1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 109 (trang)
Đất trồng cây hàng năm Đất trồng cây lâu năm

Đất trồng cây hàng năm Đất trồng cây lâu năm

Tải bản đầy đủ - 109trang

Biểu 2.2: Biến động sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005
Đơn vị tính: ha
STT LOẠI ĐẤT
Diện tích năm 2000
Diện tích năm 2005
Tăng + Giảm -
Tổng diện tích đất SXNN
2889,90 4064,26
1174,36

1. Đất trồng cây hàng năm


2574,82 3949,16
1374,34
1.1. Đất trồng lúa
1497,67 1720,59
222,92
1.1.2 Đất trồng lúa nước còn lại
1497,67 1720,59
222,92
1.2. Đất trồng cây hàng năm còn lại
1077,15 2228,57
1151,42

2. Đất trồng cây lâu năm


315,08 115,10
-199,98
Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Đông Anh 2000-2010
Bảng tổng hợp trên cho thấy: Đất sản xuất nơng nghiệp tồn huyện năm 2000 có 2889,9ha đến năm 2005 là 4064,26ha tăng 1174,36ha, trong
đó: Đất trồng cây hàng năm là 2574,82ha năm 2000; năm 2005 có
3949,16ha tăng 1374,34ha tăng chủ yếu từ đất đồi núi chưa sử dụng chuyển sang đất nơng nghiệp. Cụ thể:
- Đất trồng lúa nước còn lại tăng khác 293,02ha đồng thời do kiểm kê bỏ sót giảm 36,45ha; do chuyển sang cây hàng năm còn lại là 27,50ha; sang phi
nông nghiệp 6,15ha. - Đất trồng cây hàng năm còn lại năm 2000 là 1077,15ha; năm 2005
có 2228,57ha tăng 1156,75ha do chuyển từ các loại sau: Diện tích tăng 1156,75ha do chuyển từ các loại đất khác sang đất trồng
cây hàng năm còn lại trong đó đất lúa 27,5ha; đất bằng chưa sử dụng 116,43ha, đất đồi núi chưa sử dụng 113,81ha; tăng khác 899,01ha. Đồng thời
giảm 5,33ha do chuyển sang các loại đất khác trong đó đất ở nông thôn 2,14ha; đất ở đô thị 0,11ha; đất trụ sở cơ quan 0,53ha; đất có mục đích cơng
cộng 2,55ha. Đất trồng cây lâu năm: Năm 2005 so với năm 2000 tăng 41,91ha do
chuẩn lại số liệu bằng đo đạc địa chính chính quy. Đồng thời đất cây lâu năm giảm 241,89ha do chuyển sang các loại đất khác sang đất rừng sản
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
xuất 235,41ha; đất ở nông thôn 2,44ha, đất ở đô thị 0,07ha; đất cơ sở sản xuất kinh doanh 0,11ha; đất có mục đích cơng cộng 0,66ha; giảm khác
3,2ha.
b . Đất lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp năm 2000 có 3224,9ha; đến năm 2005 có 14963,59 ha. Như vậy đất lâm nghiệp năm 2005 so với năm 2000 tăng
11.738,69ha. Trong đó:
Biểu 2.3: Biến động đất lâm nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005
Loại đất
DT năm 2000
DT năm 2005
Tăng + Giảm -
1 2
3 4
Đất lâm nghiệp 3224,90
14963,89 11738,99
Đất rừng sản xuất 742,98
2943,95 2200,97
Đất rừng phòng hộ 1937,42
11475,44 9538,02
Đất rừng đặc dông 544,50
544,50
Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Đông Anh 2000-2010
- Đất rừng sản xuất tăng 2422,59 do chuyển từ đất cây lâu năm 235,41ha; đất đồi núi chưa sử dụng 1906,57ha. Đồng thời giảm do chuyển sang các loại
đất khác trong đó sang rừng phòng hộ 202,77ha; đất ở nơng thơn 0,2ha; đất an ninh quốc phòng 17,73ha; đất khai thác khống sản 0,31ha; đất có mục
đích cơng cộng 0,61ha. Như vậy, diện tích năm 2005 so với năm 2000 tăng 2200,97ha.
- Đất rừng phòng hộ: Diện tích năm 2005 có 11475,44ha so với năm 2000 tăng 9538,02ha. Tăng do chuyển từ các loại đất khác sang đất rừng
phòng hộ trong đó từ đất rừng sản xuất 202,77ha; đồi núi chưa sử dụng 1133,08 ha; núi đá không rừng cây 8470,31ha; tăng khác 13,60ha.
c . Đất nuôi trồng thuỷ sản và đất nông nghiệp khác
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
- Đất ni trồng thuỷ sản năm 2000 có 3,15ha; đến năm 2005 là 15,73ha tăng 13,05ha do chuyển từ đất mặt nước chuyên dùng 1,49ha; đất
bằng chưa sử dụng 0,06ha; tăng khác 11,50ha. 3.2.1.2. Đất phi nông nghiệp
Diện tích nhóm đất phi nơng nghiệp năm 2000 có 771,67ha đến năm 2005 là 1323,70ha tăng 552,03ha. Cụ thể như sau:
a . Đất ở
- Diện tích đất ở năm 2005 có 171,59ha giảm 27,17ha so với năm 2000. Trong đó:
+ Đất ở đơ thị có 45,43ha giảm 23,37ha do chuyển sang đất phi nông nghiệp 0,27ha; giảm khác 24,43ha. Đồng thời tăng thêm 1,33ha.
+ Đất ở nông thôn năm 2005 có 126,16ha giảm 3,8ha do chuyển 0,53ha sang đất phi nông nghiệp, giảm khác 58,47ha; đồng thời tăng thêm
đất cây lâu năm 2,44ha; đất rừng sản xuất 0,2ha; đất lúa 1,26 ha và đất trồng cây hàng năm còn lại 2,14ha; tăng khác 49,16ha.
b . Đất chuyên dùng
Đất chuyên dùng năm 2005 có 890,45ha tăng 467,27ha so với năm 2000. Cụ thể được thể hiện qua bảng sau:
Biểu 2.4: Biến động sử dụng đất phi nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005
LOẠI ĐẤT Diện tích
năm 2000 ha
Diện tích năm 2005
ha Tăng +
Giảm - ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
771,67 1323,70
552,03 I. Đất ở
198,76 171,59
-27,17
1. Đất ở nông thôn 127,04
126,16 -0,88
2. Đất ở đô thị 68,8
45,43 -23,37

II. Đất chuyên ding 423,18


890,45 467,27
1. Đất trụ sở cơ quan, cơng trình sự nghiệp 2,30
4,32 2,02
2. Đất quốc phòng, an ninh 5,56
25,30 19,74
3. Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 282,17
298,51 16,34
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
4. Đất có mục đích cơng cộng 133,15
562,32 429,17

