1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 61 (trang)
X¸c minh, thu thËp chøng cø

X¸c minh, thu thËp chøng cø

Tải bản đầy đủ - 61trang

quyết định đình chỉ vì hết thời hiệu. Sau khi có kháng nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã xử huỷ các quyết định sơ thẩm và phúc thẩm để
Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án.
- Thời hiệu trong Bộ luật lao động và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động.
Có những việc kiện mà các bên đã yêu cầu hoà giải; Khi hoà giải không thành các bên yêu cầu Toà án giải quyết trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày hoà
giải không thành tức là còn trong thời hiệu theo qui định Điều 32 Pháp lệnh. Nhng nếu tính từ ngày xảy ra tranh chấp đến khi yêu cầu hoà giải thì đã quá 6
tháng hoặc 1 năm. Nh vậy việc thụ lý và hoà giải của Hội đồng hoà giải cơ sở vi phạm qui định Điều 166, 167 - BLLĐ. Nhng đã có một số Toà án chỉ căn cứ
vào Điều 32 Pháp lệnh để thụ lý là không đúng trờng hợp này phải áp dụng Điều 166, 167 để trả lại đơn cho đơn sự.

2. Xác minh, thu thập chứng cứ


Trong tố tụng lao động, các đơng sù cã nghÜa vơ cung cÊp chøng cø, khi cÇn thiết, Toà án mới tiến hành xác minh thu thập chứng cứ.
Trong vụ án Lao động chứng cứ chủ yếu do ngời sử dụng lao động cung cấp; Bởi vì chóng ta biÕt r»ng trong quan hƯ lao ®éng, ngêi sử dụng lao động là
ngời thực hiện quyền quản lý của ngời sử dụng lao động. Quá trình ngời lao ®éng thùc hiƯn qun vµ nghÜa vơ cđa hä theo Hợp đồng lao động cũng đặt dới
sự quản lý của ngời sử dụng lao động. Khi tranh chấp phát sinh, khả năng xác lập và cung cấp chứng cứ cho Toà án của mgời lao động hạn chế hơn rất nhiều
so với ngời sử dụng lao động. Từ các văn bản tài liệu liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên đến các văn bản về hành vi vi phạm, thiệt hại xảy ra cũng
chỉ ngời sử dụng lao động mới có khả năng cung cấp. Những ngời làm chứng, nếu còn đang làm việc cho ngời sử dụng lao động cũng ít có khả năng cung
cấp cho Toà án sự thật liên quan đến vụ tranh chấp. Trong tất cả các vụ án lao động mà Toà án đã giải quyết, chứng cứ mà Toà án thu thập đợc hầu hết là do
ngời sử dụng lao động cung cÊp. C¸ biƯt trong mét sè vơ ¸n, ngêi lao động chỉ có đơn kiện và quyết định sa thải hoặc quyết định chấm dứt hợp đồng lao
động. Đến ngay cả bản hợp đồng lao động cũng không có.
Những đặc điểm đó đòi hỏi thẩm phán đợc giao giải quyết vụ án phải thực sự công tâm, đề cao trách nhiệm, áp dụng các biện pháp phù hợp mà luật
cho phép để thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
Qua nghiên cứu việc xác minh thu thập chứng cứ trong thực tiễn giải quyết các vụ án lao động ở cấp sơ thẩm, ta thấy nổi lên một số vấn đề sau:
Việc lấy lời khai không đúng thủ tục và không đảm bảo hiệu quả lấy lời khai là một trong những biện pháp thu thập chứng cø rÊt quan träng trong
c¸c vơ ¸n nãi chung. Trong vụ án lao động, vì khả năng cung cấp các tài liệu, chứng cứ của ngời lao động rất hạn chế, do đó để xác định đợc chính
xác, đầy đủ các tình tiết của vụ tranh chấp, Toà án phải tiến hành lấy lời khai của các đơng sự, của ngêi lµm chøng.
VỊ thđ tơc tiÕn hµnh lÊy lêi khai trong rÊt nhiỊu vơ ¸n c¸c ThÈm ph¸n giao cho Th kí thực hiện. Ví dụ nh biên bản lấy lêi khai ngµy 9 - 10 vµ 3-12
-1998 cđa Toµ án nhân dân Thành phố Hà Nội trong vụ tranh chấp giữa Đỗ Đức Giang với Trung tâm dịch vụ Báo chí, biên bản lấy lời khai ngay 14-3-
1995 của Toà án tỉnh Đồng Nai trong vụ Nguyễn Văn Quang với Xí nghiệp gỗ An Bình Đồng Nai, cá biệt nh vụ tranh chấp giữa ông John Kleven Hoa Kỳ
với bà Nguyễn thị Mỹ Anh Thành phố Hồ Chí Minh; trong 11 lần lấy lời khai thì có tới 7 lần do th ký thực hiện.
Không chỉ trong lấy lời khai, mà cả trong việc đối chấp, xác minh các vấn đề có liên quan, các Thẩm phán cũng giao cho Th ký lµm nh trong vơ John
Kleven- Ngun thị Mỹ Anh Biên bản xác minh tại phòng khám ®a khoa ngay 17-8-1998, vơ Bïi Ngäc Thanh - C«ng ty vận tải ô tô Cần Thơ Biên bản làm
việc ngày 8-6-1996.
Mặc dù hiện nay vẫn đang có những ý kiÕn kh¸c nhau nhng ta thÊy viƯc giao cho Th ký lấy lời khai, tổ chức đối chấp và xác minh là không đúng.
