1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 41 (trang)
Hoạt động của Kiểm toán nhà nước Việt Nam. Các giai đoạn phát triển của Kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.

Hoạt động của Kiểm toán nhà nước Việt Nam. Các giai đoạn phát triển của Kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ - 41trang

Tạp chí Kiểm tốn là đơn vị hoạt động sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, được mở tài khoản tại các ngân hàng và Kho bạc
Nhà nước. Các Kiểm toán Nhà nước chun ngành, Kiểm tốn Nhà nước khu vực có
Kiểm tốn trưởng, Phó Kiểm tốn trưởng, cơ cấu tổ chức khơng q 5 phòng. Các Kiểm tốn trưởng Vụ trưởng và các Phó Kiểm tốn trưởng Phó Vụ
trưởng do Tổng Kiểm tốn bổ nhiệm, miễn nhiệm. Ngồi các bộ phận trên trong Kiểm toán nhà nước, khi cần thiết ví dụ khi
cần thẩm định các báo cáo kiểm toán quan trọng, phức tạp, hoặc tái thẩm định các báo cáo kiểm toán bị khiếu nại, để tư vấn cho Tổng kiểm tốn, Hội đồng
kiểm tốn có thể được thành lập. Việc thành lập, tổ chức, các thành viên và quy chế làm việc của Hội đồng kiểm toán do Tổng kiểm toán quyết định tuỳ theo
yêu cầu của tình huống cụ thể. Khi kết thúc vụ việc, Tổng kiểm toán giải tán Hội đồng kiểm toán.

2.2.2. Hoạt động của Kiểm toán nhà nước Việt Nam.


Từ khi thành lập, Kiểm tốn nhà nước Việt Nam đã nhanh chóng ổn định, kiện toàn tổ chức, tuyển dụng và đào tạo kiểm toán viên... thực hiện các nhiệm
vụ kiểm toán hàng năm do Chính phủ giao hay thực hiện các nhiệm vụ kiểm toán khác theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Quốc hội.
Sau hơn mười năm hoạt động, Kiểm toán nhà nước Việt Nam đã đạt được những kết quả rất khả quan. Thơng qua hoạt động kiểm tốn của mình đối với
những đơn vị có sử dụng ngân sách, tài sản quốc gia, Kiểm toán nhà nước đã góp phần tăng thu, tiết kiệm chi cho Ngân sách Nhà nước trên mười ngàn tỉ
đồng. Cụ thể, hoạt động của Kiểm toán nhà nước trên một số mặt chủ yếu: Kiểm
toán Ngân sách Nhà nước; Kiểm toán doanh nghiệp nhà nước; Những hoạt động phát triển nghiệp vụ kiểm toán.