III. Đất tơn giáo, tín ngưỡng 4,12


4,12 IV. Đất nghĩa trang, nghĩa địa
10,05 26,72
16,67 V. Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng
139,68 230,82
91,14
Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Đông Anh 2000-2010
- Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 4,32ha tăng 2,02ha do chuyển từ đất cây hàng năm còn lại 0,53ha; tăng khác 1,49ha.
- Đất quốc phòng, an ninh có 25,3ha tăng 19,74ha do chuyển từ đất lâm nghiệp 18,86ha; tăng khác 0,88ha.
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 298,51ha năm 2005 tăng 16,34ha do chuyển từ đất nông nghiệp 1,52ha; đất đồi núi chưa sử dụng
14,74ha; đất ở 0,08ha. - Đất có mục đích cơng cộng có 562,32ha tăng 429,17ha so với năm
2000 133,15ha do chuyển từ đất nông nghiệp 6,46ha; đất ở 0,72ha; đất chưa sử dụng 6,43ha; tăng khác 415,56ha.
c . Đất tơn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng; đất phi nơng nghiệp khác
- Đất tơn giáo, tín ngưỡng năm 2005 có 4,12ha tăng 4,12ha so với năm 2000 do bóc tách từ đất khu dân cư của năm 2000.
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa có 10,05ha năm 2000; đến năm 2005 tăng khác 13,98ha đồng thời giảm 1,87ha.
- Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng năm 2000 có 139,68ha tăng 94,24ha do tăng khác. Đồng thời giảm khác 1,61ha.
3.2.1.3. Đất chưa sử dụng Đất chưa sử dụng năm 2005 là 5500,42ha so với năm
200018808,38ha giảm 13307,96ha, thể hiện qua bảng:
Biểu 2.5: Biến động sử dụng đất chưa sử dụng từ năm 2000 đến năm 2005
STT MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG
Diện tích năm 2000 ha
Diện tích năm 2005 ha
Tăng + Giảm - ha
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Đất chưa sử dụng 18808,38
5500,42 -13307,96
1 Đất bằng chưa sử dụng 231,99
91,88 -140,11
2 Đất đồi núi chưa sử dụng 4699,43
931,78 -3767,65
3 Núi đá không rừng cây 13876,96
4476,76 -9400,2
Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Đông Anh 2000-2010
Bảng tổng hợp cho thấy, quỹ đất chưa sử dụng của huyện còn khá lớn, chủ yếu là đất đồi núi và núi đá khơng có rừng cây, cụ thể được chia các loại đất
sau: - Đất bằng chưa sử dụng có 91,88ha giảm 140,11ha do chuyển sang
đất nông nghiệp 116,49ha; đất phi nông nghiệp 0,15ha; giảm khác 40,58ha. - Đất đồi núi chưa sử dụng có 931,78ha giảm 3767,65ha do chuyển
sang các loại đất nông nghiệp 3153,46ha; sang đất phi nông nghiệp 20,88ha; giảm khác 593,31ha.
- Núi đá khơng có rừng cây có 4476,76ha giảm 9400,2ha do chuyển sang đất lâm nghiệp 8470,31ha; đất phi nông nghiệp 0,14ha; giảm khác
929,75ha. Từ các số liệu thu thập được ở trên, ta có thể đánh giá tốc độ
CĐMĐSDĐnăm của kỳ kế hoạch trước như sau:
Biểu 2.6: Bảng đánh giá tốc độ CĐMĐSDĐnăm của kỳ kế hoạch trước
STT Chỉ tiêu
Năm 2000 ha
Năm 2005 ha
Tốc độ chuyển đổinăm
1 Đất nông nghiệp
6117,95 19043.88
116,14
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp
2889,90 4064,26
83,52 1.2
Đất lâm nghiệp 3224,90
14963,89 129,49
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản và
đất nông nghiệp khác 3,15
15,73 131,91
2 Đất phi nông nghiệp
771,67 1323,70
89,86 03
Đất chưa sử dụng 18808,38
5500,42 -93,32
Theo bảng trên ta thấy: tốc độ CĐMĐSDĐnăm của các loại đất đều đạt tỷ lệ khá cao. Trong đó, nhóm đất nơng nghiệp có tốc độ
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
CĐMĐSDĐnăm cao nhất đạt 116,14 chủ yếu là từ quỹ đất chưa sử dụng chuyển sang, đất lâm nghiệp thuộc nhóm đất này có tốc độ chuyển đổi
mạnh nhất là 129,49. Đất chưa sử dụng có tốc độ chuyển đổi là 93,32, điều đó chứng tỏ diện tích đất này ngày càng được khai thác triệt để và đưa
vào sử dụng sang các mục đích nơng nghiệp và phi nông nghiệp. Tuy nhiên, với tốc độ CĐMĐSDĐnăm của kỳ kế hoạch trước ở huyện Đông
Anh như trên thì vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu CĐMĐSDĐ trong q trình đơ thị hố của huyện ngoại thành Hà Nội. Tốc độ CĐMĐSDĐnăm
của đất phi nông nghiệp vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu là đất nơng nghiệp. Do vậy trong những năm còn lại của kỳ kế hoạch cuối cần thực hiện các
biện pháp đẩy mạnh tốc độ CĐMĐSDĐ, đặc biệt là đất phi nông nghiệp; giảm diện tích đất nơng nghiệp trên địa bàn huyện nhưng phải đồng thời áp
dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để vẫn đảm bảo tăng năng suất cây trồng vật nuôi và đảm bảo an ninh lương thực.
3.2.2. Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất kỳ trước
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất kỳ trước từ năm 2000 - 2005 được thể hiện trong bảng:
Biểu 2.7: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất kỳ trước
STT Chỉ tiêu
Mã Kế hoạch
sử dụng đất được
duyệt ha Kết quả thực hiện
Diện tích ha
Tỷ lệ
1 2
3 4
5 6=[54]
x100
Tổng diện tích đất tự nhiên 25.698,00 25.868,00
100,66 1
ĐẤT NÔNG NGHIỆP NNP
13.835,97 19.043,88 137,64
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp
SXN 2.945,91
4.064,26 137,96
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm
CHN 2.702,11
3.949,16 146,15
1.1.1.1 Đất trồng lúa
LUA 1.525,68
1.720,59 112,77
1.1.1.1.1 Đất chuyên trồng lúa nước LUC
DIV0
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
1.1.1.1.2 Đất trồng lúa nước còn lại LUK
1.525,68 1.720,59
112,77 1.1.1.1.3 Đất trồng lúa nương
LUN DIV0
1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại
HNC
a
1.176,43 2.223,64
189,00 1.1.2
Đất trồng cây lâu năm CLN
243,80 115,10
47,21

1.2 Đất lâm nghiệp


LNP 10.868,30 14.963,89
137,68 1.2.1
Đất rừng sản xuất RSX
2.530,00 2.943,95
116,36 1.2.1.1
Đất có rừng tự nhiên sản xuất RSN
805,64 DIV0
1.2.1.2 Đất có rừng trồng sản xuất
RST 2.530,00
1524,11 60,24
1.2.1.3 Đất khoanh nuôi phục hồi rừng
sản xuất RSK
614,2 DIV0
1.2.1.4 Đất trồng rừng sản xuất
RSM DIV0
1.2.2 Đất rừng phòng hộ
RPH 8.338,30 11.475,44
137,62 1.2.2.1
Đất có rừng tự nhiên phòng hộ RPN
8.338,30 5574,89
66,86 1.2.2.2
Đất có rừng trồng phòng hộ RPT
13,6 DIV0
1.2.2.3 Đất khoanh ni phục hồi rừng
phòng hộ RPK
5886,95 DIV0
1.2.2.4 Đất trồng rừng phòng hộ
RPM DIV0
1.2.3 Đất rừng đặc dụng
RDD 0,00
544,50 DIV0
1.2.3.1 Đất có rừng tự nhiên đặc dụng
RDN 544,50
DIV 1.2.3.2
Đất có rừng trồng đặc dụng RDT
DIV0 1.2.3.3
Đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng
RDK DIV0
1.2.3.4 Đất trồng rừng đặc dụng
RDM DIV0

1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản


NTS 21,76
15,73 72,29

1.4 Đất làm muối


LMU DIV0
2 ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
PNN 940,78
1.323,70 140,70

2.1 Đất ở


OTC 114,33
171,59 150,08
2.1.1 Đất ở tại nông thôn
ONT 83,26
126,16 151,52
2.1.2 Đất ở tại đô thị
ODT 31,07
45,43 146,22

2.2 Đất chuyên dùng


CDG 682,11
890,45 130,54
2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, cơng trình
sự nghiệp CTS
36,23 4,32
11,92
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
2.2.2 Đất quốc phòng, an ninh
CQA 155,10
25,30 16,31
2.2.3 Đất sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp CSK
342,18 298,51
87,24 2.2.3.1
Đất khu công nghiệp SKK
DIV0 2.2.3.2
Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh SKC
DIV0 2.2.3.3
Đất cho hoạt động khoáng sản SKS
342,18 298,51
87,24 2.2.3.4
Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ
SKX DIV0
2.2.4 Đất có mục đích cơng cộng
CCC 148,60
562,32 378,40
2.2.4.1 Đất giao thông
DGT 87,62
515,79 588,67
2.2.4.2 Đất thuỷ lợi
DTL 60,98
28,05 46,00
2.2.4.3 Đất để chuyển dẫn năng lượng,
truyền thông DNT
0,21 DIV0
2.2.4.4 Đất cơ sở văn hóa
DVH 0,23
DIV0 2.2.4.5
Đất cơ sở y tế DYT
2,00 DIV0
2.2.4.6 Đất cơ sở giáo dục - đào tạo
DGD 12,81
DIV0 2.2.4.7
Đất cơ sở thể dục - thể thao DTT
0,19 DIV0
2.2.4.8 Đất chợ
DCH 1,28
DIV0 2.2.4.9
Đất có di tích, danh thắng LDT
DIV0 2.2.4.10
Đất bãi thải, xử lý chất thải RAC
1,76 DIV0

