1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 61 (trang)
Trong các vụ án về kỷ luật sa thải.

Trong các vụ án về kỷ luật sa thải.

Tải bản đầy đủ - 61trang

phạm pháp luật, thông t của Bộ trởng đợc ban hành là để hớng dẫn chứ không phải là quy định chi tiết các quy định của luật. Nh vậy chỉ có thể coi hớng dẫn
của thông t là trái về mặt thẩm quyền.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 80 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì : Trong trờng hợp các văn bản quy phạm pháp luật quy định khác
nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn . Nh đã phân tích ở trên, giữa thông t số 21 và điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật
lao động không có nội dung mâu thuẫn hoặc phủ định nhau, Toà cấp sơ thẩm và phúc thẩm không áp dụng thông t số 21 là không đúng.
Bản án phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Hng Yên về vụ án trên đã bị phó Chánh án Toà án tối cao kháng nghị.
Tại quyết định số 02GĐP-LĐ ngày 1952000 Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm của Toà lao động Toà án nhân dân tối cao đã quyết định : Sửa bản án
phúc thẩm, huỷ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của chi nhánh Ngân hàng Công Thơng đối với bà Thanh.

2. Trong các vụ án về kỷ luật sa thải.


Trong các vụ ¸n vỊ kû lt sa th¶i, sai sãt chđ u tập trung ở các vấn đề nh căn cứ sa thải, thời hiệu xử lý kỷ luật sa thải và thủ tục xử lý kỷ luật.
Dới đây là một số trờng hợp cụ thể:
Vụ án 1: Kỷ luật sa thải giữa anh Nguyễn Thanh Hải với Xí nghiệp liên hiệp công trình đờng sắt. Vụ án đợc tóm tắt nh sau:
Anh Nguyễn Thanh Hải làm việc tại Xí nghiệp liên hiệp công trình đờng sắt từ tháng t năm 1985. Sau khi tèt nghiƯp Trêng trung häc giao th«ng vËn tải,
anh Hải đợc chuyển sang ngạch kỹ thuật viên làm việc tại Xí nghiệp công trình 794, từ tháng 111995 đợc đề bạt làm phó giám đốc Xí nghiệp công trình 792.
Năm 1992 sau khi lập gia đình anh Hải làm đơn xin một lô đất trong khu vực quản lý của Xí nghiệp công trình 792 để làm nhà ở. Sau khi đợc ông Vũ
Văn Bôn giám đốc Xí nghiệp công trình 792 đồng ý, anh Hải xây dựng nhà ở. Tháng 111996 giám đốc Xí nghiệp ra quyết định giải toả khu nhà ở để xây
dựng nhà điều hành sản xuất nhng anh Hải không đồng ý dỡ và chuyển nhà vì cho rằng Xí nghiệp liên hiệp cha lập hội đồng định giá để giải quyết vấn đề bồi
thờng. Ngày 2071997 giám đốc Xí nghiệp ra công điện số 03 tạm thời đình chỉ công tác đối với anh Hải. Trong thời hạn bị tạm đình chỉ công tác, anh Hải
đã nhiều lần có đơn gủi lãnh đạo Xí nghiệp liên hiệp xin chấm dứt hợp đồng lao động và xin chuyển công tác nhng không đợc chấp nhận vì lý do anh Hải
cha giải toả nhà. Ngày 05121997 giám đốc Xí nghiệp liên hiệp ra quyết định số 276LHCT-TCLĐ xử lý cách chức phó giám đốc xí nghiệp công trình 792
đối với anh Hải và bố chí làm kỹ thuật viên thi công tại Xí nghiệp công trình 792. Ngày 02021998 giám đốc xí nghiệp công trình ra quyết định số
28LHCT-TCLĐ xử lý kỷ luật anh Hải bằng hình thức sa thải.
Ngày 27-3-1998 anh Hải khởi kiện tại Toà án nhân dân Thành phố Huế. Tại bản án sơ thẩm số 01 ngày 3-9-1998, Toà án nhân dân thành phố
Huế đã quyết định: Anh Hải không vi phạm kỷ luật lao động; Công nhận anh Hải đợc đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 6-10-1997; huỷ bỏ
