1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 41 (trang)
Sự hình thành và phát triển của BHYT:

Sự hình thành và phát triển của BHYT:

Tải bản đầy đủ - 41trang

dịch vụ phòng bệnh cá nhân. CUP đảm bảo tỷ lệ chuyển lên tuyến trên hợp lý nếu cần thiết.
Chơng II Thùc tr¹ng triĨn khai BHYT tù ngun ë
ViƯt Nam. I. Sơ lợc về BHYT và BHYT tự nguyện ở Việt Nam:

1. Sự hình thành và phát triển của BHYT:


Từ năm 1954-4986 Nhà nớc ta thực hiện cơ chế quản lý bao cÊp trong qu¶n lý kinh tÕ nãi chung và quản lý ngành y tế nói riêng, Nhà nớc thực hiện
việc khám chữa bệnh cho ngời dân theo chế độ bao cấp, họ đợc khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế của Nhà nớc mà không phải trả tiền. NSNN cấp mọi
chi phí cho hoạt động của các cơ sở y tế Nhà nớc từ Trung Ương TW đến địa phơng, do vậy trong thời gian dài nớc ta cha thực hiện đợc chính sách
BHYT. Đầu những năm 80 các cơ sở khám chữa bệnh từ TW đến địa phơng đều
thiếu kinh phí một cách trầm trọng, cơ sở hạ tầng xuống cấp, đời sống cán bộ nhân viên y tế gặp nhiều khó khăn đã ảnh hởng nghiêm trọng đến tinh thần
phục vụ và chất lợng khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế trong cả nớc. Trớc tình hình đó, thực hiện chủ trơng đổi mới trong lĩnh vực y tế với phơng châm
20
Nhà nớc và nhân dân cùng làm theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, để bổ sung nguồn kinh phí và giảm bớt sức ép căng thẳng của các
cơ sở khám chữa bệnh, từ năm 1989 Nhà nớc cho phép các cơ sở khám chữa bệnh thu một phần viện phí nhằm huy động sự đóng góp của một bộ phận ng-
ời dân có khả năng chi trả, hạn chế sự bao cấp tràn lan của NSNN để tập trung cho những đối tợng u đãi xã hội, ngời nghèo. Tuy nhiên giải pháp thu
một phần viện phÝ ®· béc lé mét sè vÊn ®Ị mang tÝnh xã hội nhân đạo, tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và gánh nặng về chi phí khám chữa
bệnh trong thu nhập của ngời dân, nhất là những ngời có thu nhập thấp, những ngời nghỉ hu, mất sức lao động, trẻ em,
Để giải quyết những bÊt cËp cđa viƯc thu viƯn phÝ trùc tiÕp, chÝnh sách BHYT đã đợc Bộ Y tế nghiên cứu và tổ chức thực hiện thí điểm từ cuối năm
1989 ở một số tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Vĩnh Phú, Quảng Trị, Bến Tre, Trên cơ sở những kết quả đạt đợc và kinh nghiệm rút ra trong quá trình thí
điểm, ngày 1581992 Hội đồng Bộ trởng nay là Chính phủ đã ban hành Nghị định 299 kèm theo Điều lệ BHYT, đánh dấu sự ra đời của chính sách
BHYT ở nớc ta. BHYT Việt Nam ra đời là một nhân tố quan trọng của quá trình đổi mới
trong lĩnh vực y tế, trong chủ trơng xã hội hoá công tác y tế của Đảng và Nhà nớc ta. Sau 15 năm triển khai thực hiện, BHYT đã trải qua 3 giai đoạn phát
triển sau: Giai đoạn 1: từ năm 1992 đến tháng 81998. Quá trình hình thành,
xây dựng bộ m¸y tỉ chøc thùc hiƯn chÝnh s¸ch BHYT. ChÝnh s¸ch BHYT trong giai đoạn này thực hiện theo Điều lệ BHYT
ban hành theo Nghị định 299 ngày 1581992 của Hội đồng Bộ trởng và đợc bổ sung theo Nghị định 471994NĐ-CP .
21
Đối tợng tham gia BHYT bắt buộc bao gồm: cán bộ công chức, viên chức, cán bộ hu trí, mất sức lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp, ngời
lao động khu vực sản xuất kinh doanh của Nhà nớc và t nhân nếu có từ 10 lao động trở lên. các đối tợng khác tham gia BHYT theo khả năng và nhu cầu
trên cơ sở tự nguyện. Phạm vi, quyền lợi theo nguyên tắc đảm bảo quyền lợi cơ bản trong khám chữa bệnh, cả nội trú và ngoại trú và không thực hiện
cùng chi trả. Mức đóng với đối tợng lao động là 1 thu nhập và chủ sử dụng lao động là 2. Thanh toán chi phí khám chữa bệnh của ngời tham gia
BHYT theo chi phí dịch vụ và ngày điều trị bình quân, sau đó chuyển sang chi phí dịch vụ là chủ u.