2.3 Đất tơn giáo, tín ngưỡng


TTN 4,12
DIV0 2.4
Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD
11,00 26,72
242,91 2.5
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng
SMN 133,34
230,82 173,11
3 ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG
CSD 10.921,25
5.500,42 50,36

3.1 Đất bằng chưa sử dụng


BCS 164,72
91,88 55,78

3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng


DCS 1.686,60
931,78 55,25

3.3 Núi đá khơng có rừng cây


NCS 9.069,93
4.476,76 49,36
Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Đông Anh 2000-2010
3.2.2.1. Đất nông nghiệp

a. Đất sản xuất nông nghiệp


Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Bảng tổng hợp cho thấy, đất sản xuất nông nghiệp là 4064,26ha tăng so với kế hoạch đặt ra 137,96. Trong đó:
Đất trồng cây hàng năm 3949,16ha tăng 137,9. Cụ thể: - Đất trồng lúa 1720,04ha tăng 112,74.
- Đất trồng cây hàng năm còn lại 1720,59ha tăng 112,74. Nhìn chung biến động đất trồng cây hàng năm chủ yếu từ đất chưa sử
dụng chuyển sang trồng lúa nước, cây hoa màu. Trong kế hoạch sử dụng đất những năm tới cần bố trí thực hiện đa dạng hoá cây trồng, đưa các loại
cây trồng cạn vào trồng trong vụ xuân trên đất ruộng để tăng hệ số gieo trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Đất trồng cây lâu năm 115,1ha thực hiện đạt 47,21 so với kế hoạch. Những năm tới cần ưu tiên, bố trí quỹ đất để phát triển cây lâu năm,
cây ăn quả có chất lượng cao, thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng hình thành vùng sản xuất hàng hố tập trung và nâng cao hiệu quả sử dụng trên
đất dốc.
b . Đất lâm nghiệp
Bảng tổng hợp trên cho thấy kết quả thực hiện việc phát triển và trồng rừng thực hiện được 14963,89ha bằng 137,68 so với kế hoạch, chủ yếu do
chuyển từ đất chưa sử dụng sang, cụ thể các loại đất gồm: - Đất rừng sản xuất có 2943,95ha bằng 116,36 kế hoạch do chuyển
từ đất chưa sử dụng sang trồng rừng sản xuất. - Đất rừng phòng hộ có 11475,44ha bằng 137,62 kế hoạch do được
chuyển từ đất rừng sản xuất và đất đồi núi chưa sử dụng sang. - Đất có rừng đặc dụng 544,5ha tăng 100 so với kế hoạch đặt ra do
được chuyển từ đất rừng phòng hộ sang. Đặc điểm rừng tự nhiên của huyện chủ yếu là rừng nghèo và rừng
phục hồi, rừng tre nứa và rừng hỗn giao,…
c . Đất nuôi trồng thuỷ sản
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Đất ni trồng thuỷ sản 15,73ha bằng 72,29 kế hoạch, chủ yếu dùng để nuôi thả cá ở các hồ do các hộ gia đình hoặc nhóm hộ đấu thầu hoặc
nằm rải rác ở các ao của các hộ gia đình trong huyện. Tuy nhiên diện tích nói trên phần lớn hiện nay chưa được khai thác triệt để mà mới chỉ nuôi cá
theo hình thức nhỏ lẻ, gia đình nên hiệu quả kinh tế còn thấp. 3.2.2.2. Đất phi nơng nghiệp
Diện tích nhóm đất phi nơng nghiệp là 1323,70ha bằng 140,70 kế hoạch do chuyển từ đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng sang được phân bố
như sau:
a . Đất ở
Diện tích đất ở có 171,59ha bằng 150,08 kế hoạch, trong đó: - Đất ở đơ thị có 45,43ha bằng 146,22 kế hoạch.
- Đất ở nông thôn 126,16ha bằng 151,52 kế hoạch do chuyển từ đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng sang. Phần lớn đất ở tăng của các hộ gia
đình phát sinh là do tự giãn trên đất cây lâu năm. Các điểm dân cư của các xã tương đối tập trung thành những khu cụm dọc theo các trục lộ giao
thơng, các tụ điểm văn hố, kinh tế, có dịch vụ phát triển.
b . Đất chuyên dùng
Bảng tổng hợp trên cho thấy đất chuyên dùng đến năm 2005 có 890,45ha bằng 130,54 kế hoạch, cụ thể:
- Đất trụ sở cơ quan, cơng trình sự nghiệp có 4,32ha bằng 11,92 kế hoạch do một số cơng trình khơng thực hiện được.
- Đất quốc phòng, an ninh 25,3ha bằng 16,31 kế hoạch do chưa thực hiện được một phần diện tích đất quốc phòng an ninh cho đến nay khơng còn
phù hợp. - Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 298,51ha bằng 87,24 kế
hoạch do chưa thực hiện được.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
- Đất có mục đích cơng cộng 562,32ha bằng 378,40 kế hoạch, được chia ra các loại đất sau:
+ Đất giao thơng có 515,79ha bằng 588,67 kế hoạch tăng lên được lấy từ đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, đất rừng và đất chưa sử dụng sang.
+ Đất thuỷ lợi 28,05ha bằng 46 kế hoạch do một số tuyến mương chưa thực hiện được.
Còn các loại đất khác trong mục này do chỉ tiêu thống kê lần lập quy hoạch lần trước khơng bóc tách ra nên khơng có cơ sở để so sánh.
c . Đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất sơng suối và mặt nước chuyên dùng; đất phi nông nghiệp khác
- Đất tơn giáo, tín ngưỡng có 4,12 ha vượt 100 so với kế hoạch. - Đất nghĩa trang, nghĩa địa 26,72ha bằng 242,91 kế hoạch do
chuyển một phần từ đất chưa sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, một phần diện tích ở xen kẽ trong rừng được bóc tách ra nên cũng tăng
thêm. 3.2.2.3. Đất chưa sử dụng
Bảng tổng hợp trên cho thấy, quỹ đất chưa sử dụng đã được chuyển sang cho các loại đất nông nghiệp, phi nông nghiệp. Cụ thể chia ra các loại
đất sau: - Đất bằng chưa sử dụng 91,58ha vượt 44,22 còn 55,78 so với kế
hoạch do q trình khai thác đưa vào trồng cây hàng năm. - Đất đồi núi chưa sử dụng còn 931,78ha bằng 55,25 kế hoạch và vượt
44,75 so với chỉ tiêu do chuyển sang các loại đất nông nghiệp, phi nông nghiệp.
- Núi đá khơng có rừng cây có 4476,76ha bằng 49,36 kế hoạch do chuyển sang đất rừng tự nhiên.
3.3. Công tác thu hồi, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở huyện Đơng Anh.

3.3.1. Tình hình thu hồi đất


Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Phát triển đơ thị ln đi liền với việc thực thi chính sách thu hồi đất, GPMB lấy đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng nhà ở và dịch
vụ.... Hệ quả tất yếu là kéo theo sự chuyển đổi, chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đai cả nội, ngoại thành, đặc biệt là đối với các vùng ngoại ô đô thị; là
một huyện ngoại thành Hà Nội nên Đơng Anh cũng khơng nằm ngồi quy luật đó.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Biểu 2.8: Kết quả thực hiện việc thu hồi đất từ năm 2000 đến năm 2005 Đơn vị: ha
STT Loại đất phải thu hồi Mã
DT thu hồi theo QHSD đất được duyệt
DT thu hồi trên thực tế
1 2
3 4
5
1 ĐẤT NÔNG NGHIỆP
NNP 32,18
520,77 1.1
Đất sản xuất nông nghiệp SXN
32,18 17,41
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm CHN
26,08 10,93
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN
6,10 6,48

1.2 Đất lâm nghiệp


LNP 503,36
1.2.1 Đất rừng sản xuất RSX
221,62 1.2.2 Đất rừng phòng hộ
RPH 281,74
1.2.3 Đất rừng đặc dụng RDD

1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản


NTS 1.4
Đất làm muối LMU
1.5 Đất nông nghiệp khác
NKH Nguồn: Số liệu thống kê của UBND huyện Đông Anh
Bảng tổng hợp trên cho thấy kết quả thực hiện thu hồi các loại đất như sau:
- Đối với đất nông nghiệp, diện tích thu hồi đạt 1618,30 kế hoạch, cụ thể: + Đất sản xuất nông nghiệp thực hiện bằng 54,10 kế hoạch, trong
đó: diện tích thu hồi đất trồng cây hàng năm bằng 41,91 kế hoạch, còn đất cây lâu năm thực hiện vượt kế hoạch đạt 106,23 kế hoạch.
Đất lâm nghiệp trong kế hoạch đặt ra khơng có, nhưng thực tế đã thực hiện ngoài kế hoạch đối với đất rừng sản xuất là 221,62ha và rừng phòng
hộ là 281,74ha. Qua kết quả thực hiện việc thu hồi đất cho thấy kế hoạch sử dụng đất
kỳ trước đề ra có nhiều chỉ tiêu đã thực hiện đúng theo kế hoạch, tuy nhiên
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
vẫn còn nhiều nơi chưa thực hiện đúng theo kế hoạch và nhiều nơi chưa thực hiện được các hạng mục công trình đã đề ra. Đối với những khu vực
chưa thực hiện được kế hoạch sẽ điều chuyển sang kỳ kế hoạch tiếp để thực hiện.