các quyết định, thông báo tạm đình chỉ, đình chỉ công tác; tuyên bố vô hiệu với quyết định số 276 về việc xử lý kỷ luật cách chức phó giám đốc và quyết định
số 28 kỷ luật sa thải đối với anh Hải. Ngoài ra bản án còn quyết định trợ cấp thôi việc, bồi thờng các quyền lợi trong thời gian bị đình chỉ và sa thải; bác yêu
cầu của Xí nghiệp liên hiệp đòi anh Hải phải bồi thờng thiệt hại do không giải toả nhà, tiền đi học và tiền bán sắt vụn mà anh Hải chiếm dụng.
Sau khi xét xử sơ thẩm Xí nghiệp liên hiệp kháng cáo. Tại bản án số 01LĐPT ngày 26\\08\\1998, Toà án nhân dân tỉnh Thừa
Thiên Huế ra quyết định: Sửa toàn bộ các quyết định của bản án sơ thẩm; cụ thể là: Huỷ quyết định của bản án sơ thẩm, đình chỉ việc giải quyết yêu cầu
của anh Hải đòi huỷ quyết định cách chức phó giám đốc; công nhận quyết định xử lý kỷ luật sa thải, anh Hải không đợc trợ cấp vì bị sa thải theo điểm a
và c khoản 1 Điều 85 Bộ luật lao động; công nhận văn bản tạm đình chỉ ngày 20021997, buộc xí nghiệp liên hiệp trả 50 tiền lơng trong thời gian tạm
đình chỉ theo quyết định đó.
Nh vậy, xung quanh việc giải quyết những nội dung chủ yếu của việc tranh chấp thì giữa toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm có quan điểm trái ngợc
nhau.
Trớc hết, về yêu cầu huỷ bỏ các quyết định tàm đình chỉ, đình chỉ công tác đối với anh Hải. Thời gian tạm đình chỉ là 10 th¸ng tõ 2502 đến
31121997 với cùng một lý do là để tự giải toả nhà xây dựng trái phép.
ở cấp sơ thẩm, Toà án xác định lý do tạm đình chỉ công tác là không đúng với quy định tại Điều 92- Bộ luật lao động nên xử huỷ toàn bộ các quyết
định tạm đình chỉ và đình chỉ công tác. ở cấp phúc thẩm Toà án xác định anh Hải không giải toả nhà là vi phạm kỷ luật, Xí nghiệp có quyền xử lý tạm đình
chỉ; nhng chỉ công nhận tạm đình chỉ trong 3 tháng đầu.
Căn cứ vào quy định Điều 92-BLLĐ thấy rằng lý do để Xí nghiệp Công trình đờng sắt tạm đình chỉ, đình chỉ công tác anh Hải là để anh Hải tự giải toả
nhà xây dựng trái phép chứ không phải là để xác minh việc vi phạm kỷ luật. Mặt khác hành vi vi phạm chế độ quản lý đất đai, nhà ở, xây dựng không thuộc
phạm vi điều chỉnh của luật lao động và nh vậy quyết định của Toà sơ thẩm huỷ bỏ các quyết định, thông báo tạm đình chỉ, đình chỉ của Xí nghiệp liên
hiệp đờng sắt đối với anh Hải là đúng.
Vì quyết định xử lý cách chức Phó giám đốc: Đó không phải là quyết định xử lý kỷ luật lao động theo quy định của Luật lao động mà là quyết định
hành chính tớc bỏ một chức danh quản lý thuộc phạm vi quản lý sản xuất quản trị doanh nghiệp đợc quy định tại luật Doanh nghiệp Nhà nớc ngày
30041995. Toà án cấp sơ thẩm xem xét và đa ra tuyên bố vô hiệu là không có căn cứ pháp luật. Toà án cấp phúc thẩm đã huỷ phần quyết định này và đình
chỉ việc giải quyết của anh Hải là đúng.
Về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Theo Toà cấp sơ thẩm thì trong thời gian tạm đình chỉ công tác anh Hải đã nhiều lần làm đơn xin chuyển công tác
và chấm dứt hợp đồng lao động. Việc chấm dứt hợp đồng của anh Hải là phù hợp với quy định tại Điều 37-BLLĐ. Trên cơ sở đó Toà sơ thẩm công nhận anh
Hải đã chấm dứt hợp đồng lao động và xin chuyển công tác, nhng đến 10121997 anh Hải còn có đơn xin chuyển công tác và ngày 28121997 anh
Hải còn viết bản kiểm điểm và đọc trớc đơn vị; trong đơn anh Hải vẫn khẳng định anh là cán bộ Xí nghiệp liên hiệp, không đề cập gì đến việc chấm dứt hợp