2.2.3. Các giai đoạn phát triển của Kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.


2.2.3.1. Giai đoạn Kiểm toán nhà nước trực thuộc Chính phủ.
27
Ngày 1171994, Kiểm tốn nhà nước Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 70CP của Chính phủ. Với quyết định số 61TTg của Thủ tướng Chính
phủ, ngày 24011995, và Nghị định số 932003NĐ-CP của Chính phủ, tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước Việt Nam được kiện toàn và hoàn thiện.
Trong hơn mười năm qua, Kiểm toán nhà nước đã chủ động vươn lên và khẳng định sự cần thiết hình thành và phát triển Kiểm toán nhà nước ở Việt
Nam; đáp ứng yêu cầu không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thơng qua hoạt động thực tiễn, Kiểm tốn nhà nước đã
xứng đáng là công cụ bảo vệ sự minh bạch của nền tài chính quốc gia, góp phần quan trọng vào quá trình quản lý, điều hành và sử dụng Ngân sách Nhà nước;
đặc biệt là vai trò phòng ngừa và răn đe những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong đời sống kinh tế - xã hội.
2.2.3.2. Kiểm toán nhà nước Việt Nam khi Luật Kiểm toán Nhà nước có hiệu lực.
● Sự cần thiết chuyển Kiểm tốn nhà nước sang thuộc Quốc hội. Điều 84, Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
nêu rõ: “Quốc hội là cơ quan quyết định những chính sách cơ bản của quốc gia trong đó có quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, quyết định dự toán
Ngân sách Nhà nước và phân bổ Ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước”. Chức năng và nhiệm vụ của Quốc hội trong lĩnh vực
Ngân sách Nhà nước đã được quy định rõ ràng và chi tiết trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, các cơ quan của Quốc hội vẫn còn thiếu một lượng thông tin cần thiết từ cơ quan Kiểm tốn nhà nước, một cơ quan có nghiệp
vụ chun mơn, có khả năng phân tích, đánh giá việc quản lý và sử dụng Ngân sách Nhà nước nói riêng và nguồn tài sản cơng nói chung, để có thể đưa ra
những quyết định về Ngân sách Nhà nước. Do thiếu mối liên hệ chặt chẽ với Kiểm toán Nhà nước nên các Uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội thực
hiện quyền hạn trong lĩnh vực tài chính, Ngân sách Nhà nước từ trước tới nay chỉ mang tính hình thức. Thực tế hoạt động của Quốc hội trong thời gian qua, số
28
đại biểu Quốc hội có chun mơn trong lĩnh vực tài chính là rất ít, đa số các đại biểu Quốc hội đều không có khả năng, hoặc khơng có điều kiện, thời gian để
phân tích, đánh giá các tài liệu về tài chính và Ngân sách Nhà nước một cách toàn diện và đầy đủ.
Xét về địa vị pháp lý, KTNN cần được xác định trong hiến pháp trong Luật phù hợp với chức năng, vị trí của KTNN trong quản lý, sử dụng nguồn lực
tài chính quốc gia. Hoạt động phải dựa trên cơ sở nguyên tắc chỉ tuân thủ pháp luật, chuẩn mực, được đảm bảo trung thực, khách quan trong đánh giá và đưa ra
ý kiến, không bị chi phối can thiệp hoặc cản trở từ bên ngoài. Và hơn nữa để đảm bảo sự độc lập khách quan trong thực thi nhiệm vụ thì lẽ tất nhiên người
được giao nhiệm vụ kiểm tốn khơng có mối liên hệ, có lợi ích kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp đến cá nhân, đơn vị được kiểm tốn. Do đó việc KTNN trực
thuộc Chính phủ là khơng phù hợp với tính độc lập và khách quan của KTNN. Theo kinh nghiệm nhiều nước có hoạt động kiểm tốn hàng chục năm thậm chí
cả trăm năm thì Quốc hội bầu hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng kiểm tốn trưởng, kiểm tốn trưởng có quyền bất khả xâm phạm trong một số trường hợp
và có quyền tham dự trình bày ý kiến độc lập tại kỳ họp quốc hội, hội đồng nhân dân…
Vì những lý do như trên, việc tổ chức cơ quan Kiểm toán nhà nước làm nhiệm vụ chuyên môn giúp Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các Uỷ
ban khác của Quốc hội trong việc thẩm tra, quyết định dự toán Ngân sách Nhà nước và phê chuẩn tổng quyết toán Ngân sách Nhà nước là hết sức cần thiết.
Việc chuyển cơ quan Kiểm toán nhà nước sang thuộc Quốc hội là phù hợp với yêu cầu thực tế. KTNN sẽ có địa vị pháp lý xứng đáng với chức năng mang tính
chất của Kiểm tốn. Ngày 1462005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khố XI nước Cộng hồ xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã thơng qua Luật Kiểm tốn nhà nước. Điều 13, Địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước, tại luật này quy định: “Kiểm toán nhà nước là
cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân thủ pháp luật”.
29
● Mô hình Kiểm tốn nhà nước trực thuộc Quốc hội. Theo Nghị quyết số 9162005NQ-UBTVQH, ngày 1592005, có hiệu
lực thi hành từ ngày 01012006 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về cơ cấu tổ chức của Kiểm tốn nhà nước, mơ hình Kiểm tốn nhà nước Việt Nam
có thể được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2. Mơ hình tổ chức Kiểm tốn nhà nước Việt Nam trực thuộc Quốc hội
Theo Nghị quyết trên, Kiểm toán nhà nước gồm 21 vụ và các đơn vị tương đương cấp vụ, trong đó có 6 đơn vị tham mưu thuộc bộ máy điều hành, 7
