1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 61 (trang)
Việc xét xử tại phiên toà sơ thẩm.

Việc xét xử tại phiên toà sơ thẩm.

Tải bản đầy đủ - 61trang

Điều đó cho thấy rằng việc hoà giải thành cũng tuỳ từng vụ tranh chấp cụ thể và cũng phải phụ thuộc một phần rất quan trọng vào vai trò của ngời Thẩm
phán.

4. Việc xét xử tại phiên toà sơ thẩm.


Về thủ tục tiến hành phiên toà lao động sơ thẩm và kỹ năng tiến hành tố tụng của Hội đồng xét xử tại phiên toà sơ thẩm có nhiều vấn đề phải bàn. ở đây
nêu ra hai vấn đề đáng quan tâm nhất là việc xét hỏi và ra quyết định về vụ án.
Việc xét hỏi mặc dù sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã có quá trình nghiên cứu về vụ án và đã có thể sơ bộ xác định đợc hớng giải quyết vụ án, nh-
ng đó mới chỉ là hoạt động tố tụng của cá nhân Thẩm phán. Về nguyên tắc thông qua việc xét xử tập thể, công khai tại phiên toà Hội đồng xét xử mới có
cơ sở để quyết định về vụ án. Hoạt động tố tụng quan trọng nhất tại phiên toà là phần xét hỏi. Thông qua xét hỏi Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình
tiết của vụ án, làm cơ sở để ra bản án, quyết định về vụ án.
Về lý thuyết là nh vậy, nhng thực tế khi nghiên cứu các bút ký phiên Toà sơ thẩm, ta thấy rằng việc xét hỏi của Hội đồng xét xử không thể hiện đợc vị
trí, ý nghÜa quan träng cđa viƯc xÐt hái ®èi víi viƯc giải quyết vụ án. Những biểu hiện cụ thể là:
-Xét hỏi không tập trung làm rõ những tình tiết có liên quan trong vụ án. Chỉ chủ yếu là nghe các bên trình bày hết các ý kiến, các câu hỏi đặt ra còn
chung chung, trùng lặp, nhiều câu hỏi lộn xộn, khó hiểu. Đặc biệt là xét hỏi có tính một chiều, không xen kẽ việc đặt câu hỏi các biên bản đơng sự công bố lời
khai hoặc có tài liệu chứng cứ đã thu thập đợc để đối chất, đối chứng làm rõ các vấn đề cần chứng minh.
- Xét hỏi không đầy đủ các vấn đề có liên quan để quyết định về vụ án. Có trờng hỵp do bá sãt nhng còng cã trêng hỵp Héi đồng xét xử cho rằng các
tình tiết cần phải xác định qua xét hỏi chỉ là những tình tiết làm phát sinh tranh chấp, còn các vấn đề khác nh quyền lợi mà các bên đợc hởng thì chỉ cần căn cứ
vào các tài liệu đã thu thập đợc từ trớc và trên cơ sở pháp luật. Nhận thức nh vậy là không đúng và điều đó dẫn đến việc quyết định về quyền lợi vật chất. Ví
dụ sau hai năm thực hiện hợp đồng lao động, ngời lao động đã đợc nâng lơng, nâng mức phụ cấp nhng Hội đồng xét xử không xét hỏi để xác định đúng mức
lơng ngời lao động đang hởng mà quyết định theo mức lơng phụ cấp ghi trong hợp đồng lao động.
- Vẫn có không ít những trờng hợp Hội đồng xét xử khi xét hỏi còn trấn áp, chỉ tập trung hỏi một bên đơng sự và hỏi dồn dập thờng là đối với ngời lao
động làm cho họ bị ức chế và cho việc xét xử của Toà án là không công bằng.
Quyết định về vụ án
Các quyết định của Hội đồng xét xử về vụ án đợc thể hiện trong phần quyết định của Hội đồng xét xử nh thế nào cũng có nhiều vấn đề cần bàn.
Một vấn đề có căn cứ là quyết định dựa trên cơ sở pháp luật, tức là có một qui định của pháp luật về vấn đề đó, và qui định pháp luật mà Toà án áp dụng
phải phù hợp với các tình tiết đã đợc xác định trong vụ án. Nếu áp dụng một điều khoản nào đó mà trong vụ án lại không có tình tiết nào liên quan đến nội
dung điều chỉnh của điều khoản luật thì quyết định đó là không có căn cứ. Ví dụ trong vụ Nguyễn Kế Đàn với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn tỉnh Vĩnh Long. Toà án áp dụng điểm b khoản 1 Điều 85-BLLĐ trong khi anh Đàn cha từng bị kỷ luật chuyển việc khác có mức lơng thấp hơn.
Hoặc trờng hợp trong một vụ án có một tình tiết nhng nội dung cha thoả mãn điều kiện mà điều khoản luật xác định thì cũng coi là quyết định không có