3.3.2. Các dự án đầu tư có sử dụng đất ở huyện Đơng Anh


Trước kia, Đơng Anh là huyện ngoại thành Hà Nội được coi là một miền đất kém phát triển ở phía Bắc sơng Hồng. Các nhà đầu tư rất ít khi
“tìm đến”. Tuy nhiên những năm gần đây, khi diện tích đất ở nội đơ cho các dự án thu hẹp lại thì các nhà đầu tư bắt đầu chuyển hướng ra các vùng
ven, trong đó có Đơng Anh. Do vậy, số dự án đầu tư bắt đầu có dấu hiệu tăng lên đáng kể. Đặc biệt trong quý đầu của năm 2008, huyện Đông Anh
đã lập phương án xây dựng khu đô thị mới sông Cà Lồ - đây là khu đô thị cao cấp 6 sao phát triển dọc hai bên bờ sơng Cà Lồ thuộc hai huyện Sóc
Sơn và Đơng Anh - Hà Nội. Hiện tại, Sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội đã thống nhất đề nghị UBND thành phố chấp thuận nguyên tắc cho phép tổ hợp 3
nhà đầu tư: Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam Vinalines, Công ty cổ phần Sao Việt Nam VSG và Công ty TGEC của Thuỵ Sỹ được phép lập quy
hoạch, đồng thời nghiên cứu dự án khu đô thị sinh thái sơng Cà Lồ; tiếp tục hồn thiện ý tưởng về quy mô, vốn, các hạng mục đầu tư, thực trạng sử
dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đầu mối lớn, các nội dung quy hoạch, GPMB, TĐC… để báo cáo Thường vụ, Thường trực UBND quyết định. Ngoài ra,
trên địa bàn huyện còn có rất nhiều dự án đầu tư khác đã được phê duyệt phương án quy hoạch và đi vào triển khai, thực hiện.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Biểu 2.9: Tổng hợp dự án đầu tư từ năm 2000 - 2004
Chỉ tiêu Năm
2000 Năm
2001 Năm
2002 Năm
2003 Năm
2004
Tổng số DA 8
19 20
17 23
Diện tích đất phải thu hồi ha
60,7 118,6
247 171
75 Diện tích đất bàn giao ha
39,6 75,87
78,2 158
39 Số hộ đã nhận tiền
670 1.529
2.125 4.804
1.109 Tổng số tiền chi trả tr.đ
18.65 33.90
76.60 182.00
27.005 Số hộ đã bố trí TĐC
1 78
Nguồn: UBND thành phố Hà Nội - Ban chỉ đạo GPMB thành phố
Do khó khăn trong việc thống kê số liệu nên bảng trên chỉ tổng hợp được các dự án đầu tư đến năm 2004
Theo bảng trên ta thấy, số dự án đầu tư có sử dụng đất vào huyện Đông Anh ngày càng tăng qua các năm. Điều đó chứng tỏ q trình ĐTH ở
các huyện ngoại thành như Đông Anh đang diễn ra với tốc độ rất nhanh. Diện tích đất bị thu hồi, CĐMĐSDĐ ngày càng nhiều. Năm 2000 mới chỉ
có 8 dự án đầu tư nhưng sang đến năm 2004 đã lên tới 23 dự án đầu tư. Tuy nhiên việc thu hồi, CĐMĐSDĐ diễn ra rất chậm, không năm nào đạt mức
kế hoạch đề ra. Năm 2002 diện tích đất được bàn giao đạt tỷ lệ rất thấp 31,7. Tỷ lệ này trong những năm gần đây đang có xu hướng giảm do rất
nhiều ngun nhân tác động.

