1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Tải bản đầy đủ - 125trang

70 - Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý chỉ do các cơ quan nhà nước hay nhà chức
trách có thẩm quyền cơ quan quản lý nhà nước, Tòa án... tiến hành đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Nó thể hiện ở việc nhà nước thông qua các cơ quan hay nhà chức
trách có thẩm quyền theo thủ tục, trình tự luật đònh yêu cầu chủ thể bò truy cứu trách nhiệm pháp lý phải gánh chòu những hậu quả pháp lý bất lợi về nhân thân, về tài sản, về
tự do… đã được quy đònh trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật.
- Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng với chủ thể đã vi phạm pháp luật. Truy cứu
trách nhiệm pháp lý về thực chất là áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy đònh trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi
phạm pháp luật. Tuy nhiên, bản thân trách nhiệm pháp lý không phải là sự cưỡng chế nhà nước mà chỉ là nghóa vụ phải gánh chòu những biện pháp cưỡng chế nhà nước do
pháp luật quy đònh. Chủ thể vi phạm pháp luật bò nhà nước áp dụng những biện pháp cưỡng chế được quy đònh ở trong bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật. Như vậy, về
nội dung thì trách nhiệm pháp lý là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật, còn về hình thức thì đó là việc nhà nước tổ chức cho các
chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là có một số biện pháp cưỡng chế được nhà nước áp dụng không liên quan gì tới trách nhiệm pháp lý, nghóa là nó được áp dụng cả khi không
xẩy ra vi phạm pháp luật. Chẵng hạn nhà nước có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm cách ly một số người mắc một số bệnh truyền nhiễm; nhà nước có thể áp dụng
biện pháp trưng mua, trưng dụng một số tài sản nào đó khi thấy cần thiết vì lợi ích của quốc gia…
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một quá trình hoạt động phức tạp của các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền trong việc xem xét, tìm hiểu sự việc
bò coi là vi phạm pháp luật, ra quyết đònh giải quyết vụ việc và tổ chức thực hiện quyết đònh đó. Trách nhiệm pháp lý hình thành dựa trên các quyết đònh của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, từ các quyết đònh này mới chính thức xác đònh hành vi nào là vi phạm pháp luật và áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật đó.
Sỡ dó nhà nước áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm pháp luật là vì: Thứ nhất, các chủ thể pháp luật trong trạng thái bình thường luôn hoạt động
có lý trí và có tự do ý chí, nghóa là họ có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình và có đủ điều kiện để tự lựa chọn cho mình những cách xử sự khác nhau trong
một hoàn cảnh điều kiện nhất đònh; Thứ hai, trong quy phạm pháp luật nhà nước đã đưa ra trước những cách xử sự có tính khuôn mẫu mà các chủ thể buộc phải lựa chọn cho
mình cách xử sự phù hợp từ những cách xử sự mà trong quy phạm pháp luật đã nêu ra. Nếu chủ thể không thực hiện đúng những mệnh lệnh của nhà nước, vi phạm pháp luật
thì chủ thể phải chòu trách nhiệm về việc làm của mình, phải gánh chòu trách nhiệm pháp lý.
71

2. Căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý


Muốn xác đònh cũng như áp dụng trách nhiệm pháp lý cho bất cứ chủ thể vi phạm pháp luật nào, đòi hỏi chúng ta phải xác đònh được những căn cứ, dựa trên cơ sở
những căn cứ đó mới truy cứu trách nhiệm pháp lý, buộc chủ thể có nghóa vụ phải gánh chòu những biện pháp cưỡng chế đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình.
2.1 Vi phạm pháp luật là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý. Do vậy, để truy cứu trách nhiệm pháp lý cần phải xác đònh được cấu thành vi phạm pháp luật và thời
hiệu truy cứu đối với trường hợp cụ thể đó. Khi xác đònh cấu thành vi phạm pháp luật điều đầu tiên phải tiến hành là xác đònh được trong thực tế đã xảy ra hành vi trái pháp
luật nguy hiểm. Để xác đònh có vi phạm pháp luật xảy ra hay không, thì cần phải xác đònh được những yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật đó bao gồm: chủ thể, khách
thể, mặt chủ quan, mặt khách quan của vi phạm pháp luật để khẳng đònh đó là loại vi phạm pháp luật trong lónh vực nào, từ đó mới xác đònh được trách nhiệm pháp lý.
Tiếp đến là cần phải đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật đó thông qua việc xác đònh sự thiệt hại của xã hội về vật chất, về tinh thần và những thiệt
hại khác nếu có do hành vi đó gây ra. Trong một số trường hợp mức độ nguy hiểm của hành vi còn là căn cứ để xác đònh loại trách nhiệm pháp lý cần truy cứu. Chẳng hạn,
căn cứ vào mức độ thương tích của người bò hại mà quyết đònh truy cứu trách nhiệm hình sự hay trách nhiệm hành chính. Cần làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với
hậu quả, tuyệt đối không được suy diễn về hậu quả, nghóa là phải xác đònh một cách chắc chắn rằng sự thiệt hại của xã hội là do chính hành vi trái pháp luật đó trực tiếp gây
ra. Không thể bắt chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải chòu trách nhiệm về những thiệt hại mà hành vi trái pháp luật của họ không trực tiếp gây ra giữa hành vi
trái pháp luật của họ và sự thiệt hại của xã hội không có mối quan hệ nhân quả.
Bên cạnh đó, để cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp luật có hiệu quả khi truy cứu trách nhiệm pháp lý cần phải xác đònh thời gian, đòa điểm và cách thức mà chủ thể
thực hiện vi phạm pháp luật. Khi xác đònh được những điều nói trên thì việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế mới chính xác, phù hợp với mục đích cần truy cứu trách nhiệm
pháp lý và đạt được hiệu quả cao trong việc cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp luật. Việc xác đònh lỗi, động cơ và mục đích vi phạm trong nhiều trường hợp khi truy cứu
trách nhiệm pháp lý là rất cần thiết, nó cho phép lựa chọn biện pháp cưỡng chế phù hợp.
Ngoài việc xác đònh các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật còn phải xem xét thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp vi phạm cụ thể đó và những
trường hợp được miễn trách nhiệm pháp lý khi tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý. 2.2 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý:
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý là thời hạn do pháp luật quy đònh mà khi thời hạn đó kết thúc thì chủ thể vi phạm pháp luật sẽ không bò truy cứu trách nhiệm
72 pháp lý nữa. Thời hạn là một khoảng thời gian được xác đònh từ thời điểm này đến thời
điểm khác. Khoảng thời gian đó có thể tính bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện nào đó. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý được tính từ thời điểm vi
phạm pháp luật được thực hiện. Đối với các loại vi phạm pháp luật khác nhau thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý cũng được quy đònh khác nhau, trong đó có cả những
vi phạm pháp luật không được áp dụng thời hiệu. Pháp luật của nhiều nước không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một số loại vi phạm pháp luật quá
nguy hiểm gây thiệt hại lớn cho xã hội. Ví dụ: Bộ luật hình sự Việt Nam quy đònh không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội xâm phạm an
ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.
Pháp luật quy đònh cũng có thể miễn trách nhiệm pháp lý cho một số chủ thể trong những trường hợp nhất đònh. Trách nhiệm pháp lý sẽ chấm dứt khi xẩy ra sự kiện
pháp lý thích ứng như có quyết đònh ân xá, đặc xá; thời hạn trừng phạt đã kết thúc; nộp phạt xong…