căn cứ. Ví dụ ngời lao động có hành vi vi phạm, có gây thiệt hại dới 5 triệu đồng, nếu Toà án áp dụng điểm a khoản 1 Điều 185- BLLĐ để công nhận
quyết định sa thải ngời sử dụng lao động thì cũng coi là không có căn cứ.
Qua việc xem xét các vụ ¸n cã kh¸ng c¸o, kh¸ng nghÞ thÊy r»ng sai sãt phổ biến thuộc về trờng hợp 2 tức là cha đủ điều kiện để áp dụng điều khoản
luật và chủ yếu là trong các vụ án về đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động.
Phải thừa nhận một thực tế là các qui định của Bộ luật lao động và văn bản hớng dẫn thi hành Bộ luật lao động về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động
còn nhiều vấn đề vớng mắc khi áp dụng; Nhng những sai sót đã xảy ra lại không phải là những trờng hợp điều luật khó áp dụng mà chủ yêú là do đánh
giá xem xét không đúng bản chất các sự kiện, các tình tiết trong vụ án.
Một vấn đề không thể không đề cập đến là trong các quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, có những quyết định sai một cách đáng tiếc nh tuyên bố
đơng sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tuyên Luật s có quyền
kháng cáo án sơ thẩm số 01 ngày 2-2-1999 của Toà án Nhân dân thị xã Vinh Long, án sơ thẩm số 01 ngày 24-10-1996 của Toà án Nhân dân thành phố Nha
Trang. Nhiều trờng hợp Toà án quyết định án phí buộc đơng sự là ngời lao động trong khi theo quy định thì họ đợc miễn án phí.
CHƯƠNG III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu suất
chất lợng giải quyết án Lao động
Qua theo dõi quá trình giải quyết án lao động trong những năm qua, ta thấy cần đa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu suất, chất lợng giải quyết
án Lao động.
I. Kiện toàn tổ chức các toà lao động Luật sửa đổi Toà án nhân dân 1995 qui định tại các Toà án nhân dân tỉnh
thành phố trực thuộc Trung ơng và Toà án nhân dân tối cao đợc thành lập Toà án lao động làm nhiệm vụ xét xử các tranh chấp lao động. Nhng từ đó đến nay
mới có 20 Toà án cấp Tỉnh thành lập Toà lao động, còn lại 41 Toà án cấp tỉnh hoặc cha có Toà án lao động hoặc ghép Toà lao động với các Toà chuyên trách
khác nh Toà án tỉnh Ninh Bình ghép 3 Toà Kinh tế, Lao động, Hành chính vào một. Có nhiều Toà án ghép 2 Toà Kinh tế, Lao động hay Hành chính, Lao
động vào một. Có tỉnh chỉ phân công một Thẩm phán của Toà dân hay Toà hình làm nhiệm vụ xét xử án lao động. Có Toà còn phân công Chánh văn
phòng kiêm Phó Chánh toà lao động nh Toà án tỉnh Tuyên Quang v...v. Phần lớn các Toà án tỉnh đã thành lập Toà lao động nhng chỉ có bộ khung gồm một
Chánh Toà hay một phó Chánh Toà và một th ký. Ngay Toà Lao động Toà án nhân dân tối cao cũng mới có Chánh và phó Toà và một số thẩm tra viên. Vì
vậy khi xét xử án lao động lại phải huy động Thẩm phán của các Toà khác.
Chính do Tổ chức Toà lao động cha đợc kiện toàn, nên không có Thẩm phán, cán bộ chuyên sâu nghiên cứu luật lao động đây cũng là nguyên nhân ảnh h-
ởng đến chất lợng xét xử án lao động. Vì vậy việc kiện toàn các Toà lao động là rất cần thiết. Có thể thời gian tới một số tỉnh vẫn cha có án lao động, nhng
với sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế của nớc ta từ nay đến năm 2020 chúng ta phấn đấu trở thành nớc công nghiệp, vì vậy những năm tới đội ngũ ngời lao
động trong các ngành nghề sẽ tăng, tranh chấp lao động tất yếu sẽ xảy ra nhiều, do đó chúng ta phải sớm kiện toàn các Toà lao động mới có thể đáp ứng
đợc yêu cầu của xã hội. Báo cáo chính trị của Đảng tại Đại hội VIII đã nêu Xây dựng đội ngũ thẩm phán, th ký Toà án có phẩm chất chính trị và đạo đức
trí công vô t, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững mạnh . Để đáp ứng đợc yêu cầu trên của Đảng, các Toà án cần phải có sự chuyên môn hóa đội ngũ