3.3.3. Cơng tác giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và bồi thường thiệt hại


 Theo quy hoạch đến năm 2010, Đơng Anh sẽ có khoảng 3.000ha đất nơng nghiệp được chuyển đổi phục vụ q trình cơng nghiệp hố, hiện đại
hố đất nước. Những năm gần đây, số dự án đầu tư vào huyện Đông Anh ngày càng nhiều nhưng cũng gặp phải rất nhiều cản trở, đặc biệt là công tác
GPMB. Đây là khâu được đánh giá là khó khăn nhất trong q trình thực hiện dự án đầu tư. Những khó khăn này làm cho các dự án bị giảm tiến độ
thực hiện hoặc các chủ đầu tư bị mất đi cơ hội để đầu tư tiếp. Điển hình là
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
các dự án như: Dự án xây dựng sân golf Kim Nỗ, dự án Bắc Thăng Long - Vân Trì, dự án cải tạo nâng cấp đường bệnh viện Đông Anh - Đền Sái.
Năm 1995, Công ty TNHH Daeha Việt Nam thuộc tập đoàn Daewoo - Hàn Quốc được th đất ở khu đầm Vân Trì - thơn Thọ Đa - xã Kim Nỗ -
Đông Anh để đầu tư xây dựng khu giải trí gồm sân golf và một số cơng trình khác. Đến năm 1998, việc GPMB mới hồn thành và Cơng ty TNHH
Daeha chuẩn bị khởi cơng xây dựng. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính
khu vực xảy ra khiến chủ đầu tư này không thể tiếp tục dự án. Năm 2003 Công ty Noble Việt Nam thuộc tập đoàn Daewoo được phép tiếp quản
dự án thay thế Công ty Daeha. Khoảng thời gian này một số hộ gia đình có đất ở sân golf đã đòi chủ đầu tư mới phải hỗ trợ thêm tiền đền bù GPMB
với lý do giá đất đã lên cao. Ngồi ra, họ còn u cầu chủ đầu tư phải trả 70 tiền lương thất nghiệp
cho con em họ; vì trước đây, Cơng ty Daeha đã có cam kết tuyển dụng mỗi gia đình có đất khu dự án được một lao động
vào làm việc ở sân golf. Trước đó, Daeha đã chi tiền GPMB đầy đủ, đúng quy định và hỗ trợ thêm cho xã Kim
Nỗ tiền xây dựng một số cơ sở hạ tầng như đường, trạm, điện…Giá đền bù đất
sau nhiều lần họp bàn đã nâng từ 2,7triệu đồngsào lên 12triệu đồngsào.
Mỗi lần để ra được mức giá như vậy đã nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn thậm chí xơ xát giữa người dân và chủ
đầu tư. Cho đến năm 2004, chủ đầu tư khởi công dự án đã bị một số người dân ở đây tấn công vào buổi lễ.
Nguyên nhân của việc gián đoạn GPMB trên chủ yếu là do sự không cương quyết của ban lãnh đạo chính quyền địa phương, trình độ dân trí
kém, dễ bị kích động lơi kéo của một bộ phận không nhỏ dân cư nơi đây. Đối với dự án đơ thị Bắc Thăng Long - Vân Trì Đơng Anh: Để đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long, Thủ tướng Chính phủ đã ra nhiều Quyết định bắt đầu từ năm 1998, thu hồi làm nhiều đợt, với diện
tích hơn 200ha gồm đất nơng nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng... liên quan đến nhiều xã, đơn vị, cá nhân. Trong đó có các xã: Kim Nỗ, Kim Chung,
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Hải Bối, Đại Mạch, Võng La, Vĩnh Ngọc. Ở dự án này đã có sự mâu thuẫn và khơng đồng nhất quan điểm giữa kiểm tốn Nhà nước và UBND huyện
Đơng Anh, UBND thành phố Hà Nội. Sau gần 10 năm thực hiện dự án, kiểm toán Nhà nước đã phát hiện công bố những sai phạm trong việc đền
bù, hỗ trợ, GPMB liên quan đến một số xã ở dự án này, gây thất thốt, lãng phí ngân sách Nhà nước với số tiền hơn 54tỷ đồng đã làm cho dư luận
rất bức xúc. Những sai phạm về việc đền bù, GPMB được kiểm tốn Nhà nước cơng bố chủ yếu xoay quanh những vấn đề sau:
Thứ nhất, UBND thành phố Hà Nội hướng dẫn áp dụng giá đền bù chưa đúng với quy định trong Nghị định của Chính phủ và Thơng tư của
Bộ Tài chính với số tiền là 7,388tỷ đồng. Cụ thể theo điều 8, Nghị định 22 CP quy định giá đất để tính đền bù trên cơ sở giá đất của địa phương ban
hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K trừ đi chênh lệch giữa giá đất hạng 1 và giá đất nông nghiệp thu hồi theo hạng. Theo điều 7, Nghị
định 1972004CP và điểm 4 phần 2 Thông tư 1162004BTC của Bộ Tài chính quy định đền bù theo giá đất cùng hạng tại địa phương. Nhưng công
văn 13632005CV-UB, do phó chủ tịch UBND thành phố ký lại cho phép căn cứ hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong cùng dự
án để xác định giá đất nông nghiệp làm căn cứ để bồi thường, hỗ trợ. Thứ hai, UBND thành phố hướng dẫn các chính sách hỗ trợ chưa rõ
ràng, chưa đúng quy định của Chính phủ trong đó có hướng dẫn chuyển nghề chưa đúng. Theo khoản 1, điều 29, Nghị định 197CP quy định: Hộ
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nơng nghiệp khi bị thu hồi hơn 30 diện tích đất sản xuất nông nghiệp mới được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp
trong độ tuổi lao động, nhưng các văn bản của UBND thành phố lại cho phép hỗ trợ theo diện tích đất thực tế đã thu hồi.
Thứ ba, việc thực hiện đền bù diện tích đất nơng nghiệp cho tập thể, thôn quản lý không phải nộp tiền sử dụng đất, không thuộc quỹ đất công
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
ích của xã là chưa đúng quy định tại điều 7, 8, 12 Nghị định 1972004CP với số tiền 8,572tỷ đồng.
Tuy nhiên, theo UBND huyện Đông Anh thì những cơng bố trên của kiểm tốn Nhà nước nếu chiếu theo Nghị định thì đúng nhưng trên thực tế
thì khơng. Bởi vì huyện Đơng Anh cũng như các xã nằm trong vùng dự án đều thực hiện theo các Quyết định của Thành phố. Nghị định mang tính
chung nhưng mỗi địa phương lại có tính đặc thù, nhất là ở thủ đô Hà Nội. Dự án này thực hiện được 10 năm, liên quan đến nhiều xã với hàng
nghìn hộ gia đình nằm trong vùng dự án được đền bù, hỗ trợ. Về thực hiện chính sách về GPMB, ở Hà Nội thường phải dùng cơ chế đặc thù. Ví dụ,
trong Nghị định của Chính phủ quy định các hộ nông dân bị thu hồi đất tới 30 diện tích đất đang canh tác mới được hỗ trợ đặc biệt là 35.000đồng
m
2
, hỗ trợ đào tạo nghề 25.000đồngm
2
. Nhưng với Hà Nội lại áp dụng hỗ trợ đặc biệt và hỗ trợ đào tạo nghề theo diện tích đất thu hồi. Việc đền bù
được thực hiện theo nguyên tắc đến các hộ nông dân, nhưng ở một số xã như Võng La, Đại Mạch khi đó chưa thực hiện giao đất theo Nghị định 64
CP, mà vẫn thực hiện theo “khoán 10”, nên tiền đền bù đưa về hợp tác xã, chủ nhiệm họp dân và thống nhất cách chia cho hợp lý.
Với việc đền bù đất do tập thể quản lý đều được Hội đồng đền bù GPMB, ban quản lý dự án điều tra kê khai đo đạc. Chính sách đền bù đều
được Hội đồng thẩm định thành phố kiểm tra, trình UBND thành phố phê duyệt theo các quy định hiện hành của Chính phủ, có nghiên cứu xem xét
cho phù hợp với tình hình của địa phương. Hội đồng thẩm định đã nhất trí trình UBND thành phố phê duyệt các mức đền bù, hỗ trợ cụ thể tại tờ trình
liên ngành số 41902000TTLN-STCVG. Đối với đất mương nội đồng hỗ trợ thiệt hại về đất như đất nông nghiệp, giá đất áp dụng theo giá bình quân
gia quyền của hạng đất do Chi cục thuế Đông Anh xác nhận và được áp dụng các khoản hỗ trợ, đào tạo chuyển nghề, hỗ trợ đặc biệt Quyết định số
69062000QĐ-UB của UBND thành phố.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Ngồi ra, đối với dự án cải tạo nâng cấp đường bệnh viện Đông Anh - Đền Sái hiện đang thực hiện tại xã Uy Nỗ, công tác GPMB cũng đang gặp
phải một số cản trở. Căn cứ Quyết định số 2422002QĐ-UBND ngày 29122006 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành giá các loại đất
trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2007 thì đường bệnh viện Đông Anh - Đền Sái được áp dụng với các vị trí như sau:
Biểu 2.10: Bảng giá đất ven trục đường giao thơng chính thuộc huyện Đơng Anh
Vị trí Vị trí 1
Vị trí 2 Vị trí 3
Vị trí 4 Giá đất nghđm
2
2.600 1.900
1.500 1.250
Nguồn: Quyết định số 2422006QĐ-UBND ngày 29122006 của UBND thành phố Hà Nội
