1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 61 (trang)
Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án lao động.

Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án lao động.

Tải bản đầy đủ - 61trang

từng trờng hợp cụ thể ở sau; Dới dây xin nêu một số yếu tố khách quan có ảnh hởng đến chất lợng và hiệu quả giải quyết các vụ án lao động.
-án lao động đợc coi là án mới. Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật lao động cho thấy phạm vi và nội dung các tranh chấp đa dạng và phức tạp; Bộ luật lao
động lần đầu tiên đợc ban hành, các văn bản hớng dẫn thi hành Bộ luật cha đầy đủ, nhiều qui định không rõ ràng, cha đợc hớng dẫn nên trong thực tế áp dụng
có nhiều cách giải thích khác nhau.
-Lao động, việc làm vừa là vấn đề kinh tế vì nó là nguồn bảo đảm kinh tế cho đời sống của tầng lớp đông đảo trong xã hội, vừa là chính sách xã hội
mang tính xã hội và hiện tại đang là vấn ®Ị thêi sù nãng báng, thu hót sù quan t©m của cả tập thể lao động, của mỗi nhóm cộng đồng nơi xảy ra tranh chấp
thậm chí của cả nớc. Điều đó không khỏi tạo nên sức ép về mặt tâm lý, tác động đến quá trình giải quyết vụ ¸n.
-Tranh chÊp lao ®éng ph¸t sinh chđ u tõ viƯc thực hiện quyền và nghĩa vụ lao đông trong doanh nghiệp, đợc coi là vấn đề nội bộ trong doanh nghiệp,
thuộc phạm vi tổ chức quản lý của chủ sử dụng lao động. Đặc điểm có tính khách quan đó cho thấy việc điều tra, xác minh thu thập chứng cứ của Toà án,
kể cả việc thu thập chứng cứ để cung cấp cho Toà án của đơng sự cũng không dễ dàng, đặc biệt là đối với doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
-Thủ tục giải quyết các vụ án lao động là một thủ tục tố tụng đặc thù, phản ánh nội dung bản chất của tranh chÊp lao ®éng. Thđ tơc tè tơng lao ®éng
cã nhiỊu qui định cụ thể khác nhau với thủ tục tố tụng dân sự. Trong khi đó chúng ta lại cha có đợc những thẩm phán đợc đào tạo cơ bản và chuyên sâu về
giải quyết án lao động; thẩm phán và cán bộ Toà án tại các Toà lao động hiện nay đã quen với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự kinh tế nên khi đợc giao
giải quyết án lao động đã tỏ ra lúng túng hoặc chđ quan, thiÕu thËn träng.

II. Thùc tiƠn ¸p dơng ph¸p luật trong xét xử các vụ án lao động.


Vấn đề thùc tiƠn ¸p dơng ph¸p lt trong xÐt xư c¸c vụ án lao động đợc nghiên cứu trên hai nội dung chủ yếu sau:
-Về áp dụng các quy định của Bộ luật lao động để giải quyết vụ tranh chấp.
-Về áp dụng các quy định của pháp lệnh. Về phơng diƯn lý ln, hai néi dung nªu trªn cã thĨ đợc nghiên cứu từ
nhiều góc độ khác nhau nh: Cơ sở lý luận và thực tiễn, nguyên tắc áp dụng, vấn đề hoàn thiện pháp luật.vv...Trong khuôn khổ của chuyên đề này, với mục
đích nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của việc xét xử các vụ án lao động, ta chỉ đề cấp đến những sai sót của các cấp Toà án trong áp dụng pháp luật, qua
các vụ án cụ thể và cũng chỉ tập ttrung vào những vấn đề, những loại tranh chấp phức tạp, có nhiều vấn đề vớng mắc và thờng có sai sót, nh trong các vụ
tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, tiền lơng, bảo hiểm xã hội.
