1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 61 (trang)
Thụ lý vụ án lao động.

Thụ lý vụ án lao động.

Tải bản đầy đủ - 61trang

phạm của anh Đàn. Thế nhng cả Toà cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều không xem xét đầy đủ và toàn diện do đó quyết định về toàn bộ vụ án không đúng.
Cụ thể là:
- Biên bản họp xét kỷ luật anh Đàn có nêu hành vi cố ý làm sai quy trình nghiệp vụ, nhng Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là thiếu sót.
- Anh Đàn nhiều lần có hành vi tham ô nhng cả Toà sơ thẩm và phúc thẩm đều không xem xét hết tất cả các hành vi vi phạm.
- Cả Toà sơ thÈm vµ phóc thÈm míi chØ xem xÐt hµnh vi vi phạm kỷ luật chứ cha xem xét nguyên tắc vµ thêi hiƯu xư lý kû lt. VÝ dơ víi hành vi
làm sai quy trình nghiệp vụ, Toà án có xem xét nhng không đánh giá là hành vi đó đã đợc xử lý, nếu cha đợc xử lý thì cũng hết thời hiệu xử lý hoặc
các hành vi thu nợ của ông Phan Văn Sơn, bà Nguyễn Lệ Hồng, ông Nguyễn Văn Mời; Trong đó có hành vi đã đợc xử lý có hành vi cha đợc xử
lý nhng đã hết thời hiệu, nhng Toà án cũng không căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 84 và Điều 86- BLLĐ để bác bỏ.
- Trong vụ án này hoàn toàn không có căn cứ để áp dụng điểm b khoản 1 Điều 85- BLLĐ nhng Toà cấp phúc thẩm đã lấy việc xử lý khiển trách trớc
đó làm căn cứ áp dụng là không đúng.
- Việc xử lý kỷ luật sa thải cá vi phạm nghiêm trọng về thủ tục; Không có mặt đơng sự; Khi họp xét kỷ luật Toà án có xem xét nhng đánh giá không
đúng tính chất của việc vi phạm, chỉ coi là sai sót cần rút kinh nghiệm là không thoả đáng.
B. Về áp dụng các quy định của pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động.