VỊ tỉ chøc bé m¸y BHYT, hƯ thèng BHYT trùc thuộc Bộ Y tế và đợc tổ chức theo quy định của Thông t 111992TT-BYT của Bộ Y tế, bao gåm c¬
quan BHYT ViƯt Nam trùc thc Bé Y tÕ vµ BHYT tØnh, thµnh phè lµ mét bé phËn trùc thuộc Sở Y tế. Quỹ BHYT đợc quản lý theo từng tỉnh, hạch toán
độc lập, không có sự bù đắp, điều tiết, hỗ trợ lẫn nhau theo mô hình đa quỹ. Giai đoạn 2: từ tháng 81998 đến tháng 62005: Giai đoạn mở rộng
đối tợng, củng cố tổ chức. Để giải quyết những bất cập trong quá trình thực hiện Nghị định 299,
ngày 1381998 Chính phủ đã ban hành Nghị định 581998NĐ-CP nhằm mở rộng chính sách BHYT, đa dạng hoá các loại hình BHYT để mở rộng đối t-
ợng tham gia, đảm bảo thống nhất quyền lợi giữa các địa phơng, các đối t-
ợng. Các điểm mới quan trọng đợc sửa đổi, bổ sung trong Nghị định 58 so
với Nghị định 299 là: o Bộ máy thực hiện BHYT đợc tổ chức thống nhất từ TW đến địa ph-
ơng và trực thuộc Bộ Y tế.
22
o Quỹ BHYT đợc quản lý tập trung thống nhất trên phạm vi cả nớc và đợc hạch toán độc lập với NSNN.
o Đối tợng và ngời tham gia đợc mở rộng hơn. o BHYT tự nguyện đã có khung pháp lý cụ thể hơn quy định lệ phí
thu, chi, phân bổ nguồn quỹ cho các hoạt động khám chữa bệnh và y tế học đờng.
o Quỹ khám chữa bệnh đợc phân bổ để chi trả cho chăm sóc sức khỏe ban đầu, đảm bảo thanh toán cho khám chữa bệnh ngoại trú và chi
trả theo dịch vụ đối với nội trú.
o áp dụng quy định cùng chi trả 20 chi phí khám chữa bệnh đối với một số đối tợng.
Trong giai đoạn này còng cã sù thay ®ỉi vỊ tỉ chøc hƯ thèng. Từ 132003 hệ thống BHYT VN đợc chuyển giao từ Bộ Y tế sang BHXH Việt
Nam theo Quyết định 202002QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ và đợc tổ
chức hoạt động theo quy định tại Nghị định 1002002NĐ-CP ngày 06122002 của Chính phủ. Với sự sáp nhập này quỹ BHYT trở thành một
thành phần của quỹ BHXH, đợc quản lý tập trung, thống nhất toàn diện theo quy chế quản lý tài chính đối với lĩnh vực BHXHVN.
Giai đoạn 3: từ tháng72005 đến nay: giai đoạn mở rộng BHYT cho các đối tợng xã hội với sự hỗ trợ của Nhà nớc.
Sau 7 năm thực hiện Nghị định 581998NĐ-CP, bên cạnh những kết quả đã đạt đợc nh: số thu từ BHYT chiếm khoảng 28-32 tổng chi
NSNN cấp cho cơ sở khám chữa bệnh, đối tợng tham gia ngày càng tăng, chiếm
khoảng 23 dân số vào năm 2004 thì Nghị định 58 đã bộc lộ một số bất
cập cần điều chỉnh: một số đối tợng thực hiện BHXH bắt buộc nhng cha đợc bổ sung vào nhóm thực hiện BHYT bắt buộc, đối tợng tham gia BHYT tự
nguyện mới chỉ dừng lại ở học sinh, sinh viên mà cha mở rộng sang các đối t-
ợng khác, phơng thức cùng chi trả chỉ thực hiện ở một số đối tợng là những
23
ngời có mức đóng góp cao cán bộ, công chức, viên chức nh
ng lại ít sử dụng dịch vụ y tế, phơng thức thanh toán duy nhất là theo phí dịch vụ vừa
tăng chi phí hành chính vừa chứa đựng rủi ro cao đối với sự an toàn quỹ của hệ thống BHYT
Để giải quyết những bất cập này, ngày 1652005 Chính phủ ban hành Nghị định 632005NĐ-CP kèm theo Điều lệ BHYT sửa đổi. Liên Bộ Y tế
Bộ Tài chính ban hành Thông t 212005TTLT-BYT-BTC và thông t 222005 TTLT-BYT-BTC hớng dẫn thực hiện Nghị định này. Theo Nghị định 63, đối
tợng tham gia và quyền lợi đợc mở rộng hơn, cơ sở khám chữa bệnh BHYT đợc mở rộng cả công lập và t nhân; thay đổi cơ chế cùng chi trả; ngoài cơ chế
thanh toán theo phí dịch vụ, bổ sung phơng thức thanh toán với cơ sở khám chữa bệnh theo phơng thức khoán định suất hoặc thanh toán theo chẩn đoán;
toàn bộ quỹ BHYT đợc sử dụng thanh toán chi phí khám chữa bệnh, không trích chi cho bộ máy, quỹ khám chữa bệnh đợc điều hoà chung; cơ quan thực
hiện BHYT là BHXH Việt Nam.

2. Sự hình thành và phát triển của BHYT tự nguyện ở Việt Nam.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sự hình thành và phát triển của BHYT:

Tải bản đầy đủ ngay(41 tr)

×