Th ký Toà án là một chức năng t pháp đợc bổ nhiệm theo qui định của Pháp luật và đợc giao nhiệm vụ tiến hành xác minh thu thËp chøng cø nhng xÐt
vỊ nhiƯm vơ qun hạn thì chỉ Thẩm phán mới đợc giao giải quyết vụ án, có quyền quyết định về vụ án; Th ký chỉ là ngời giúp việc cho Thẩm phán trong
quá trình giải quyết vụ án. Xét từ khía cạnh này thì th ký vẫn có thể thực hiện những công việc mà thẩm phán giao nhng giao cho th ký lấy lời khai, đối chấp,
xác minh thì thực tiễn cho thấy là không thể chấp nhận đựơc.
Lấy lời khai, đối chấp, xác minh là nhằm tìm kiếm chứng cứ để chứng minh cho các vấn đề cần chứng minh trong vụ án; Đối chấp, xác minh là
những biện pháp nghiệp vụ để làm sáng tỏ một tình tiết, một vấn đề nào đó; Nó gắn liền với việc đánh giá chứng cứ, xác định đờng lối giải quyết vụ ¸n; Do ®ã
lÊy lêi khai cđa ai vỊ vÊn ®Ị gì, xác minh cái gì, nh thế nào, đối chất về cái gì phải xuất phát từ yêu cầu giải quyết vụ án, bảo đảm tính khách quan chính xác
và bảo đảm thời hạn giải quyết vụ án. Tất cả những việc đó th ký cha có đủ năng lực, trình độ nghiệp vụ và trách nhiệm để thực hiện.
Qua nghiên cứu những vụ án mà th ký đợc giao thu thËp chøng cø thÊy r»ng viÖc lÊy lêi khai mất quá nhiều thời gian vì đơng sự đợc triệu tập nhiều
lần, nội dung trình bày giống nhau từ quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, tranh chấp xảy ra nh thế nào. Có trờng hợp triệu tập đơng sự đến trụ
sở sau đó th ký đa cho đơng sự tờ khai bảo họ trình bày, viết xong nộp lại rồi về, lần sau lặp lại nh lần trớc. Có trờng hợp triệu tập đơng sự đến chỉ để yêu
cầu họ trình bày một nội dung duy nhất là họ yêu cầu gì, rồi cho về. Việc phải làm lại nhiều lần nh vậy vừa tốn thời gian vừa gây ức chế cho đơng sự về sự
thiếu trách nhiệm của Toà án, nhng điều quan trọng nhất là không thu nhập đ- ợc những chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án.
Việc xác minh thu thập chứng cứ của Thẩm phán cha đáp ứng đợc yêu cầu giải quyết vụ án
Ngay từ khi thụ lý vụ án, Thẩm phán phải nghiên cứu các tài liệu thu thập đợc ban đầu để xác định những vấn đề cần thiết phải giải quyết trong vụ án và
những việc phải làm, trong đó phải xác định đợc cụ thể là cần phải thu thập những chứng cứ nào, áp dụng những biện pháp nào, đồng thời chủ động giải
quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình x¸c minh, thu thËp chøng cø.
Trong thùc tÕ, ThÈm ph¸n thờng bỏ qua việc làm đầu tiên, không có sự chuẩn bị trớc, phát sinh đến đâu thì giải quyết đến đó. Do đó những sai sót,
lúng túng thờng xảy ra là: Thu thập không đầy đủ các chứng cứ, không kết hợp việc nghiên cứu đánh giá chứng cứ do đó có những tài liệu không bảo đảm
tính hợp pháp cũng đợc sử dụng vào việc giải quyết vụ án. Khi thấy đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mới vội vàng yêu cầu đơng sự cung cấp chứng cứ dẫn đến
tình trạng để kéo dài tình tr¹ng xÐt xư hay xÐt xư nhng cha thu thËp chứng cứ.
Một thực tế khá phổ biến là các Thẩm phán còn bị động do đơng sự tìm cách trì hoãn, né tránh hoặc có thái độ bất hợp pháp trong việc cung cấp các tài
liệu chứng cứ hoặc khi Toà án tiến hành xác minh chứng cứ, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hoặc đơn vị sử dụng lao động do
ngời nớc ngoài quản lý nh vụ ở Công ty liên doanh du lịch Quốc tế Hải Phòng, chủ doanh nghiệp không chịu cung cấp băng ghi hình để chứng minh hành vi
ghi hình của nhân viên bảo vệ Nguyễn Đắc Long.
Trong hầu hết các trờng hợp nói trên, Thẩm phán đều lúng túng phải chờ xin ý kiến mà lẽ ra phải căn cứ vào các qui định của luật tố tụng mà giải quyết
để bảo đảm thời hạn luật định.
Một nguyên tắc rất cơ bản trong tố tụng lao động là đơng sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ cho yêu cầu của mình. Khi một bên đa ra bằng
chứng nào đó mà bên kia không có bằng chứng phản bác thì về nguyên tắc bằng chứng đã đa ra sễ đợc công nhận. Khi cần cung cấp bằng chứng, Toà án
yêu cầu đơng sự cung cấp trong một thời gian nhất định nếu đơng sự không cung cấp thì Toà án sẽ xét xử trên cơ sở những chứng cứ đã thu thập đợc.

3. Hoà giải.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

X¸c minh, thu thËp chøng cø

Tải bản đầy đủ ngay(61 tr)

×