1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 24 (trang)
100 16.24 100 100 30.40 100 Tình hình tăng vốn đầu tư 1988-2007:

100 16.24 100 100 30.40 100 Tình hình tăng vốn đầu tư 1988-2007:

Tải bản đầy đủ - 24trang

Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về
tài chính đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kơng. Số dự án bị giải thể trước thời hạn:
Gai đoạn Số dự án bị giải thể
trước thời hạn Số vốn đăng ký
triệuUSD 1988-1990
6 24
1990-1995 236
1.468 1996-2000
400 6.159
2001-62003 246
3.718 Giai đoạn 2000-2005: Những bước phục hồi chậm của FDI ở Việt Nam.
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng
21 so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2 so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6 so với năm 2001, năm 2003 đạt 3,1 tỷ USD,
tăng 6 so với năm 2002.
FDI có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 đạt 4,5 tỷ USD tăng 45,1 so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8; năm 2006 tăng 75,4 và năm 2007
đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69 so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996 - năm cao nhất của thời kỳ trước khủng
hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới kể cả tăng vốn đạt 20,8 tỷ USD vượt 73 so với mục tiêu tại Nghị quyết 092001NQ-CP ngày
2882001 của Chính phủ, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30 so với mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm 2001-2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăng đạt mức
năm sau cao hơn năm trước tỷ trọng tăng trung bình 59,5, nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ.
Tỷ trọng vốn FDI của các châu lục đầu tư vào Việt Nam qua các thời kỳ.
1988 - 1990 1991 - 1995
1996 - 2000 2001 - 2005
Vốn Tỷ trọng Vốn Tỷ trọng Vốn Tỷ trọng Vốn Tỷ trọng Tổng

1.58 100 16.24 100


21.64 100 30.40 100


Châu Á 0.78 49.3
11.20 69.0 13.51 62.4
21.22 69.8 Châu Âu 0.69 43.4
2.63 16.2 4.55 21.0
5.08 16.7 Châu Mỹ 0.11 7.3
2.31 14.5 2.68 12.4
1.83 6.0 Châu Phi 0
0.47 0.3 0.90 4.2
1.61 5.3 Giai đoạn từ 2006 đến nay:
Trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể 32,3 tỷ USD với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu
7
trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao,... và dịch vụ cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao
cấp .v.v.. Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào Việt Nam.
Năm 2007, vốn FDI đã đạt mức kỷ lục là 20,3 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký, vượt 56 kế hoạch dự kiến. Như vậy, chỉ riêng năm 2007, số vốn thu hút
được đã chiếm 25 tổng số vốn trong 20 năm qua.

2.2 Tình hình tăng vốn đầu tư 1988-2007:


Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động có hiệu quả đã mở rộng quy mơ sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn đầu
tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng 23,8 tổng
vốn đầu tư đăng ký cấp mới.
Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanh nghiệp ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD trong
5 năm 1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước 4,17 tỷ USD. Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ
USD vượt 18 so dự kiến là 6 tỷ USD tăng 69 so với 5 năm trước. Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và
từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng 35.
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6 trong giai đoạn 1991-1995 ; 65,7
trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3 trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17 và 79,1 tổng vốn tăng thêm.
Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á 59 nên trong số vốn tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao
nhất 66,8 trong giai đoạn 1991-1995, đạt 67 trong giai đoạn 1996-2000, đạt 70,3 trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là
72,1 và 80.
Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm
phía Nam chiếm 55,5 trong giai đoạn 1991-1995 ; đạt 68,1 trong thời kỳ 1996-2000 và 71,5 trong giai đoạn 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ
lệ tương ứng là 71 và 65. Vùng trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tương ứng là 36,7; 20,4 ; 21,1 ; 24 và 20.
Qua khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản -JETRO tại Việt Nam có trên 70 doanh nghiệp ĐTNN được điều tra có kế hoạch tăng vốn,
mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và an tâm của nhà ĐTNN vào môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam.

2.3 Quy mô dự án :


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

100 16.24 100 100 30.40 100 Tình hình tăng vốn đầu tư 1988-2007:

Tải bản đầy đủ ngay(24 tr)

×