Thẩm phán, từ đó mới có kế hoạch đào tạo chuyên môn nghiệp vụ chuyên sâu cho từng thẩm phán và có nh thế mơí đáp ứng đợc yêu cầu ngày càng phát
triển của xã hội: Những nớc công nghiệp phát triển nh nớc Đức họ có hẳn một hệ thống Toà án lao động đợc tổ chức từ cấp quận lên đến cấp bang và liên
bang. Chúng ta không áp dụng mô hình của họ, nhng qua đó cũng thấy đợc khi nền công nghiệp phát triển tranh chấp lao động cũng phát sinh nhiều và đa
dạng, cần phải có một đội ngũ Thẩm phán chuyên trách mới có điều kiện giải quyết, đúng với vai trò là ngời bảo vệ công lý.
II. Cần đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết án Lao động
Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1-1-1995, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động có hiệu lực từ ngày 1-7-1996, nhng hầu hết cán
bộ làm nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp lao động tại Toà án, nhất là Thẩm phán lại đợc đào tạo từ những năm 90 trë vỊ tríc. Khi cã hƯ thèng ph¸p lt
lao động cha đợc hoàn thiện, các trờng đại học cũng cha trú trọng môn học này. Còn các Toà án rất ít giải quyết các tranh chấp lao động, có chăng chỉ có
một số vụ kiện về kỷ luật buộc thôi việc mà theo quyết định số 10HĐBT ngày 14-1-1985 chuyển cho Toà án giải quyết. Vì thế việc Toà án giải quyết các
tranh chấp lao động là mới mẻ, cha có kinh nghiệm cũng nh kiến thức chuyên sâu về ngành luật lao động. Muốn xét xử tốt các tranh chấp lao động đòi hỏi
không những chỉ áp dụng pháp luật lao động mà còn phải vận dụng các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nớc, trong khi đó riêng pháp luật lao động ngoài
Bộ luật lao ®éng ®Õn nay ®· cã 52 nghÞ ®Þnh cđa chÝnh phủ và quyết định của Thủ tớng Chính phủ quy ®Þnh chi tiÕt vỊ thùc hiƯn Bé lt lao ®éng và có gần
100 thông t liên tịch giữa Bộ luật lao động và các cơ quan chức năng khác, cũng nh thông t riêng của Bộ luật lao động hớng dẫn thi hành các nghị định
của Chính phủ. Đây là những văn bản pháp luật mới đối với các Thẩm phán, cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp lao động.
Nhiều Thẩm phán đợc phân công xét xử án lao động cho biết giải quyết tranh chấp lao ®éng lµ viƯc míi, cha cã kinh nghiƯm vµ kiÕn thức pháp luật
còn hạn chế, trong khi đó các Toà án địa phơng, đặc biệt là Toà án Quận, Huyện rất thiếu các văn bản pháp luật lao động, đây là một trong những
nguyên nhân dẫn đến một số vụ án lao động bị xét xử sai trong thời gian qua. Ngoài ra chất lợng xét xử án lao động cũng cha thật tốt. Nhiều vụ án lấy lời
khai đơng sự còn trùng lập, nhiều lần một vấn đề, nhiều tài liệu không cần thiết cho việc giải quyết vụ án cũng thu thập, trong khi đó những vấn đề mấu
chốt để giải quyết vụ án thì thu thập không đủ chứng cứ. Nhiều vụ án phần nội dung và phần nhận định trùng lập nhau, không đa ra đợc cơ sở pháp lý để giải
quyết vấn đề vì sao Toà lại quyết định nh vậy. Câu văn lủng củng, chấm phẩy tuỳ tiện, viện dẫn pháp luật không chính xác. Một số Thẩm phán vẫn giữ
nguyên tác phong thẩm vấn các vụ án hình sự trong việc thẩm vấn các vụ án lao động, cha thấy đợc sự khác nhau giữa việc giải quyết các quan hệ lao động
và quan hệ hình sự, dân sự.
Với những lý do trên, ta thấy việc đào tạo lại đội ngũ cán bộ, Thẩm phán làm công tác xét xử án lao động là rất cần thiết.
Việc đào tạo lại cán bộ, Thẩm phán làm công tác xét xử án lao động có thể theo hai hình thức:

1. Đào tạo lại một cách bài bản những vấn đề về luật nội dung, cũng nh


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Việc xét xử tại phiên toà sơ thẩm.

Tải bản đầy đủ ngay(61 tr)

×