1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 61 (trang)
Thẩm quyền của Toà án. Về việc hoà giải.

Thẩm quyền của Toà án. Về việc hoà giải.

Tải bản đầy đủ - 61trang

Nghị định 203HĐBT ngày 19-8-1992 của Hội đồng bộ trởng nay là Chính phủ về quyền và trách nhiệm của công đoàn cơ sở trong các doanh
nghiệp cơ quan đã nêu: Công đoàn cơ sở đại diện cho ngời lao động kiến nghị với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền, hoặc Toà án xử lý những hành vi
phạm quyền lợi ích hợp pháp của ngời lao động hoặc tập thể ngời lao động theo quy định của pháp luật.
Nếu ngời lao động cha gia nhập công đoàn cũng có quyền yêu cầu công đoàn cơ sở đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình trớc doanh nghiệp,
cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án.
Công đoàn cơ sở phối hợp với ngời đứng đầu doanh nghiệp, cơ quan giải quyết kịp thời các tranh chấp lao động giữa ngời lao động hoặc tập thể lao
động vơí doanh nghiệp, cơ quan. Đại diện công đoàn cơ sở đợc tham dự và phát biểu ý kiến trong trờng hợp các tranh chấp lao động nói trên đợc chuyển
sang cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền hoặc Toà ¸n xÐt xư”.
Kh¸c víi nhiỊu níc trªn thÕ giíi, ë nớc ta công đoàn trong các doanh nghiệp Nhà nớc vừa là tổ chức của ngời lao động, vừa là tổ chức của ngời sử
dụng lao động, mặt khác trong tất cả các doanh nghiệp cán bộ công đoàn cơ sở là ngời hởng lơng do ngời sử dụng lao động trả, do đó dẫn đến tình trạng
có những nơi, những lúc Ban chấp hành công đoàn cơ sở né tránh trách nhiệm, sợ không giám bảo vệ quyền lợi cho ngời lao động, nên Pháp lệnh quy
định: Trong trờng hợp bảo vệ lợi ích hợp pháp của tập thể lao động thì công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện. Đây là quy định phù
hợp với thực tế của nớc ta.
Ngoài đặc điểm về t cách của Ban chấp hành công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên. Còn một điểm cần chú ý đó là năng lực hành vi của con ngời
lao động. Khác với tố tụng dân sự, ngời lao ®éng tõ ®đ 15 ti ®Õn 18 ti cã thể tự mình tham gia tố tụng không cần uỷ qun cho bÊt cø ai trong bÊt kú
lo¹i tranh chÊp nào. Tuy nhiên khi thấy cần thiết, Toà án có thể triệu tập ngời đại diện của họ tham gia tố tụng. Đối với ngời sử dụng lao động là cá nhân
theo bộ luật lao động phải đủ 17 tuổi mới có thể thuê mớn sử dụng và trả công lao động, nên ngời sử dụng lao động phải đủ từ 18 tuổi trở lên mới có
quyền tự mình thực hiên quyền và nghĩa vụ của đơng sự trong tố tụng.

2. Thẩm quyền của Toà án.


Từ Điều 11 đến Điều 15 pháp lệnh quy định cụ thể thẩm quyền chung của Toà án, thẩm quyền của Toà án các cấp, thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ,
thẩm quyền của Toà án theo sự chọn lựa của nguyên đơn. Về cơ bản giống nh các quy định về thẩm quyền trong pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự. ở đây chỉ có một điều khác cơ bản là thẩm quyền chung theo Điều 11 pháp lệnh thì Toà án chỉ thụ lý những vụ kiện mà những việc này đã qua Hội đồng
hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động Quận, Huyện hoà giải không thành trừ 3 loại việc kỷ luật, sa thải, bị đơn phơng
chấm dứt hợp đồng, bồi thờng thiệt hại cho ngời sử dụng lao động. Đối với tranh chấp lao động tập thể còn phải qua Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh.
Nh vậy, khác với tố tụng dân sự, tố tụng lao động có giai đoạn tiền tố tụng, mà giai đoạn này là bắt buộc. Đây cũng chính là một đặc thù của tố tụng lao động.