Tuy nhiên, khi tiến hành công khai phương án bồi thường hỗ trợ GPMB, người dân cho rằng mức giá trên là thấp hơn so với giá thị trường
tại thời điểm. Do vậy, đã có đơn đề nghị của người dân về việc xem xét giá đền bù đất và tài sản của dự án này trình lên UBND huyện Đơng Anh.
Qua ba dự án trên cho ta thấy, công tác đền bù GPMB hiện nay là một vấn đề hết sức khó khăn và nan giải đòi hỏi cần phải được giải quyết kịp
thời và triệt để. Nếu khơng nó sẽ tác động tiêu cực đến lợi ích của tất cả các tầng lớp nhân dân và gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng
đến trật tự an ninh xã hội…  Trong năm 2007, huyện có 20 dự án được triển khai GPMB nhưng
tốc độ rất chậm so với kế hoạch đề ra. Khối lượng các dự án chậm tiến độ gồm các dự án TĐC Đông Hội, Xuân Canh và xây dựng khu công viên cây
xanh kết hợp nghĩa trang tại xã Vĩnh Ngọc, dự án đấu giá quyền sử dụng đất đường 23B, dự án hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì và một số
điểm thuộc dự án trục đường kinh tế miền Đông. Giá đất đền bù còn chưa sát giá thị trường, đặc biệt là giá đất nông
nghiệp quá thấp. Chẳng hạn, với đất ruộng có vận dụng mọi quy chế về đền
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
bù hoa màu, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp thì giá đền bù cũng chỉ khoảng 300.000 đồngm
2
trong khi giá thị trường tính đến hàng triệu đồng khiến người dân ln cảm thấy bị thiệt thòi. Như vậy, nếu người dân bị thu hồi
hàng ngàn mét vng đất thì mức đền bù của Nhà nước vẫn chưa đủ để họ mua một miếng đất ở, khiến người dân lâm vào tình trạng vơ cùng khó khăn.
Kinh phí đền bù GPMB đều rút từ Ngân sách Nhà nước do chúng ta chưa hồn tồn thốt khỏi cơ chế bao cấp, trong khi lợi ích do phát triển
mang lại chưa trở thành nguồn thu đầy đủ, ổn định và hợp pháp của nhà đầu tư.
Thông thường khi Nhà nước đầu tư xây dựng mới các cơng trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội thì đều làm cho giá đất của các vùng lân cận tăng lên.
Sau khi các cơng trình hồn thành, người đang sử dụng mảnh đất đó đương nhiên được hưởng mà khơng phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào. Điều này
không những hạn chế năng lực giải quyết nhiệm vụ GPMB mà còn làm phát sinh quan hệ bất bình đẳng kinh tế - xã hội lâu dài về sau.
 Hơn nữa, vấn đề công bằng xã hội chưa thể hiện rõ trong chính sách giá đền bù biểu hiện:
Người dân bị thu hồi đất tư liệu sản xuất quan trọng nhất đối với nghề nghiệp mà họ đang theo dõi sau khi nhận tiền đền bù của Nhà nước thì vẫn
khơng đủ để mua lại phần đất tư liệu sản xuất mà họ vừa giao cho Nhà nước ngay trên địa bàn mà họ đang sống. Như vậy, các quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước và người dân trên lĩnh vực này đã không dựa trên cơ sở ngang giá, cơ sở quan trọng của sự cơng bằng.
Cách tính giá thu hồi hiện nay chưa phản ánh hết các yếu tố của khái niệm giá trị của quyền sử dụng đất. Giá đất đai được tính trên cơ sở thu
nhập hoa lợi của mảnh đất đó, nhưng khi Nhà nước giao cho họ quyền sử dụng lâu dài và quyền chuyển nhượng thì thực chất đã giao cho họ những
phần quan trọng của quyền sở hữu. Đất là tư liệu sản xuất sử dụng nhiều
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
năm, tính giá trên cơ sở thu nhập hoa lợi bao nhiêu năm là đúng thì hiện nay vẫn chưa được làm rõ.
Khoảng chênh lệch giữa giá thu hồi đất và giá đất các chủ dự án sau khi được giao đất bán ra quá lớn. Khoảng chênh lệch này để các chủ dự án
được hưởng cũng không hợp lý vì phần mà các chủ dự án đầu tư mới vào thửa đất là quá ít. Phần chênh lệch này có được là do mục đích sử dụng đất
thay đổi. Do vậy, các chủ dự án không thể được hưởng phần khơng do
mình tạo ra. Vấn đề GPMB chậm tiến độ nêu trên đã gây ra rất nhiều hậu quả
nghiêm trọng: khiếu nại tố cáo, các dự án triển khai chậm tiến độ, quy hoạch treo dự án treo, gây rối loạn an ninh trật tự, ảnh hưởng đến lợi ích
của mọi người… - Về vấn đề lợi ích: Những tồn tại hạn chế của công tác đền bù GPMB
đã làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư và lợi ích của cả những người bị thu hồi đất.
Đối với Nhà nước: mỗi năm Nhà nước phải bỏ ra một khoản tiền lớn cho việc chi trả tiền đền bù GPMB. Năm 2000, ngân sách chi trả cho công
tác GPMB là 438 tỷ đồng, năm 2001 là 768 tỷ đồng và năm 2002 là 930 tỷ đồng. Những tồn tại trong GPMB cũng gây khó khăn khơng nhỏ cho việc
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước: các dự án đầu tư không thực hiện đúng tiến độ, kế hoạch phát triển đô thị bị ảnh hưởng, cơ
sở hạ tầng kỹ thuật khơng theo kịp sự phát triển…Tình trạng khiếu nại, tố cáo đông người diễn ra nhiều gây mất ổn định xã hội như khiếu nại tố cáo
của người dân xã Việt Hùng - huyện Đông Anh. Việc khiếu nại tố cáo đơi khi gây mất lòng tin của nhân dân dẫn đến việc khiếu nại vượt cấp kéo dài.
Đối với chủ đầu tư: Giá đền bù GPMB nhiều khi vượt quá khả năng chi trả của chủ đầu tư khiến cho nhiều dự án không thể thực hiện được.
Việc chậm trễ của công tác GPMB gây ra nhiều thiệt hại cho chủ đầu tư
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
như: mất đi cơ hội kinh doanh, khơng hồn thành tiến độ gây mất uy tín, phải sửa đổi dự án cho phù hợp.
Đối với người bị thu hồi đất đã bị mất đi khoản thu nhập thường xuyên, ổn định do việc sử dụng diện tích đất bị thu hồi mang lại. Đồng thời
họ phải mất một khoản thời gian khá dài để xây dựng và ổn định lại cuộc sống do phải di chuyển để trả lại mặt bằng xây dựng cho các dự án.
- Hơn nữa, càng ngày càng có rất nhiều đơn khiếu nại của người dân liên quan đến vấn đề đền bù GPMB gửi đến các cơ quan chức năng có
thẩm quyền. Các dạng khiếu nại chủ yếu xoay quanh những vấn đề sau: Thứ nhất, những khiếu nại yêu cầu Nhà nước tính lại giá trị đền bù
nhận trước đây theo quy định của pháp luật. Người khiếu nại cho rằng tính tốn đền bù trước đây so với hiện nay chưa công bằng. Dạng khiếu nại này
xảy ra phổ biến ở các dự án có quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền ở phạm vi lớn nhưng lại tổ chức thi công gián đoạn, kéo dài nhiều
năm, thi cơng đến đâu đền bù GPMB đến đó, trong thời gian thực hiện dự án chính sách đền bù có thay đổi.
Thứ hai, các khiếu nại yêu cầu tính tốn đền bù bổ sung diện tích nhà, đất, cây cối hoa màu, vật kiến trúc…mà khi kiểm kê còn thiếu hoặc tính sai
diện tích, sai loại đất. Thứ ba, là những khiếu nại liên quan đến việc thực thi nghị định 22,
nổi bật là giá đền bù thấp như: đơn giá bồi thường nhà thấp so với giá xây dựng nhà mới thực tế tại địa phương; giá đất ở, đất vườn thấp hơn nhiều so
với giá thị trường. Bên cạnh đó trước đây khi chưa có quyết định bãi bỏ hệ số K thì việc xác lập hệ số K để xác định giá trị đền bù thiệt hại về đất là
vấn đề gây nhiều bất đồng. Thứ tư, các khiếu nại về diện tích đất ở, diện tích đất được đền bù, giá
đền bù, quyền lợi trong khu TĐC, điều kiện và kinh phí chuyển đổi nghề nghiệp…Đây là dạng khiếu nại phức tạp liên quan đến chính sách đền bù
và kết quả quản lý đất đai ở địa phương, đặc biệt là cơ sở để xác định và
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
phân biệt tiêu chuẩn diện tích đất ở trong tổng số diện tích đất khn viên và tính hợp pháp của nó.
Ngồi ra còn có một số khiếu nại cho rằng có sự khơng cơng bằng trong chính sách đền bù giữa các dự án. Dạng khiếu nại này phát sinh khi
có các dự án ở cùng hoặc gần địa điểm nhưng khác nhau về chính sách đền bù, TĐC.
3.3.4. Cơng tác tái định cư và vấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất
3.3.4.1. Cơng tác tái định cư TĐC là q trình bồi thường cho các tài sản bị thiệt hại, di dân đến nơi