A. Về áp dụng quy định của Bộ luật lao động: 1. Trong các vụ án về chấm dứt hợp đồng lao động.
Trong các vụ án về đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động, sai sót thờng là trong việc xác định căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động và liên quan đến nó
là vấn đề giải quyết các quyền lợi vật chất cho ngời lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động nh: Tiền trợ cấp, tiền bồi thờng, các khoản khác cha đợc thanh
toán.
Vụ án 1: Vụ tranh chấp giữa ông Lê Hữu Hiền với công ty Clasic Mode.
Tóm tắt nh sau: Ông Lê Hữu Hiền làm việc cho Công ty Clasic Mode từ năm 1996 theo 4 hợp đồng lao động loại xác định thời hạn từ 3 tháng đến 1
năm. Hợp đồng thứ 4 ký ngày 1-6-1998 có thời hạn đến ngày 1-6-1999.
Ngày 1-8-1998 công ty Classic Mode ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Hiền. Ngày 3 - 10 - 1998, ông Hiền khởi kiện đòi bồi thờng
do bị đơn chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trớc, đòi trả tiền làm thêm giờ và tiền chênh lệch tỷ giá giữa đồng USD và đồng Việt Nam.
Tại bản án sơ thẩm số 01 STLĐ ngày 5 - 11 - 1998, Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã xử:
Bác yêu cầu đòi tiền làm thêm giờ vào những ngày chủ nhật của
ông Hiền.
Buộc ông Ang Kok Hwa bồi thờng đơn chấm dứt hợp đồng lao
động trái luật từ 1 - 9 - 1998 đến 1 - 6 - 1999 là 9 tháng bằng 630 USD, trừ 140 USD đã nhận trớc, còn lại là 490 USD.
Bồi thờng chênh lệch tỷ giá thời điểm trả lơng tới tháng 11 - 1997
là tháng 6 bằng 337.800 đồng.
Sau khi xét xử các đơng sự đều kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 15 PTLĐ ngày 23 - 04 - 1999, Toà phúc thẩm
Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử:
Sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu đòi bồi thờng tiền lơng trong thời gian không đợc làm việc, do Công ty chấm dứt hợp đồng lao động đúng
pháp luật.
Sửa án sơ thẩm về việc buộc công ty bồi thờng chênh lệch tỷ giá là
287.337 đồng.
Sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của ông Hiền đòi trả tiền làm
thêm giờ và ngày chủ nhật tổng cộng là 9.979.728 đồng.
Sau khi có án phúc thẩm, công ty Classic Mode khiếu nại cho rằng: án phúc thẩm buộc công ty thanh toán tiền làm thêm giờ và ngày chủ nhật là trái
với quy định của điều 167 Bộ luật lao động, buộc công ty thanh toán tiền chênh lệch tỷ giá là trái với thông t số 11LĐTBXHTT ngày 3 - 5 - 1995 của
Bộ Lao động thơng binh và xã hội. Việc chấm dứt hợp đồng lao động của công ty là đúng pháp luật.
Qua việc xét xử của Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm, xét riêng về việc chấm dứt hợp đồng lao động, thấy rằng:
Vấn đề chủ yếu và trớc hết mà Toà án cần phải làm rõ trong vụ án này là: Việc chấm dứt hợp đồng lao động của công ty Classic Mode với ông Lê Hữu
Hiền có đúng pháp luật hay không? Tuy rằng sau đó ông Hiền cũng đồng ý không tiếp tục làm việc nữa nhng Toà án vẫn phải kết luận rõ ràng, đầy đủ để
có cơ sở giải quyết vấn đề trợ cấp, bồi thờng nếu vi phạm thời hạn báo trớc và tiền lơng trong thời gian nghỉ việc nếu chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. ở cấp
sơ thẩm, trên cơ sở xác định công ty chấm dứt hợp đồng lao động không có căn cứ theo quy định tại các Điều 17, 38 của luật lao động nên Toà án đã xử
buộc công ty phải bồi thờng cho ông Hiền tiền lơng trong thời gian không đợc làm việc.