Kiểm toán nhà nước chuyên ngành, 5 Kiểm toán nhà nước khu vực và 3 đơn vị sự nghiệp. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các đơn vị do Tổng kiểm
toán Nhà nước quy định cụ thể. Việc chuyển cơ quan Kiểm tốn nhà nước từ trực thuộc Chính phủ cơ
quan hành pháp, trực tiếp điều hành việc thu - chi Ngân sách, quản lý và sử dụng nguồn tài sản công sang thuộc Quốc hội cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,
thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước đã đảm bảo tính độc lập tương đối của Kiểm tốn nhà nước trong việc thực hiện
chức năng là cơ quan kiểm tra tài chính cơng cao nhất. Đồng thời, được tổ chức là một cơ quan thuộc Quốc hội, những thơng tin qua kiểm tốn mà Kiểm tốn
nhà nước cung cấp sẽ giúp Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các Uỷ ban khác có liên quan nắm bắt chính xác và kịp thời hơn tình hình quản lý và sử
dụng Ngân sách, từ đó đề ra được những quyết định, những chính sách đúng đắn trong cơng việc thẩm tra, quyết định dự toán Ngân sách và phê chuẩn tổng quyết
toán Ngân sách Nhà nước. ● So sánh mơ hình Kiểm tốn nhà nước trực thuộc Chính phủ và mơ hình
Kiểm tốn nhà nước trực thuộc Quốc hội. - Địa vị pháp lý.
Ngay từ khi mới thành lập KTNN Việt Nam đã xây dựng theo mơ hình KTNN trực thuộc cơ quan hành phápChính phủ đã đảm bảo cho việc điều
hành nhanh nhạy quá trình thực hiện ngân sách và các hoạt động khác. Với địa
30
vị pháp lý là một cơ quan thuộc Chính phủ, giúp Chính phủ kiểm tra xác nhận tính đúng đắn hợp pháp của các tài liệu và số liệu kế toán của cơ quan Nhà
nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do NSNN cấp. Tổng KTNN chịu trách
nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về tồn bộ cơng tác của KTNN. Với chức năng, nhiệm vụ của KTNN thì mơ hình này khơng hồn thiện được địa vị pháp
lý của một cơ quan KTNN. Luật KTNN được Quốc hội khố XI thơng qua ngày 1462005 tại kỳ họp thứ
7 và có hiệu lực kể từ ngày 01012006 khẳng định: KTNN là cơ quan chyên mơn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động
độc lập và chỉ tn theo pháp luật. Đây là mơ hình KTNN trực thuộc Quốc hội là cơng cụ giúp Quốc hội có thêm căn cứ đánh giá thơng tin, có thơng tin tin cậy
cho thảo luận, quyết định. Trong mơ hình này địa vị pháp lý của KTNN xứng đáng với chức năng mang tính bản chất của kiểm tốn. KTNN trợ giúp đắc lực
cho nhà nước không chỉ ở kiểm tra thực hiện pháp luật mà còn cả trong việc soạn thảo và xây dựng các sắc luật liên quan đến ngân sách, tài chính kế tốn…
-Tính độc lập của kiểm toán nhà nước. Việc tổ chức cơ quan KTNN trực thuộc chính phủ nó đã hạn chế phần nào
tính độc lập của KTNN khi thực hiện các chức năng kiểm toán, xây dựng cơ cấu tổ chức, việc soạn thảo và xây dựng sắc luật, thực hiện chức năng phản biện của
Chính phủ… Hoạt động kiểm tốn dưới sự quản lý của Chính phủ khơng đảm bảo được tính trung thực, độc lập và khách quan trong đánh giá đưa ra ý kiến, nó
đã bị chi phối can thiệp từ bên ngoài. Lẽ tất nhiên, người được giao nhiệm vụ kiểm tốn khơng được có mối liên hệ đến cá nhân, đơn vị được kiểm toán,nên
việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng KTNN và có thể các thành viên trong ban lãnh đạo KTNN do Thủ tướng chính phủ quyết … là khơng đảm bảo được tính độc
lập kểm tốn. Khi KTNN Việt Nam trực thuộc Quốc hội hoạt động độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật đã đảm bảo được tiếng nói của KTNN rõ ràng, đầy đủ, trung thực và khách quan. Trong mơ hình này Quốc hội bầu, miễn nhiệm Tổng KTNN, quy
31
định mức lương cho Tổng KTNN… từ đó KTNN có quyền tham dự, trình bày ý kiến độc lập tại kỳ họp quốc hội. Như vậy, mặc dù KTNN khơng có chức năng
lập pháp hành pháp, nhưng thơng qua các kiến nghị của mình với các cơ quan này, KTNN góp phầp hồn thiện pháp luật và chấp hành pháp luật, đảm bảo
thực hiện đồng bộ các giải pháp trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng lãng phí.
Trong trường hợp, KTNN Việt Nam được tổ chức độc lập với cả cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp, tuy nhiên vẫn làm nhiệm vụ hỗ trợ Quốc hội
trong việc tăng cường năng lực giám sát tài chính- ngân sách Nhà nước. Mơ hình này sẽ phù hợp hơn với một KTNN có một cơ cấu tổ chức hoạt động lâu
dài và thật sự vững mạnh. Trong điều kiện nước ta hiện nay thì cơ quan KTNN mới hình thành được gần mười hai năm đang được ngày càng quan tâm và phát
triển nên cũng chưa thật sự đủ tiềm và lực để có thể đi lên ngay theo mơ hình này. Khơng trực thuộc Quốc hội thì KTNN sẽ khó khăn hơn trong việc thực hiện
chức năng và nhiệm vụ của mình tuy nhiên tính khách quan và độc lập của KTNN được đảm bảo xứng đáng hơn với bản chất của kiểm toán.
32

Phần 3.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hoạt động của Kiểm toán nhà nước Việt Nam. Các giai đoạn phát triển của Kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ ngay(41 tr)

×