1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 125 (trang)
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm

LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm

Tải bản đầy đủ - 125trang

105

4. Trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự - Giai đoạn thụ lý đơn.


- Giai đoạn tiến hành phiên họp giải quyết đơn và ra bản án, quyết đònh. - Giai đoạn phúc thẩm đối với bản án, quyết đònh của Tòa án cấp sơ thẩm.

VI. NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái quát chung về ngành luật hình sự.


1.1. Khái niệm: Luật hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm hệ
thống các quy phạm pháp luật xác đònh những hành vi nguy hiểm nào là tội phạm, đồng thời quy đònh hình phạt đối với tội phạm ấy.
1.2. Đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự Là những quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước với người phạm tội, trong đó Nhà nước
được quyền truy tố, xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chòu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Còn người phạm tội có nghóa vụ
chấp hành biện pháp cưỡng chế của Nhà nước và họ cũng có quyền yêu cầu Nhà nước bảo đảm các quyền lợi hợp pháp của họ.
1.3. Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự Là phương pháp quyền uy, mệnh lệnh và phục tùng. Nhà nước có quyền áp dụng hình
phạt đối với người phạm tội mà không cần có một sự thỏa thuận nào, hay không có sự cản trở của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.
1.4. Một số nguyên tắc cơ bản của ngành luật hình sự - Nguyên tắc pháp chế XHCN: đây là nguyên tắc quan trọng. Việc quy đònh và bảo đảm
nguyên tắc này chính là thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhân dân đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm và tội phạm trên cơ sở pháp luật. Nội dung nguyên tắc này thể hiện:
Những vấn đề nào có liên quan đến trách nhiệm hình sự như: tội phạm, hình phạt, biện pháp tư pháp… đều phải do luật hình sự quy đònh.
Những hành vi phạm tội mà điều luật mô tả cần phải làm rõ ranh giới giữa tội phạm với hành vi không phải là tội phạm để tránh việc áp dụng trách nhiệm hình sự không đúng.
Không áp dụng pháp luật tương tự về tội phạm và hình phạt, mà chỉ được áp dụng theo như luật hình sự đã quy đònh.
- Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẵng trước pháp luật: nguyên tắc này thể hiện bất kể ai đã phạm tội đều phải chòu trách nhiệm như nhau.
Tuy nhiên, trong thực tế khi xử lý đối với những người đã phạm tội, đều có xem xét về các đặc điểm nhân thân của người phạm tội để cân nhắc hình phạt, nhưng việc xem xét này là
ở giai đoạn sau khi đã xác đònh rõ các yếu tố cấu thành tội phạm và đã đánh giá về mức độ, tính chất của hành vi phạm tội, nhằm có bản án phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
106 - Nguyên tắc nhân đạo: nguyên tắc này thể hiện việc xử phạt là vừa nhằm trừng trò, đồng
thời còn nhằm cải tạo, giáo dục đối với người phạm tội nói riêng và mang ý nghóa giáo dục phòng ngừa chung đối với mọi người trong xã hội.
Những hình phạt quy đònh trong luật hình sự không nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác, bôi nhọ hay hạ thấp phẩm giá con người. Luật hình sự còn quy đònh có sự khoan hồng cho
những người phạm tội tự thú, khai báo thành khẩn, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải. Người có nhiều tiến bộ khi chấp hành án thì được xét giảm hình phạt…
- Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân: người phạm tội phải chòu trách nhiệm hình sự bởi những gì do tự người đó gây ra, do đó chủ thể của tội phạm chỉ là cá nhân mà không có tổ
chức. Người phạm tội phải chòu trách nhiệm hình sự về hậu quả do chính hành vi của họ gây ra. Hình phạt và các trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với cá nhân đã có hành vi phạm tội,
nhằm tác động trực tiếp vào ý thức người phạm tội.
2. Một số nội dung cơ bản của Bộ luật hình sự năm 1999. Bộ luật Hình sự năm 1999 bao gồm hai phần: phần chung và phần các tội phạm cụ thể.
2.1 phần chung của Bộ luật hình sự. Phần này quy đònh về những vấn đề chung, là cơ sở, nguyên tắc để áp dụng trong quá
trình xử lí những hành vi phạm tội cụ thể. a. Khái niệm tội phạm.
Theo quy đònh tại Điều 8 Bộ luật hình sự thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy đònh trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trò, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lónh vực khác của trật tự
pháp luật XHCN”.
b. Các dấu hiệu của tội phạm. Việc nghiên cứu các dấu hiệu của tội phạm là để phân biệt giữa hành vi bò coi là tội
phạm với những hành vi vi phạm pháp luật khác. Hành vi tội phạm cũng là hành vi vi phạm pháp luật nhưng thể hiện tính chất, mức độ
nghiêm trọng hơn, nó được thể hiện ở những dấu hiệu như: - Dấu hiệu về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi: Là hành vi đó đã gây ra những
thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Dấu hiệu này được thể hiện tại Điều 8 của Bộ luật hình sự: “Những hành vi tuy có
dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Như biện pháp hành chính, biện pháp
dân sự, kỉ luật hay biện pháp tư pháp.
Cơ sở để đánh giá về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là đáng kể hay không đáng kể, thường căn cứ vào những yếu tố như: tầm quan trọng của mối quan hệ xã hội đã bò haønh vi

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm

Tải bản đầy đủ ngay(125 tr)

×