Ngợc lại, Toà án cấp phúc thẩm lại bác yêu cầu đòi bồi thòng vì cho rằng Công ty chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật. Cơ sở để Toà án cấp
phúc thẩm căn cứ vào đó để kết luận Công ty chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật là ở chỗ ông Hiền đã đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động, đã
nhận khoản trợ cấp nghỉ việc, tức là 2 bên đã thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động .
Kết quả thẩm tra lại vụ án tại Toà án cấp giám đốc cho thấy việc chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty Classic Mode là trái pháp luật và nh vậy
Toà sơ thẩm về vấn đề này là đúng. Toà án cấp phúc thẩm cũng đã làm rõ các tình tiết có liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng từ việc Công ty chuyển ông
Hiền từ bộ phận sản xuất sang bộ phận thu mua sản phẩm, việc ông Hiền không đồng ý, Công ty quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, ông Hiền
nhận trợ cấp và tự nguyện không tiếp tục làm việc. Nhng Toà phúc thẩm đánh giá không đúng tính chất của hành vi đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động.
Nếu là thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động thì phải là sự tự nguyện thoả thuận giữa các bên về việc chấm dứt hợp
đồng lao động nhng tại thời điểm thoả thuận thì hợp đồng lao động cha đợc chấm dứt. Trong trờng hợp này, hợp đồng lao động đã bị đình chỉ bởi ý chí của
1 bên là Công ty Clasic Mode . Việc ông Hiền có đồng ý hay không cũng không làm cho quyết của Công ty mất hiệu lực ngay lúc đó. Việc ông Hiền
đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động là việc phải chấp nhận khi hợp đồng lao động đã bị chấm dứt, việc các khoản thanh toán khi chấm dứt hợp đồng lao
động không phải là hành vi thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
Thêm 1 vấn đề nữa là mặc dù nhận định rằng 2 bên đã thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động nhng trong phần quyết định của bản án, Toà án cấp
phúc thẩm lại viện dẫn các căn cứ pháp luật về đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động điểm d khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động
Ngày 20-10-1999, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm. Tại quyết định giám đốc thẩm số 04UBTP-LĐ
ngày 29-12-1999 Uỷ ban thẩn phán Toá án nhân dân tối cao đã xử huỷ bản án phúc thẩm số 15PTLĐ giao hồ sơ cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao
thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm lại theo hớng xác định việc đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty Clasic Mode là trái pháp luật.
Vụ án 2: Vụ tranh chấp giữa bà Phạm Thị Thanh với chi nhánh ngân hàng công thơng Hng Yên.
Nội dung vụ án đợc tóm tắt nh sau: Bà Phạm Thị Thanh làm việc tại chi nhánh ngân hàng công thơng Hng Yên theo chế độ hợp đồng lao động loại
không xác định thời hạn. Công việc phải làm là cấp dỡng và lao công tại phòng giao dịch số 7.
Qúa trình làm việc bà Thanh nhiều lần không hoàn thành công việc cấp dỡng nấu cơm sống, khê, thức ăn không chín nên ngày 20-4-1998 Giám đốc
Chi nhánh ngân hàng công thơng Hng Yên quyết định cho bà Thanh thôi làm cấp dỡng, chuyển sang làm bảo vệ và lao công. Khi chuyển sang làm bảo vệ và
lao công, bà Thanh vẫn nhiều lần không hoàn thành công việc.
Ngày 1-12-1998, Giám đốc ngân hàng Chi nhánh công thơng Hng Yên quyết định xử lý kỷ luật khiển trách đối với bà Thanh và sau đó yêu cầu bà
Thanh ký lại hợp đồng lao động loại xác định thời hạn nhng bà Thanh không đồng ý. Ngày 27-4-1999 Ngân hàng công thơng Hng Yên thông báo cho bà
Thanh nghỉ trớc 45 ngày hởng 100 lơng cơ bản. Ngày 16-6-1999 , Toà án nhân dân thị xã Hng Yên đã xử: Chiếu theo Điều 1,2,5,9,26 và Điều 38 khoản
1 điểm a Bộ luật lao động: Bác đơn kiện của bà Thanh phải nộp 50.000đ án phí sơ thẩm.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Thanh kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.