ở mới cùng các biện pháp hỗ trợ việc tái tạo lại các tài sản bị mất hoặc hỗ trợ di chuyển trong trường hợp phải di chuyển và cuối cùng là tồn bộ các
chương trình, biện pháp nhằm giúp những người bị ảnh hưởng khôi phục lại cuộc sống và nguồn thu nhập của họ và ổn định đời sống người dân.
Như vậy, công tác TĐC là một bước quan trọng trong quá trình GPMB, tuy nhiên hiện nay vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức. Các cán bộ quản
lý Nhà nước về đất đai và các chủ đầu tư chưa quen với khái niệm TĐC mà xác định mục tiêu chủ yếu là GPMB, bàn giao đất. Việc di dân TĐC chỉ
được coi là một giải pháp để GPMB nhanh chóng. Vì vậy, các dự án đầu tư hầu như không xây dựng phương án TĐC, khôi phục mức thu nhập và mức
sống của những người bị thu hồi đất. Trách nhiệm thực hiện dự án TĐC thường được giao phó cho chính quyền địa phương. Do thiếu nhân lực, tài
chính, thiếu sự phối hợp đồng bộ và nhiều nguyên nhân khác nên công tác TĐC thiếu sự giám sát, khơng có cơ chế giải quyết khiếu nại của người dân
bị di dời. Chủ đầu tư các dự án có nhu cầu TĐC lớn chưa thật sự quan tâm và nhận thức rõ trách nhiệm phải lo quỹ nhà TĐC để triển khai các dự án
được giao mà trông chờ xin quỹ nhà TĐC của thành phố tạo nên sức ép lớn đối với quỹ nhà ở, nguồn vốn đầu tư ứng trước của Thành phố. Công tác
TĐC thể hiện nổi cộm ở các vấn đề sau:
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Hiện nay, tình trạng thiếu quỹ nhà, quỹ đất TĐC trên địa bàn huyện vẫn chưa được giải quyết, chỉ đảm bảo khoảng 40-50 nhu cầu. Năm
2007, trên địa bàn huyện Đông Anh, tại xã Xuân Canh, Tam Xá, Vĩnh Ngọc khu TĐC sẽ được xây dựng với tổng diện tích đất trong ranh giới lập
quy hoạch chi tiết là 250.970m
2
. Tại xã Đông Hội và Mai Lâm cũng sẽ xây dựng một khu TĐC với tổng diện tích là 317.180m
2
. Tại xã Vĩnh Ngọc, khu TĐC có tổng diện tích 11ha. Tuy nhiên các khu này mới đang trong
quá trình triển khai thực hiện với tiến độ rất chậm do khối lượng dự án quá lớn. Ở thời điểm hiện tại, quỹ nhà đất TĐC của Đơng Anh còn thiếu rất
nhiều. Dưới đây là số liệu thống kê về tình hình TĐC năm 2007 ở các huyện ngoại thành Hà Nội.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Biểu 2.11: Tình hình tái định cư ở các huyện ngoại thành Hà Nội năm 2007
TT ĐỊA BÀN THỰC HIỆN DA
Số
DA CÁC YÊU CẦU VỀ BT-HTTĐC
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Diện tích đất phải thu hồiha
Tổng số
Trong đó Số hộ bị thu
hồi đất hộ
Đất ở
Đất NN
khác Tổng
số trong
đó Phải
TĐC Quỹ
TĐ C đã
đ- ược
bố trí
Nhu cầu
bố trí vốn
GPMB tr.đ
Số hộ được
ĐTKS TĐC Số hộ
nhận tiền
Số tiền đã chi
trả tr.đ
Diện tích được bàn giao ha
Số DA
Tổng số
Trong đó Đất
ở Đất
NN khác
Xong 100
GPMB Xong
theo phân
kỳ tiến độ
1 HUYỆN ĐÔNG ANH
23 196
12 184
6269 396
421500 6082
97 4235
305564 106
4 102
10 11
DA đủ điều kiện 23
196 12
184 6269
396 421500
6082 97
4235 305564
106 4
102 10
11
DA không đủ điều kiện 2
HUYỆN GIA LÂM 19
54 7
47 2509
684 564
14502 6
2394 2
539 15650
9 9
10 1
DA đủ điều kiện 16
45 4
41 2236
422 302
14489 2394
2 539
15650 9
9 10
1 DA không đủ điều kiện
3 9
3 6
273 262
262 136
3 HUYỆN SÓC SƠN
19 50
1 49
1021 4
44700 1045
823 64685
43 43
10 3
DA đủ điều kiện 19
50 1
49 1021
4 44700
1045 823
64685 43
43 10
3 DA không đủ điều kiện
4 HUYỆN THANH TRÌ
32 115
12 103
2175 406
30 1311
20 1034
18515 16
1 15
13 2
DA đủ điều kiện 23
96 2
94 1721
65 30
1311 20
1034 18515
16 1
15 13
2 DA không đủ điều kiện
9 19
10 9
454 341
5 HUYỆN TỪ LIÊM
56 275
17 258
4775 478
62955 4
2356 30
2564 21553
3 73
1 72
16 5
DA đủ điều kiện 31
131 8
123 3130
216 43024
4 2356
30 2564
21553 3
73 1
72 16
5 DA không đủ điều kiện
25 144
9 135
1645 262
19931
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính
46
Nguồn: Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính
46
Nhìn vào bảng trên ta thấy, trong năm 2007 huyện Đơng Anh có tổng số 23 dự án khơng có dự án nào khơng đủ điều kiện triển khai, chỉ sau huyện
Thanh Trì 32 dự án và huyện Từ Liêm 56 dự án nhưng số dự án đủ điều kiện chỉ có 31 dự án đạt 56,36. Diện tích đất yêu cầu phải thu hồi để thực
hiện dự án khá lớn 196ha trong đó đất nông nghiệp và các loại đất khác là 184ha chiếm 93,88. Số hộ bị thu hồi đất là 6269 hộ trong đó diện phải bố
trí TĐC là 396 hộ. Tuy nhiên, ngay cả khi lập kế hoạch vẫn chưa có quỹ TĐC nào đã được bố trí sẵn sàng, tất cả các dự án đều hồn tồn mang tính bị động.
Trong q trình thực hiện, số hộ được bố trí TĐC ở huyện Đông Anh là 97 hộ tương ứng với 24,5. Mặc dù con số này khá khiêm tốn nhưng so với các
huyện ngoại thành khác đã thống kê ở bảng trên thì tỷ lệ hộ được bố trí TĐC ở huyện Đông Anh là cao nhất. Thấp nhất là ở huyện Gia Lâm chỉ đạt 0,3.
Thứ hai, chất lượng TĐC còn thấp. Chưa kể đến số người bị thu hồi đất phải “tạm cư” kéo dài, chất lượng cuộc sống của họ thấp vì họ chưa được
định cư thì với những người đã được định cư, chất lượng TĐC cũng còn ở mức khá thấp. Cụ thể là:
Chất lượng kỹ thuật nhà ở thấp, nhiều nơi chưa có điện nước. Một số khu TĐC đã được sử dụng từ nhiều năm nhưng chưa có cơ sở hạ
tầng đặc biệt là hệ thống thốt nước, hệ thống giao thơng lầy lội mỗi khi có mưa.
Các khu TĐC hiện nay thường chưa có hạ tầng xã hội tốt đồng bộ. Đặc biệt là trường học cho con em các gia đình đã định cư có tình trạng phải đưa
con em đi học xa. Vấn đề trật tự vệ sinh, an toàn xã hội cũng là mối lo của những hộ mới đến TĐC.
Thứ ba, việc bố trí TĐC chưa khoa học, các biện pháp hỗ trợ sản xuất và đời sống chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều nơi chưa có khu TĐC đã triển
khai thu hồi đất, GPMB. Quy trình thơng báo cơng khai chưa được coi trọng đúng mức. Do giải toả nhiều hơn TĐC, trên 50 dân cư bị thu hồi đất đi ở trọ
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
nên quy trình cơng khai chỉ được thực hiện tuỳ dự án và tuỳ lúc. Chủ trương hỗ trợ sản xuất và đời sống ở tại khu TĐC không được thực hiện nghiêm túc.
Đặc biệt là phần trách nhiệm tạo lập một số nghề tại khu TĐC. Một vấn đề nữa liên quan đến công tác TĐC là tại nhiều dự án người dân
có đất bị thu hồi chấp thuận phương án bồi thường, sẵn sàng giao lại mặt bằng cho Nhà nước nhưng sau đó họ lại khơng được bố trí TĐC. Để khắc phục tình
trạng này, nhiều nơi đã đưa ra giải pháp làm nhà tạm thường là nộp mái tôn hoặc tấm lợp ximăng cho các hộ dân đến ở tạm hoặc hỗ trợ một khoản tiền từ
500.000 đồng - 700.000 đồnghộ trong khoảng thời gian 6 tháng để dân tự đi thuê chỗ ở nhưng khơng được người dân đồng tình vì việc ăn ở “tạm bợ”
khiến cho cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn. Những vấn đền này gây ảnh hưởng lớn đến tiến độ bồi thường, GPMB để thực hiện các dự án.
Ngoài ra, đối với những nơi đã xây dựng được khu TĐC thì giá đất ở, giá nhà ở tại khu TĐC thường cao hơn nhiều so với giá bồi thường về đất ở, nhà
ở tại nơi ở cũ khu TĐC được xây dựng mới với hạ tầng tương đối đồng bộ nên người dân muốn đến ở tại khu TĐC thì phải bỏ ra thêm một khoản tiền
không nhỏ vài chục triệu đồng mà không phải hộ gia đình nào cũng có điều kiện, do vậy các hộ dân sau khi được nhận đất TĐC thường chuyển nhượng
cho người khác để lấy tiền chênh lệch và tự tìm chỗ ở tại các khu vực khác. 3.3.4.2. Đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi
Phần lớn lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất phải chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp, dân sống ở nông thôn trở thành dân
thành thị, phát sinh “giàu-nghèo” giữa các khu vực rõ rệt... ĐTH thường gắn liền với tình trạng mất đất nơng nghiệp và đi đôi với vấn đề an ninh lương
thực, nó khơng chỉ có tác động xấu đến sản xuất nơng nghiệp, thu nhập của người nơng dân mà còn ảnh hưởng đến vấn đề lao động, việc làm tại địa
