong những trường hợp sau đây:
62 - Trường hợp 1: Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc áp dụng
các chế tài pháp luật đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Ví dụ một chủ thể pháp luật thực hiện hành vi phạm tội thì không phải ngay sau đó trách nhiệm hình sự
tự động phát sinh và người phạm tội tự giác chấp hành hình phạt tương ứng. Vì vậy, cần có hoạt động của tòa án và các cơ quan bảo vệ pháp luật có liên quan nhằm điều tra, đối
chiếu với pháp luật để xét xử, ra bản án trong đó ấn đònh trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và buộc họ phải chấp hành bản án đó.
- Trường hợp 2: Khi những quyền và nghóa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước. Ví dụ: Điều
55 Hiến pháp năm 1992 quy đònh “Lao động là quyền và nghóa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động”. Nhưng
quan hệ pháp luật lao động với những quyền và nghóa vụ lao động cụ thể giữa một công dân với một cơ quan, tổ chức nhà nước chỉ phát sinh khi có quyết đònh của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tuyển dụng người công dân đó vào làm việc.
Qua đó, thấy rằng trên thực tế nếu càng hạn chế về những hoạt động can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật bao nhiêu thủ tục
càng đơn giản thì càng tạo điều kiện cho các chủ thể dễ dàng trong việc thực hiện quyền và nghóa vụ của họ. Ví dụ: thủ tục làm giấy khai sinh cho trẻ hiện nay một số
trường hợp không cần thiết phải có giấy chứng sinh của cơ quan Y tế.
- Trường hợp 3: Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghóa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không tự giải quyết được. Trong trường
hợp này, quan hệ pháp luật đã phát sinh, nhưng quyền và nghóa vụ của các bên không được thực hiện và có sự tranh chấp. Ví dụ: tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng
dân sự hoặc hợp đồng thương mại…
- Trường hợp 4: Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát họat động của các bên tham gia vào quan hệ đó hoặc
nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế. Ví dụ: việc xác nhận di chúc, chứng thực hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thế chấp để vay
vốn ngân hàng…
Tóm lại, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có
thẩm quyền nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội. Nó vừa là một hình thức thực hiện pháp
luật, vừa là cách thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật.

II. VI PHẠM PHÁP LUẬT


1. Khái niệm vi phạm pháp luật


63 Trong đời sống của mình, con người đã thực hiện rất nhiều hành vi nhằm tác
động vào tự nhiên và xã hội. Hành vi của con người là những hoạt động có ý thức, có đònh hướng mục đích rõ ràng. Khoa học pháp lý không xem xét tất cả các loại hành vi
của con người, mà chỉ xem xét những hành vi có ý nghóa đối với việc xác lập, làm thay đổi hay chấm dứt những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Những hành vi này
là bộ phận quan trọng tạo thành sự kiện pháp lý. Hành vi của con người thường được phân thành hai loại: hành vi hợp pháp và hành vi không hợp pháp.
Hành vi hợp pháp là hành vi tuân thủ, thực hiện đúng những quy đònh của pháp luật. Hành vi không hợp pháp là những hành vi không phù hợp với quy đònh của pháp
luật còn goi đó là những hành vi vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách
nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Trong xã hội có giai cấp luôn tồn tại những lợi ích khác nhau. Mặt khác,
nhận thức của con người về bổn phận của mình đối với xã hội cũng rất khác nhau. Cho nên không phải khi nào các chủ thể pháp luật cũng luôn xử sự đúng với yêu
cầu của pháp luật. Vì thế vi phạm pháp luật là điều khó có thể tránh khỏi trong một xã hội có pháp luật.

2. Các dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật


2.1. Vi phạm pháp luật là hành vi xác đònh của con người, hành vi đó đã thể hiện ra thực tế khách quan.
Như chúng ta đã biết các quy đònh của pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người. Cho nên, vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi của con
người hoặc là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội… các chủ thể pháp luật. Hành vi đó đã gây ra nguy hiểm hoặc có thể gây ra nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi đó đã thể hiện ở dạng hành vi hành động hoặc hành vi không hành động của các chủ thể pháp luật. Trong đó, hành vi hành động là hành vi đã làm những việc
mà pháp luật cấm. Ví dụ: hành vi trộm cắp tài sản của người khác, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hành vi sử dụng tài liệu không được phép trong khi làm bài thi… Hành
vi không hành động là hành vi không làm những việc mà pháp luật bắt buộc phải làm. Ví dụ: hành vi không đóng thuế theo quy đònh của pháp luật, hành vi không tố giác tội
phạm, hành vi cố ý không trả tài sản đã mượn theo đúng thời hạn cam kết…
Pháp luật không điều chỉnh những suy nghó hoặc những đặc tính cá nhân của con người nếu như những đặc tính đó không biểu hiện thành các hành vi cụ thể của họ. Vì
đó không phải là hành vi thực tế khách quan. Về vấn đề này Mác đã viết: “Ngoài hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là
đối tượng của nó. Những hành vi của tôi – đó là lónh vực duy nhất trong đó tôi đụng chạm với pháp luật, bởi vì hành vi là cái duy nhất vì nó mà tôi đòi quyền tồn tại, quyền
hiện thực và như vậy là do nó mà tôi rơi vào quyền lực của pháp luật hiện haønh”.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 1. Khái niệm thực hiện pháp luật

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×