đồng lao động nh vậy Toà cấp phúc thẩm căn cứ vào Điều 40-BLLĐ để cho rằng anh Hải cha chấm dứt hợp đồng lao động là hoàn toàn có cơ sở.
Về quyết định kỷ luật sa thải: Theo quyết định của kỷ luật số 28LHCT- TCLĐ ngày 02021998 thì anh Hải bị sa thải vì lý do cố tình không chấp hành
quyết định điều hành của Giám đốc, tự ý bỏ việc từ ngày 08121997, còn cản trở việc xây dựng trung tâm điều hành, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế
chiếm dụng tiền bán sắt vụn, cố tình nợ dây da, sử dụng tiền vay sai mục đích.Toà cấp sơ thẩm và phúc thẩm có quyết định khác nhau về tính hợp pháp
về quyết định sa thải nhng lại đều dựa trên những nhận định không đúng về lý do sa thải.Toà cấp sơ thẩm cho rằng việc sa thải sau khi anh Hải đã chấm dứt
hợp đồng lao động là không có giá trị pháp lý còn Toà cấp phúc thẩm cho rằng hành vi chiếm dụng đất, xây nhà trái phép khi có quyết định giải toả anh Hải
đã nhận tiền ứng nhng không di chuyển làm cản trở tiến độ sản xuất đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và lợi ích của Xí nghiệp liên hiệp Đờng sắt.
Nh phần trên đã nêu, vi phạm của anh Hải trong lĩnh vực đất đai nhà ở không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật lao động, đó không phải là hành vi vi
phạm kỷ luật lao động do đó Toà phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điêù 85- BLLĐ là không đúng.
Về khoản tiền bán sắt vụn đây là một trong những lý do để Xí nghiệp liên hiệp Đờng sắt kỷ luật sa thải anh Hải nhng Toà cấp sơ thẩm không xem xét là
thiếu sót. Toà cấp phúc thẩm có xem xét nhng không căn cứ vào quy định của Điều 86-BLLĐ để bác lý do này là không đúng hành vi đó xảy ra từ năm 1993,
năm 1996 mới phát hiện thì đã hết thời hạn xử lý kỷ luật lao động.
Về hành vi tự ý nghỉ việc: Hành vi này đã không đợc Toà sơ thẩm xem xét, cũng với lý do là anh Hải đã chấm dứt hợp đồng lao động từ trớc đó. Toà
cấp phóc thÈm cã xem xÐt nhng tÝnh sè ngµy bá việc không chính xác theo Toà cấp phúc thẩm thì anh Hải bỏ việc từ khi nhận đợc quyết định cách chức
08121997 đến khi bị sa thải 13011998 là 57 ngày. Toà phúc thẩm đã không xem xÐt hiÖu lùc của Thông báo số 321 LHCT-TCLĐ ngày
02111997. Thông báo này ấn định thời hạn tạm đình chỉ công tác đối với anh Hải là đến ngày 31121997. Nh vËy thêi gian bá viƯc cđa anh H¶i ph¶i tÝnh từ
ngày 01011998 đến 13011998 là 13 ngày đủ điều kiện để áp dụng điểm c khoản 1 Điều 85-BLLĐ để kỷ luật sa thải. Và khi bị sa thải vì lý do bỏ việc
anh Hải vẫn đợc hởng trợ cấp thôi việc.
Có thể nói đây là vụ án khá phức tạp có nhiều tình tiết do các chế định pháp luật khác nhau điều chỉnh, nh vấn đề đối tợng phạm vi áp dụng pháp luật,
vấn đề hợp đồng lao động, kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất.Về cơ bản việc xác minh, thu thập chứng cứ là đầy đủ nhng việc xem xét đánh giá các
chứng cứ của cả Toà sơ thẩm và phúc thẩm đều không đúng; Đặc biệt là không
xem xét một cách toàn diện cả về căn cứ áp dụng điều khoản luật và vÊn ®Ị thêi hiƯu xư lý do ®ã dÉn ®Õn áp dụng pháp luật không đúng. Bản án phúc
thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã bị kháng nghị Giám đốc thẩm và tại quyết định số 01GĐT- LĐ ngày 5-1-1999 Hội đồng xét xử giám
đốc của Toà lao động Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: Sửa bản án phúc thẩm buộc Xí nghiệp liên hiệp công trình đờng sắt trả đủ 100 lơng cho anh