1. Thụ lý vụ án lao động.


Thụ lý vụ án là việc Toà án chấp nhận đơn kiện văn bản khởi tố bằng việc vào sổ thụ lý vụ án.
Thụ lý vụ án là sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghÜa vơ tè tơng cđa ngêi tiÕn hµnh tè tơng, ngêi tham gia tè tơng trong vơ ¸n.
ë cÊp phóc thẩm việc thụ lý vụ án khá đơn giản vì vụ án đã qua xét xử ở một cấp Toà án. Đơn kháng cáo và hồ sơ vụ án do Toà cấp sơ thẩm chuyển đến
Toà phúc thẩm chỉ tiếp nhận và vào sổ thụ lý. Còn ở cấp sơ thẩm Toà án phải xem xét tất cả các vấn đề có liên quan nh thẩm quyền, thời hiệu và các điều
kiện để thụ lý vụ án.
Thụ lý vụ án là hoạt động tố tụng đầu tiên có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nếu thụ lý sai thì giải quyết hậu quả khá phức tạp. Thể hiện ở chỗ: Sau
khi thụ lý đến trớc khi đa vụ án ra xÐt xư nÕu viƯc ph¸t hiƯn ra viƯc thơ lý sai thì không thể trả lại đơn kiện mà phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;
Nhng quyết định đó có thể bị kháng cáo, kháng nghị và nh vậy vụ án có thể bị kéo dài mà nội dung tranh chấp vẫn cha đợc giải quyết. Ngợc lại, nếu không
phát hiện ra và Toà án cứ giải quyết vụ án thì bản án đó phải bị huỷ bỏ.
Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, việc thụ lý vụ án lao động phức tạp hơn so với thụ lý vụ án dân sự. Khi tiếp
nhận đơn kiện toà án cũng phải xem xét các điều kiện để thụ lý; Nhng với việc kiện về lao động thì vấn đề thẩm quyền của Toà án và thời hiệu khởi kiện là
phức tạp nhất và thờng có sai sót.
Về thẩm quyền. Khi tiếp nhận đơn kiện vấn đề trớc hết Toà án phải xem xét là việc tranh
chấp có phải là tranh chấp lao động hay không. Theo quy định tại Điều 157- BLLĐ thì đặc trng pháp lý của tranh chấp lao động là tranh chấp giữa ngời sử
dụng lao ®éng víi ngêi lao ®éng, hc tËp thĨ ngêi lao động về các quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động.
Tuy nhiên, đối tợng điều chỉnh chủ yếu của BLLĐ là quan hệ lao động theo hợp đồng Điều 2- BLLĐ; Do đó chỉ những tranh chấp lao động phát
sinh từ quan hệ hợp đồng lao động mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Trong thực tế, việc xác định có phải là quan hệ hợp đồng hay không cũng
không dễ dàng. Đã có nhiều việc kiện đa đến Toà án, nhng Toà án không xác định đợc đó có phải là quan hệ hợp đồng lao động hay không.
Ví dụ: Việc kiện mà ngời lao động thuộc diện biên chế lực lợng thờng xuyên trong các doanh nghiệp Nhà nớc trớc đây, nhng tại thời điểm xảy ra
tranh chấp thì cha đợc ký hợp đồng lao động. Đã có một số trờng hợp Toà án cho rằng ngời khởi kiện không phải là ngời lao động theo hợp đồng lao động
do đó không áp dụng pháp luật lao động để giải quyết nh trong vụ tranh chấp giữa bà Trần Thị Huệ với Công ty Điện tử Thủ Đức, vụ ông Bùi Ngọc Thanh,
Bà Trần Thị Sen với công ty vận tải ô tô tỉnh Cần Thơ. Sau khi có ý kiến trao đổi với Toà án nhân dân tối cao, việc kiện mới đợc thụ lý giải quyết.
Cơ sở để xác định những việc kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà lao động: Về nội dung tranh chấp là tranh chấp về quyền và lợi ích phát
sinh trong quan hệ lao động, do pháp luật lao động ®iỊu chØnh. VỊ chđ thĨ: Ng- êi lao ®éng tuy cha đợc chuyển sang giao kết hợp đồng lao động nhng họ
không thuộc diện không phải giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 4- BLLĐ, Điều 1 NĐ 198CP và hớng dẫn tai mục I thông t số 21
LĐTBXH- TT ngày 12101996 của Bộ lao động thơng binh và xã hội.
Hơn nữa tại Điều 12 NĐ 198CP và điểm b, mục III Thông t số 21 đã quy định: Ngời sử dụng lao động có trách nhiệm chuyển những ngời lao động
thuộc đối tợng trên sang giao kết hợp đồng lao động loại không xác định thời hạn trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày 1-1-1995.
Xác định việc kiện về dân sự hay lao động. Có nhiều việc kiện đa đến Toà án mà quan hệ tranh chấp vừa có những đặc điểm của quan hệ dân sự gọi
là hợp đồng dịch vụ, trớc khi có Bộ luật dân sự thờng gọi là hợp đồng khoán việc.
Tuy dù là dân sự hay lao động cũng đều do Toà án giải quyết, nhng xét về nội dung thì tranh chấp phát sinh từ những quan hệ pháp luật khác nhau thì
hậu quả pháp lý khác nhau; Do đó Toà án cần xác định ngay từ khi thụ lý vụ án để tránh tình trạng việc kiện về dân sự nhng lại áp dụng pháp luật lao động