3. Phân loại trách nhiệm pháp lý


Hiện tượng vi phạm pháp luật trong đời sống xã hội rất đa dạng, chúng được chia thành những loại vi phạm pháp luật khác nhau. Do đó, việc áp dụng trách nhiệm pháp
lý đối với các loại vi phạm pháp luật cũng bao gồm nhiều loại khác nhau. Thông thường chúng được chia thành bốn loại sau:
3.1. Trách nhiệm pháp lý hình sự Trách nhiệm pháp lý hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do
Tòa án áp dụng đối với những người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự hành vi phạm tội. Trách nhiệm pháp lý hình sự chỉ áp dụng đối với chủ thể là cá nhân
khi họ phạm tội. Người phạm tội bò nhà nước áp dụng những biện pháp cưỡng chế được quy đònh ở trong bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật hình sự hay còn được gọi là
hình phạt, được quy đònh trong Bộ luật hình sự.
Theo quy đònh tại Điều 28 Bộ luật hình sự năm 1999 thì hệ thống hình phạt bao gồm các loại sau: Các hình phạt chính là: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục
xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Ngoài ra còn có các hình phạt bổ sung. 3.2. Trách nhiệm pháp lý hành chính
Trách nhiệm pháp lý hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể đã vi phạm pháp luật hành chính.
Phạm vi áp dụng trách nhiệm hành chính rộng hơn so với trách nhiệm hình sự, nhưng tính chất của chế tài hành chính ít nghiêm khắc hơn so với trách nhiệm hình sự. Chế tài
hành chính thể hiện ở những biện pháp như: cảnh cáo, phạt tiền, tòch thu giấy phép, công cụ, phương tiện vi phạm, buộc tháo dỡ, khôi phục lại tình trạng ban đầu…
73 3.3. Trách nhiệm pháp lý dân sự
Trách nhiệm pháp lý dân sự là loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân sự. Chế tài trách nhiệm dân sự chủ yếu là về tài sản
như: bồi thường thiệt hại về tài sản, nhằm khôi phục lại quyền lợi ban đầu cho chủ thể đã bò xâm phạm, cải chính công khai…
3.4. Trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất Trách nhiệm kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng cơ quan, tổ chức,
đơn vò, trường học, bệnh viện… áp dụng đối với cán bộ, nhân viên, học sinh, sinh viên, người lao động… đã vi phạm vào nội quy, quy chế, kỷ luật của cơ quan, đơn vò, trường
học… đó. Ngoài trách nhiệm kỷ luật, người vi phạm nếu gây thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức còn có thể bò áp dụng trách nhiệm vật chất.
Trách nhiệm vật chất là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, tổ chức, đơn vò… áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, công nhân của cơ quan, tổ chức, đơn
vò ấy trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, tổ chức, đơn vò… Qua việc phân loại trách nhiệm pháp lý nêu trên, cần lưu ý là có thể đồng thời
áp dụng nhiều loại trách nhiệm pháp lý cho một chủ thể đã vi phạm pháp luật, bởi vì hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể ấy đã vi phạm vào nhiều quy đònh khác nhau.
Tuy nhiên không thể áp dụng đồng thời trách nhiệm pháp lý hình sự và trách nhiệm pháp lý hành chính cho một hành vi vi phạm pháp luật.
74
Chương VII PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

I. PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghóa


Nhà nước nào cũng ban hành pháp luật và dùng pháp luật làm công cụ chủ yếu để quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Do đó, việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện
hệ thống pháp luật là vấn đề quan trọng, là hoạt động được quan tâm thường xuyên và lâu dài của nhà nước. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là làm thế nào để hệ thống pháp
luật đó được mọi cơ quan, tổ chức, đơn vò cá nhân trong xã hội tôn trọng, tự giác và nghiêm chỉnh thực hiện trong thực tế cuộc sống.
Pháp luật và pháp chế là hai hiện tượng khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Pháp luật và pháp chế là hai khái niệm rất gần nhau, nhưng không
đồng nhất với nhau. Pháp chế không phải là pháp luật mà là một phạm trù thể hiện những yêu cầu và sự đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật phải tôn trọng và triệt để
thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực của mình, điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ xã hội khi dựa trên cơ sở vững
chắc của nền pháp chế; và ngược lại, pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kòp thời. Do đó, cùng
với hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhà nước phải đồng thời tạo ra một cơ chế để đưa pháp luật đi vào đời sống, trở thành hoạt động thực tiễn của
các chủ thể pháp luật.
Trong nhà nước XHCN, pháp luật là phương tiện phản ánh và thực hiện nền dân chủ xã hội. Đây là cơ sở khách quan cho việc xác lập và tăng cường pháp chế. Như vậy
pháp chế chỉ có thể được xác lập trên một nền dân chủ thực sự. Từ đó chúng ta có thể nêu ra đònh nghóa về pháp chế XHCN như sau:
Pháp chế xã hội chủ nghóa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trò - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân
đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.

