1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
Cán bộ, công chức:

Cán bộ, công chức:

Tải bản đầy đủ - 125trang

92

III. NGÀNH LUẬT DÂN SỰ 1. Khái quát chung về Luật dân sự


1.1 Khái niệm Luật dân sự: Luật dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm các
quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá - tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó.
1.2 Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật dân sự: a Đối tượng điều của ngành luật dân sự
Gồm có hai nhóm quan hệ xã hội: - Quan hệ về tài sản: là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản, tài sản
được biểu hiện dưới các dạng khác nhau như: vật có thực, tiền, giấy tờ trò giá được bằng tiền và các quyền tài sản.
Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang tính chất hàng hóa tiền tệ. Sự đền bù ngang giá trong trao đổi là biểu hiện của quan hệ hàng hóa - tiền tệ, là đặc trưng của quan hệ
dân sự. Mặc dù vậy không phải tất cả các quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh đều mang tính chất đền bù ngang giá, như: quan hệ tặng cho tài sản, thừa kế tài sản… Sở dó như vậy vì
những loại quan hệ này còn chòu sự chi phối của yếu tố tình cảm, quan hệ huyết thống và đây không phải là những loại quan hệ mang tính chất đặc trưng của giao lưu dân sự.
- Quan hệ nhân thân: là quan hệ liên quan đến các giá trò tinh thần của con người. Các
quyền nhân thân của con người là quyền dân sự gắn liền với một chủ thể không thể chuyển giao cho người khác. Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng cách xác đònh những
giá trò nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, đồng thời quy đònh các biện pháp thực hiện, bảo vệ các quyền nhân thân. Quan hệ nhân thân mà luật dân sự điều chỉnh được chia
thành hai loại:
+ Quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản như: họ tên, danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân hay tổ chức… Đây là những quyền nhân thân không thể dòch chuyển cho
các chủ thể khác và không xác đònh được bằng tiền, không thể mang ra trao đổi ngang giá. + Quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản như: quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghiệp, phát minh, sáng chế… Đây là các quan hệ nhân thân gắn với lợi ích vật chất, là những giá trò nhân thân khi được xác lập làm phát sinh các quyền tài sản. Quyền nhân thân là tiền đề
làm phát sinh các quyền tài sản.
b Phương pháp điều chỉnh của ngành luật dân sự Cơ chế điều chỉnh các quan hệ xã hội bao gồm hệ thống các biện pháp, cách thức tác
động vào hành vi của các chủ thể, đònh hướng cách xử sự của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ đó. C. Mác đã viết: ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối với
pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó. Pháp luật không tạo ra các quan hệ xã hội mà chỉ đònh hướng cho các quan hệ xã hội xảy ra theo ý chí của nhà nước. Các phương
pháp điều chỉnh được thể hiện ở những phương pháp như:
93 - Các chủ thể tham gia các quan hệ dân sự độc lập, bình đẳng với nhau về đòa vò pháp
lý, độc lập về tổ chức và tài sản. Độc lập về tổ chức và tài sản là tiền đề tạo ra sự bình đẵng trong các quan hệ mà các chủ thể tham gia. Bởi vì đa số các quan hệ tài sản mà luật dân sự
điều chỉnh mang tính chất hàng hóa tiền tệ và đền bù ngang giá.
- Tôn trọng quyền tự đònh đoạt của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự. Tham gia vào các quan hệ thì mỗi chủ thể đều có mục đích và động cơ nhất đònh, do đó họ
được tuỳ ý lựa chọn đối tượng để tham gia, tùy ý lựa chọn về nội dung, cách thức, phương pháp thực hiện quyền, nghóa vụ và còn có thể tự đặt ra các biện pháp để bảo đảm cho các
thỏa thuận của các bên chủ thể được thực hiện. Tuy nhiên, những cách thức mà các chủ thể lựa chọn đều phải trong giới hạn pháp luật cho phép.
- Các bên phải tự gánh chòu trách nhiệm với nhau, người vi phạm phải chòu trách nhiệm chủ yếu là về tài sản đối với bên có quyền lợi bò xâm phạm.

2. Một số nội dung cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2005


Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01012006. 2.1 Chế đònh quyền sở hữu
Quyền sở hữu là chế đònh trung tâm của Luật dân sự, là tổng hợp các quyền năng của chủ
sở hữu đối với tài sản của mình theo quy đònh của pháp luật. Quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật dân sự, cho nên nó cũng bao gồm ba thành phần: chủ thể, khách thể và nội dung.
a Chủ thể của quyền sở hữu: còn gọi là chủ sở hữu, bao gồm: cá nhân, pháp nhân, các
chủ thể khác hộ gia đình, tổ hợp tác… có đủ ba quyền năng pháp lý là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền đònh đoạt tài sản.
b Khách thể của quyền sở hữu: là tài sản, bao gồm: + Vật có thực: chính là đối tượng của thế giới vật chất: động vật, thực vật, vật với ý
nghóa vật lý ở mọi trạng thái rắn, lỏng, khí có thể đáp ứng được nhu cầu nào đó của con người. Như vậy, vật có thực với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu, kiểm soát
của con người và có thể xác đònh được giá trò thì mới trở thành đối tượng của giao lưu dân sự.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, khái niệm vật trong khoa học pháp lý cũng được mở rộng. Ví dụ: phần mềm trong máy tính hoặc chất thải nếu sử dụng làm
nguyên liệu tái chế sẽ được coi là vật, nhưng bình thường không được coi là vật. + Tiền: các loại tiền tệ của các quốc gia đưa vào lưu thông trong xã hội.
+ Giấy tờ trò giá được bằng tiền: ngân phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, thương phiếu… + Các quyền tài sản: là các quyền trò giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong
giao lưu dân sự: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, quyền đòi nợ…
c Nội dung của quyền sở hữu: Nội dung của quyền sở hữu là tổng hợp các quyền chủ thể và nghóa vụ pháp lý của các
bên tham gia vào quan hệ sở hữu. Quyền chủ thể của là cách xử sự mà chủ thể được phép tiến

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cán bộ, công chức:

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×