3. Về việc hoà giải.


Khác với các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, tranh chấp lao động không những chỉ tranh chấp về các quyền và nghĩa vụ đã đợc Bộ
luật lao động, các văn bản pháp quy dới luật, các hợp đồng lao động, thoả ớc lao động tập thể quy định, mà nó còn có những tranh chấp về lợi ích hợp pháp
phát sinh trong quá trình lao động sản xuất mà những lợi ích này cha đợc pháp luật hay hợp đồng lao động, thoả ớc lao động tập thể đề cập đến. Mặt khác các
tranh chấp dân sự sau khi giải quyết song thì quan hệ đó đợc chấm dứt còn tranh chấp lao động sau khi đợc giải quyết song quan hệ lao động vẫn tồn tại.
Ngời sử dụng lao động vẫn cần ngời lao động để tạo ra giá trị thặng d, ngời lao động vẫn cần công ăn việc làm để có thu nhập. Vì vậy giải quyết tốt tranh chấp
lao động không những là mong muốn của cơ quan xét xử mà còn là mong muốn của ngời sử dụng lao động và ngời lao động, nó vừa bảo vệ đợc lợi ích
hợp pháp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động mà còn bảo vệ lợi ích của sản xuất, lợi ích chung của xã hội. Với lý do đó luật pháp của nhiều nớc
trên thế giới và pháp luật của nớc ta rất coi trọng nguyên tắc thơng lợng trực tiếp hay thông qua hoà giải. Mục đích của hoà giải là tạo cho mỗi bên tranh
chấp có cơ hội để bộc lộ và giải toả t tởng của họ, xoá bỏ những hiểu lầm lẫn nhau giữa hai bên, xác định rõ quyền và lợi ích cơ bản, nền tảng của mỗi bên
trên cơ sở đó tìm kiếm những lĩnh vực mà các bên cần thoả thuận, cuối cùng hợp nhất các lĩnh vực trên để xác lập một giải pháp thích ứng đợc những lợi ích
cơ bản của các bên tranh chấp.
Hoà giải có ý nghĩa hết sức quan trọng vì thông qua hoà giải các bên hiểu nhau và thông cảm với những khó khăn, thuận lợi của nhau, từ đó giữ đợc
mối hoà khí với nhau, đây là điều cốt lõi cần đạt để bảo đảm sự tồn tại và phát triển mối quan hệ giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động đảm bảo cho
quá trình sản xuất phát triển. Chính vì vậy, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động quy định mọi tranh chấp lao động đa đến Toà án, Toà án
đều phải tiến hành hoà giải trớc khi xét xử sơ thẩm:
Điều 38 Pháp lệnh quy định: Trớc khi quyết định mở phiên toà Toà án tiến hành hoà giải để các đơng
sự có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu qua việc hoà giải các đơng sự thoả thuận đợc với nhau về việc giải
quyết vụ án thì Toà án lập biên bản hoà giải thành và quyết định công nhận sự thoả thuận của các đơng sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật. Trong trờng
hợp các đơng sự không thể thoả thuận đợc với nhau thì Toà án lập biên bản hoà gỉai không thành và quyết định đa vụ án ra xét xử.
Ngoài việc hoà giải trớc khi xét xử sơ thẩm, tại phiên toà, Hội đồng xét xử cũng phải tiến hành hoà giải trớc khi bớc vào giai đoạn xét hỏi.
Điều 50 pháp lệnh quy định: Trớc khi tiến hành xét hỏi tại phiên toà. Hội đồng xét xử tiến hành việc
hoà giải để các đơng s có thể thoả thuận đợc với nhau về việc giải quyết vụ án lao động.
Nếu các đơng sự hoà giải đợc với nhau, thì Hội đồng xét xử lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đơng sự,quyết
định đó có hiệu lực pháp luật. Nếu các đơng sự không thể hoà giải đợc với nhau thì Hội đồng xét xử tiến hành việc xét xử.
Nh vậy, hoà giải trớc khi mở phiên toà và hoà giải trớc khi xét hỏi là một thủ bắt buộc, đây cũng là một đặc thù riêng có của tố tụng lao động.
Trong việc giải quyết các cuộc đình công thì việc hoà giải càng đợc coi trọng. Pháp lệnh đã cấu trúc thành một mục Hội đồng hoà giải gồm 3 điều:
Mục đích của hội nghị hoà giải, những ngời tham gia Hội nghị hoà giải, tiến
hành hội nghị hoà giải. Đây là những quy định không thể có trong tố tụng dân sự.

4. Về thời hạn xÐt xö.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thẩm quyền của Toà án. Về việc hoà giải.

Tải bản đầy đủ ngay(61 tr)

×