Tại bản án số 02PTLĐ ngày 18-11-1999, Toà án nhân dân tỉnh Hng Yên đã xử: áp dụng Điều 38 khoản 1 ®iĨm a Bé lt lao ®éng , Th«ng t số
21LĐTBXH-TT, Điều 70 khoản 2 điểm a pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, xử bác đơn kiện của bà Thanh , bà Thanh phải chịu
50.000đ án phí sơ thẩm và 50.000đ án phí phúc thẩm.
Sau khi xử phúc thẩm, bà Thanh tiếp tục khiếu nại. Ngay từ khi khởi kiện và trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở Toà cấp
sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, bà Thanh đều cho rằng bà không có sai phạm hoặc không có lỗi, việc chấm dứt hợp đồng với bà Thanh là vì động cơ
cá nhân, do giám đốc ngân hàng công thơng Hng Yên trù dập, trả thù bà. Còn phía Ngân hàng công thơng thì cho rằng việc chấm dứt hợp đồng lao động với
bà Thanh là đúng vì bà Thanh không thờng xuyên hoàn thành công việc đợc
giao, hay gây mất đoàn kết, không chịu tiếp thu phê bình và sửa chữa khuyết điểm.
Để có cơ sở giải quyết yêu cầu của các bên, Toà án các cấp đều đã thu thập đầy đủ các chứng cứ thể hiện quá trình làm việc của bà Thanh tại Chi
nhánh Ngân hàng công thơng Hng Yên. Điểm thống nhất trong đánh giá của tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án này là bà Thanh đã nhiều lần
không hoàn thành khối lợng, chất lợng công việc đợc giao, do lỗi của chính bà. Khi còn làm cấp dỡng nhiều lần nấu cơm sống, khê, thức ăn không chín làm
ảnh hởng đến đời sống sức khoẻ của cán bộ công nhân viên làm việc tại phòng giao dịch số 7. Khi chuyển sang làm lao công và bảo vệ cũng có nhiều lần từ
chối không nhận nhiệm vụ bảo vệ, bỏ trực về phòng riêng ngủ, nhiều lần không dọn vệ sinh cơ quan hoặc làm qua loa đại khái.
Những vi phạm đó làm ảnh hởng đến trật tự nề nếp làm việc và sinh hoạt của cơ quan. Ngoài ra, những tình tiết khác có liên quan cũng đã đợc Toà án
các cấp xem xét nh: Bà Thanh không có thái độ cầu thị, tiếp thu phê bình và sửa chữa khuyết điểm, gây mất đoàn kết nội bộ, cãi nhau với cán bộ công nhân
viên trong cơ quan và nhân dân nơi cơ quan đóng trụ sở, đánh nhau với lái xe. Vì những khuyết điểm đó mà tất cả các cán bộ công nhân viên phòng giao dịch
số 7 đã không ủng hộ bà Thanh và đã nhiều lần có văn bản trả bà Thanh về trung tâm.
Nh vậy lý do bà Thanh đa ra là không có cơ sở chấp nhận. Vấn đề còn lại cần phải làm rõ là việc đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động của Chi nhánh
Ngân hàng Công Thơng Hng Yên đối với bà Thanh dựa trên căn cứ pháp lý nào.
Phía Ngân hàng Công Thơng khẳng định việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà Thanh là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật
Lao Động - thuộc trờng hợp Ngời lao động thờng xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng
Thông t số 21LĐTBXH ngày 12\\10\\1996 của Bộ lao động thơng binh xã hội đã hớng dẫn áp dụng điểm a khoản 1 Điều 38 của bộ luật lao động, thờng
xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động, cụ thể là các trờng hơp sau:
-Đối với loại hợp đồng lao động không xác định đợc thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn từ 1 năm đến 3 năm, nếu hết ngày này qua ngày khác
liên tục trên hai tháng ngời lao động không hoàn thành khối lợng và chất lợng công việc do lỗi của bản thân, thì đựơc coi là không hoàn thành công việc theo
hợp đồng lao động.
-Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm cũng áp dụng điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động nhng không áp dụng hớng dẫn của thông t số 21LĐTBXH-
TT vì cho rằng nội dung hớng dẫn tại thông t số 21LĐTBXH-TT bất cập không phù hợp với thực tế nên không thể áp dụng đợc. Cũng tại bản án số
02PTLĐ Hội đồng xét xử của Toà án nhân dân tỉnh Hng Yên lập luận rằng vì có ngày nghỉ hàng tuần nên trong thực tế không bao giờ xảy ra việc không
hoàn thành công việc hết ngày này qua ngày khác và không ai có thể chờ cho bà Thanh nấu cơm sống khê trên hai tháng liền.
Lập luận và quyết định của bản án phúc thẩm không đúng cả về phơng pháp luận trong nhận thức và cả về nguyên tắc áp dụng pháp luật.
Về mặt phơng pháp luận: Cách giải thích của bản án phúc thẩm không đúng với tinh thần của nội dung hớng dẫn tại thông t số 21LĐTBXH-TT:
Ngày này qua ngày khác là ngày làm việc theo quy định của đơn vị sử dụng lao động hoặc pháp luật có quy định chứ không phải là ngày theo lịch dùng để
tính thời hạn. Nếu đơn vị sử dụng lao động quy định tuần chỉ làm việc 3 ngày mà trong cả 6 ngày của 2 tuần, ngời lao động không hoàn thành công việc.
Tính liên tục ở đây phải đợc hiểu là sự kế tiếp nhau không gián đoạn giữa các ngày làm việc. Tơng tự nh vậy, tháng của tháng làm việc chứ không phải là
tháng theo việc, do đó liên tục liền hai tháng phải đợc hiểu là cộng dồn của trên 8 tuần làm việc và mỗi việc là cộng dồn những ngày làm việc. Nh vậy
tháng có thể làm 24 ngày trở xuống nếu quá 24 ngày là vợt quá thời gian chuẩn của Nhà nớc quy định thì đơn vị sử dụng lao động phải có các quy định
khác bảo đảm quyền lợi cho ngời lao động.
Về nguyên tắc áp dụng pháp luật: Từ nhận thức không đúng về nội dung của thông t số21LĐTBXH-TT nên Toà cấp phúc thẩm cho rằng hớng dẫn tại
thông t là trái với điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động và do đó phải áp dụng Bộ luật lao động là văn bản có giá trị pháp lý cao hơn.
Nếu xét riêng về nội dung thì hớng dẫn tại thông t không phải trái với quy định của Bộ luật nhng vì theo khoản 3 Điều 58 luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, thông t của Bộ trởng đợc ban hành là để hớng dẫn chứ không phải là quy định chi tiết các quy định của luật. Nh vậy chỉ có thể coi hớng dẫn
của thông t là trái về mặt thẩm quyền.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 80 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì : Trong trờng hợp các văn bản quy phạm pháp luật quy định khác
nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn . Nh đã phân tích ở trên, giữa thông t số 21 và điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật
lao động không có nội dung mâu thuẫn hoặc phủ định nhau, Toà cấp sơ thẩm và phúc thẩm không áp dụng thông t số 21 là không đúng.
Bản án phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Hng Yên về vụ án trên đã bị phó Chánh án Toà án tối cao kháng nghị.
Tại quyết định số 02GĐP-LĐ ngày 1952000 Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm của Toà lao động Toà án nhân dân tối cao đã quyết định : Sửa bản án
phúc thẩm, huỷ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của chi nhánh Ngân hàng Công Thơng đối với bà Thanh.

2. Trong các vụ án về kỷ luật sa thải.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án lao động.

Tải bản đầy đủ ngay(61 tr)

×