để giải quyết nh đã xảy ra trong thực tế.
Để xác định đúng loại quan hệ tranh chấp Toà án căn cứ vào từng cụ việc cụ thể. Nếu các bên có hợp đồng bằng văn bản thì dễ xác định. Trờng hợp
các bên không có hợp đồng bằng văn bản thì Toà án cần tìm hiểu để nắm đợc một số thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng nh: Thời hạn, địa
điểm làm việc, thời gian làm việc. Dù là hợp đồng bằng văn bản hay bằng miệng thì cơ sở chủ yếu để phân biệt giữa hợp đồng lao động với hợp đồng dân
sự là mối quan hệ giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong hợp đồng lao động, giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động có sự ràng buộc
với nhau một cách chặt chẽ bởi quan hệ quản lý trong tổ chức điều hành lao động và đó là bảo đảm để ngời sử dụng lao động khai thác giá trị sức lao động.
Còn trong hợp đồng dân sự, có thể có hoặc không bởi vì ngời sử dụng lao động quan tâm đến sản phẩm dịch vụ chứ không quan tâm đến việc sử dụng sức lao
động nh thế nào để làm ra sản phẩm, dịch vụ. Tiền công phải trả là trả cho sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành chứ không phải trả trớc cho việc mua sức
lao động.
Khi đã xác định đợc vụ tranh chấp là tranh chấp lao động, Toà án phải xem xem việc kiện đó có bắt buộc phải phải qua hoà giải hay không hoặc các
bên có yêu cầu hoà giải không. Nếu bắt buộc phải qua hoà giải hoặc đã yêu cầu hoà giải thì phải yêu cầu ngời khởi kiện xuất trình biên bản hoà giải. Toà
án chỉ thụ lí nếu là biên bản hoà giải không thành. Vấn đề này tởng nh đơn giản nhng thực tế thờng có sai sót do Thẩm phán không nắm vững qui định của
Pháp luật hoặc quá chủ quan mà không xem xét đến điển hình nh vụ tranh chấp về việc thực hiện Hợp đồng lao động giữa ông Hà Tiến Chính với Công ty
Công trình giao thông 63, do Toà án Nhân dân quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lí; Toà cấp Giám đốc thẩm phải xử huỷ bản án sơ thẩm và phúc
thẩm. Hoặc vụ tranh chấp về đòi tiền lơng giữa anh Lê Hải Đoan với Công ty Halashuco, do Toà án Nhân dân Thành phố Hải Phòng thụ lý sau đó phải đình
chỉ việc giải quyết vụ án.
Về thời hiệu khởi kiện: Với bất cứ việc kiện nào, Toà án cũng đều phải xem xét đến thời hiệu
khởi kiện trong vụ án lao động khá phức tạp do các qui định của bộ luật và Pháp lệnh cha rõ ràng và thống nhÊt.
Trong thùc tÕ khi xem xÐt vÊn ®Ị thêi hiƯu khởi kiện, thờng gặp 2 trờng hợp sau:
- Thời hiệu khởi kiện có liên quan đến loại việc kiện và thủ tục giải quyết. Theo qui định của Điêù 166, 167 BLLĐ thì có 3 loại việc tranh chấp không bắt
buộc phải qua hoà giải ở cơ sở và thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp là một năm, các loại việc khác bắt buộc phải qua hoà giải và thời hiệu là 6 tháng
kể từ ngày hoà giải không thành. Thực tế đã có trờng hợp xác định không đúng loại việc kiện nên áp dụng không đúng qui định về thời hiệu. Ví dụ vụ tranh
chấp giữa ông Dơng Đắc Trí với Tổ chức thầy thuốc Thế giới. Trong vụ kiện này, ông Trí khởi kiện và việc bị đơn phơng chấm dứt Hợp đồng lao động, nh-
ng Toà cấp sơ thẩm căn cứ vào yêu cầu trong đơn kiện và cho rằng ông Trí chỉ đòi hỏi trợ cấp thôi việc, là loại việc kiện có thời hiệu là 6 tháng do đó đã ra
quyết định đình chỉ vì hết thời hiệu. Sau khi có kháng nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã xử huỷ các quyết định sơ thẩm và phúc thẩm để
Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án.
- Thời hiệu trong Bộ luật lao động và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động.
Có những việc kiện mà các bên đã yêu cầu hoà giải; Khi hoà giải không thành các bên yêu cầu Toà án giải quyết trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày hoà
giải không thành tức là còn trong thời hiệu theo qui định Điều 32 Pháp lệnh. Nhng nếu tính từ ngày xảy ra tranh chấp đến khi yêu cầu hoà giải thì đã quá 6
tháng hoặc 1 năm. Nh vậy việc thụ lý và hoà giải của Hội đồng hoà giải cơ sở vi phạm qui định Điều 166, 167 - BLLĐ. Nhng đã có một số Toà án chỉ căn cứ
vào Điều 32 Pháp lệnh để thụ lý là không đúng trờng hợp này phải áp dụng Điều 166, 167 để trả lại đơn cho đơn sự.

2. Xác minh, thu thập chøng cø


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thụ lý vụ án lao động.

Tải bản đầy đủ ngay(61 tr)

×