Hải trong thời gian bị tạm đình chỉ, đình chỉ công tác, buộc Xí nghiệp liên hiệp công trình đờng sắt phải trả trợ cấp thôi việc cho anh Hải.
Vụ án 2: Vụ tranh chấp về kỷ luật sa thải giữa anh Nguyễn Kế Đàn với Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long.
Nội dung vụ án đợc tóm tắt nh sau: Anh Nguyễn Kế Đàn là cán bộ tín dụng, làm việc tại chi nhánh Huyện
Long Hồ thuộc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tỉnh Vĩnh Long. Trong quá trình công tác anh Đàn mắc một số sai phạm về
nghiệp vụ
hồ sơ
thủ -TCCB kỷ luật sa thải đối với anh Đàn kể từ ngày 5-3-1997. Ngày 20-11-1997
anh Đàn khởi kiện ra Toà án.
Tại bản án sơ thẩm số 01LĐST ngày 2-2-1999 Toà án nhân dân thị xã Vĩnh Long đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 85-BLLĐ, bác yêu cầu
khởi kiện của anh Đàn, giữ nguyên quyết định kỷ luật sa thải. Sau khi xét xử sơ thẩm,anh Đàn kháng cáo bản án.
Tại bản án phúc thẩm số 01 LĐPT ngày 20-4-1999, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định bác đơn kháng cáo của anh Đàn.
Ngày 25-8-1999, Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án nói trên để xét xử lại theo thủ tục Giám đốc thẩm.
Quyết định Giám đốc thẩm số 03GĐT- LĐ ngày 30-9-1999 của Toà lao động Toà án nhân dân tối cao đã sửa bản án phúc thẩm, huỷ quyết định kỷ luật
sa thải của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long.
Trong vụ án này lý do chủ yếu dẫn đến việc anh Đàn bị kỷ luật sa thải là cố ý làm sai quy trình nghiệp vụ và tham ô. Những hành vi nói trên đã đợc quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 85-BLLĐ. Khi giải quyết vụ án Toà án phải căn cứ vào biên bản họp xét kỷ luật, quyết định sa thải để làm rõ những hành vi vi
phạm của anh Đàn. Thế nhng cả Toà cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều không xem xét đầy đủ và toàn diện do đó quyết định về toàn bộ vụ án không đúng.
Cụ thể là:
- Biên bản họp xét kỷ luật anh Đàn có nêu hành vi cố ý làm sai quy trình nghiệp vụ, nhng Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là thiếu sót.
- Anh Đàn nhiều lần có hành vi tham ô nhng cả Toà sơ thẩm và phúc thẩm đều không xem xét hết tất cả các hành vi vi phạm.
- Cả Toà sơ thẩm và phúc thẩm mới chỉ xem xét hành vi vi phạm kỷ luật chứ cha xem xét nguyên tắc và thời hiƯu xư lý kû lt. VÝ dơ víi hµnh vi
lµm sai quy trình nghiệp vụ, Toà án có xem xét nhng không đánh giá là hành vi đó đã đợc xử lý, nếu cha đợc xử lý thì cũng hết thời hiệu xử lý hoặc
các hành vi thu nợ của ông Phan Văn Sơn, bà Nguyễn Lệ Hồng, ông Nguyễn Văn Mời; Trong đó có hành vi đã đợc xử lý có hành vi cha đợc xử
lý nhng đã hết thời hiệu, nhng Toà án cũng không căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 84 và Điều 86- BLLĐ để bác bỏ.
- Trong vụ án này hoàn toàn không có căn cứ để áp dụng điểm b khoản 1 Điều 85- BLLĐ nhng Toà cấp phúc thẩm đã lấy việc xử lý khiển trách trớc
đó làm căn cứ áp dụng là không đúng.
- Việc xử lý kỷ luật sa thải cá vi phạm nghiêm trọng về thủ tục; Không có mặt đơng sự; Khi họp xét kỷ luật Toà án có xem xét nhng đánh giá không
đúng tính chất của việc vi phạm, chỉ coi là sai sót cần rút kinh nghiệm là không thoả đáng.
B. Về áp dụng các quy định của pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động.

1. Thụ lý vụ án lao ®éng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong các vụ án về kỷ luật sa thải.

Tải bản đầy đủ ngay(61 tr)

×