2. Đặc điểm pháp chế XHCN


- Pháp chế XHCN là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN. Ở đây, pháp chế XHCN thể hiện ở chỗ, nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động
của các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải được tiến hành theo đúng quy đònh của pháp luật. Mọi cán bộ, công nhân viên trong cơ quan nhà nước đều phải tôn trọng và
nghiêm chỉnh tuân theo quy đònh của pháp luật khi thực hiện các quyền và nghóa vụ của mình; mọi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh. Đó là cơ sở bảo đảm cho bộ
75 máy nhà nước hoạt động đồng bộ, nhòp nhàng, có hiệu quả, phát huy hiệu lực của nhà
nước và bảo đảm công bằng xã hội. Điều 12 Hiến pháp 1992 đã sửa đổi bổ sung năm 2001 quy đònh: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghóa”.
- Pháp chế XHCN là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trò - xã hội và các đoàn thể quần chúng và là nguyên tắc xử sự của mọi công dân. Mỗi tổ chức chính trò
- xã hội và đoàn thể quần chúng đều có phương pháp, hình thức, nguyên tắc hoạt động riêng của tổ chức mình, nhưng việc tổ chức và hoạt động của các tổ chức, đoàn thể đó đều
phải tôn trọng và tuân theo nguyên tắc pháp chế XHCN. Bởi vì mỗi thành viên của tổ chức hay đoàn thể đó trước hết là một công dân, cho nên họ luôn chòu sự tác động của nhà nước;
mặt khác các tổ chức chính trò - xã hội và đoàn thể quần chúng đều được hình thành và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ của nhà nước, tham gia vào các quan hệ xã hội, trong đó có
các quan hệ xã hội do nhà nước xác lập và bảo vệ. Ngay cả Đảng cộng sản với tư cách là đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội phải “hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” như Điều 4 Hiến pháp 1992 đã quy đònh.
Trong nhà nước XHCN, công dân là những chủ nhân của xã hội, việc mọi công dân phải tôn trọng và tự giác thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để những quy đònh của pháp
luật là điều kiện bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện nguyên tắc mọi người đều bình đẵng trước pháp luật, là điều kiện cho mỗi người được tự do tồn tại, phát triển. Vì vậy,
việc đòi hỏi mọi công dân tôn trọng, tự giác tuân theo pháp luật là một yêu cầu của pháp chế XHCN.
- Pháp chế XHCN có quan hệ mật thiết với chế độ dân chủ XHCN. Trong mối quan hệ này dân chủ XHCN là cơ sở để củng cố nền pháp chế XHCN, đồng thời pháp chế
XHCN là yếu tố không thể thiếu được để củng cố và mở rộng nền dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Có thể khẳng đònh rằng một nền dân chủ
XHCN thực sự không thể thiếu pháp chế XHCN, bởi vì chính pháp chế là nền tảng vững chắc nhất để duy trì và thực hiện những nguyên tắc của chế độ dân chủ XHCN, tạo ra tính
tổ chức kỷ luật, thiết lập kỷ cương của xã hội, bảo đảm công bằng xã hội. Mối quan hệ trực tiếp giữa pháp chế và chế độ dân chủ XHCN được thể hiện ở sự tham gia của đông
đảo quần chúng vào quản lý các công việc nhà nước và xã hội, vào việc kiểm tra, giám sát họat động của bộ máy nhà nước. Đặc điểm này cũng nói lên nét khác biệt căn bản về bản
chất của pháp chế XHCN với pháp chế Tư sản.
- Pháp chế XHCN có mối quan hệ mật thiết với hệ thống pháp luật XHCN. Trong đó, hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hoàn thiện sẽ là cơ sở cho việc thực hiện
và tăng cường pháp chế. Ngược lại, nếu đã có hệ thống pháp luật tốt mà không có pháp chế thì những quy đònh của pháp luật cũng không thể hiện được ý nghóa thực sự và sức
mạnh của nó.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×