phương. Một bộ phận nơng dân, những người có trình độ thấp, khơng có khả
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
năng chuyển sang làm các nghề phi nông nghiệp đã bị thiệt thòi thiếu việc làm, ít thu nhập.
Sau khi nhận tiền bồi thường, đa số các hộ dân sử dụng tiền bồi thường để sửa chữa nhà cửa, mua sắm dụng cụ sinh hoạt, một số chuyển sang kinh
doanh dịch vụ, một số ít trường hợp sử dụng bồi thường không hiệu quả làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Đặc biệt đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất hết
đất sản xuất nông nghiệp mà khơng tạo được cơng ăn việc làm mới thì chỉ sau một đến hai năm sẽ lâm vào tình cảnh khó khăn. Phần lớn lại di cư ra các
thành phố lớn tìm kiếm cơng ăn việc làm gây ra tình trạng tăng dân số cơ học, mất cân đối lao động giữa các khu vực, tăng và dư thừa lực lượng lao động
phổ thông ở các đô thị, tạo áp lực mạnh mẽ cho các thành phố lớn về: an ninh trật tự xã hội, giao thông, nhà ở, môi trường bị ơ nhiễm....Những yếu tố đó đã
tác động tiêu cực đối với sự phát triển bền vững, nhất là ở những đơ thị có nhiều khu cơng nghiệp, khu đơ thị phát triển...
Trong q trình xây dựng, phát triển một số nhà máy đã có chính sách tuyển dụng lao động để giải quyết công ăn việc làm cho người có đất bị thu
hồi. Tuy nhiên rất ít trường hợp được làm lâu dài do lao động khơng có trình độ, tay nghề kém.
4. THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG HẠN CHẾ VỀ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT Ở HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH
PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN QUA 4.1. Thành tựu của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong thời gian
qua ở huyện Đơng Anh Thứ nhất, q trình CĐMĐSDĐ trong thời gian qua ở huyện Đông
Anh đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phát triển đơ thị.
Q trình này đã làm thay đổi diện mạo của huyện nhà, góp phần vào việc cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân địa phương, rút ngắn
khoảng cách chênh lệch giữa đô thị và nông thôn, tạo ra sức hấp dẫn thu hút
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
mạnh đối với nhiều nhà đầu tư trong nước, ngoài nước, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Mặc dù quá trình ĐTH đã làm mất đi khối lượng đáng kể đất
nông nghiệp nhưng đưa lại mục tiêu sử dụng đất đúng hướng và có hiệu quả về kinh tế, xã hội. Đất nông nghiệp chuyển đổi thành đất xây dựng các khu,
cụm công nghiệp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhà ở.v.v. nhằm phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều bộ phận dân cư,
góp phần nâng cao đời sống dân sinh. Phát triển đô thị đã khai thác tương đối triệt để một số loại đất chưa sử dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Đơ thị hố
đến đâu làm cho đất có giá trị đến đó.
Thứ hai, tiến độ thực hiện kế hoạch sử dụng các loại đất về cơ bản đều vượt mức kế hoạch đề ra.
Thứ ba, nhìn chung xu hướng phát triển của kế hoạch sử dụng đất kỳ trước theo chiều hướng thuận.
Đất nông - lâm nghiệp tăng, đất phi nông nghiệp tăng, đất chưa sử dụng
giảm dần là dấu hiệu tốt trong vấn đề khai thác sử dụng tài nguyên đất đai của huyện. Hiện trạng sử dụng đất rất khả quan. Diện tích đất đã đưa vào khai thác
sử dụng cho các mục đích khơng kể sơng, suối chiếm 78,74 diện tích tự nhiên, trong đó đáng lưu ý nhất là diện tích đất sản xuất nơng nghiệp. Nhìn từ
góc độ kinh tế thì sản xuất nơng - lâm nghiệp đang thu hút 90 lao động và tạo ra trên 60 giá trị tổng sản phẩm hàng năm của huyện, phần lớn đã được
giao cho các hộ nông dân, các tổ chức…và đang dần được sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá.
Thứ tư, việc quản lý, sử dụng đất đai trong những năm qua đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền huyện Đông Anh quan tâm, nghiêm túc thực hiện
đầy đủ các nội dung nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai theo quy định của pháp luật đất đai.
Cơ chế chính sách có nhiều thay đổi được vận dụng mềm dẻo, linh hoạt phù hợp với tình hình thực tế. Tổ chức bộ máy làm công tác GPMB đã được
chun mơn hố hơn.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Thứ năm, công tác thu hồi; đền bù GPMB và TĐC là một cơng tác kinh tế - chính trị - xã hội rất phức tạp; tuy nhiên với những kết quả đạt được cho
thấy sự cố gắng to lớn của Đảng bộ, chính quyền nhân dân huyện Đơng Anh trên mặt trận này.
Trên cơ sở rà soát các điều kiện về kinh phí bồi thường, hỗ trợ và quỹ TĐC theo quy định; bám sát các yêu cầu trọng tâm trọng điểm theo chỉ đạo
của UBND thành phố Hà Nội, UBND huyện Đông Anh và ban chỉ đạo GPMB, huyện đã xây dựng kế hoạch thực hiện công tác bồi thường GPMB
trên địa bàn đạt yêu cầu tiến độ thực hiện dự án, đặc biệt với các dự án trọng điểm.
Trong thời gian tới, trên địa bàn huyện Đông Anh sẽ xây dựng hàng loạt khu TĐC mang tính thẩm mỹ cao để phục vụ cho việc GPMB đường 5 kéo
dài và cầu Nhật Tân. Khi các dự án TĐC này hoàn thành, bộ mặt vùng đơ thị mới phía Bắc sơng Hồng sẽ có sự thay đổi đáng kể, các dự án được triển khai
ở thời cao điểm sẽ có đủ số nhà TĐC cho dân. Hơn nữa, việc mở rộng địa giới hành chính Hà Nội ra xa hơn trung tâm thành phố ở phía Bắc sơng Hồng sẽ
ngày càng gần hiện thực.
4.2. Những hạn chế nảy sinh trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở huyện Đơng Anh trong thời gian qua
Thứ nhất, hiệu quả sử dụng các loại đất còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của huyện.
Cơ cấu sử dụng các loại đất chưa hợp lí, bố trí sản xuất còn chồng chéo, manh mún. Diện tích đất nơng nghiệp của huyện còn khá nhiều trong khi đất
phi nông nghiệp phục vụ cho quá trình cơng nghiệp hố, ĐTH tăng khơng đáng kể. Việc khai thác sử dụng đòi hỏi khơng chỉ đầu tư đáng kể về vốn mà
còn chú trọng tới những biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng đất cả về kinh tế và môi trường sinh thái. Trong hiện trạng sử dụng đất cần
đặc biệt chú ý về diện tích đất lâm nghiệp có rừng. Trong những năm qua, mặc
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
dù rừng đã được chú trọng phục hồi, trồng mới nhưng tỷ lệ che phủ mới đạt 37,00. Phần lớn là rừng nghèo, rừng non, tán che phủ chưa dầy…
Thứ hai, công tác thu hồi đất chưa năm nào đạt mức kế hoạch đề ra, ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ thực hiện các dự án và cản trở sự phát triển
kinh tế - xã hội của huyện. Thứ ba, chính sách đền bù GPMB trong quan hệ chuyển mục đích sử
dụng đất còn nhiều bức xúc.
Qua các ví dụ điển hình đã phân tích cho thấy rằng, cơng tác GPMB ở hầu hết các dự án đều thực hiện rất chậm so với tiến độ đề ra gây ra những hậu
quả nghiêm trọng: ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án, khiếu nại tố cáo, chênh lệch lợi ích…Ngoài việc đền bù theo chính sách, chủ đầu tư còn
hỗ trợ cho các địa phương nhiều khoản khác ngồi “danh mục” nhưng sau nhiều năm địa phương đó vẫn không bàn giao mặt bằng xong cho chủ đầu tư
làm cho họ thiệt hại rất nhiều. Quá trình thực hiện GPMB vẫn còn tình trạng văn bản chồng văn bản, Quyết định chồng Quyết định mà cho đến nay vẫn
chưa được quan tâm giải quyết triệt để. Giá đất đền bù cho người dân còn chưa sát giá thị trường, đặc biệt là đối
với đất nông nghiệp, chưa thể hiện sự công bằng xã hội, chưa phản ánh hết các yếu tố của khái niệm giá trị quyền sử dụng đất gây thiệt thòi cho người
dân có đất bị thu hồi. Quan hệ giao dịch đất đai còn mang nặng tính chất hành chính, chủ yếu
là ép buộc thậm chí cưỡng chế, chứ khơng phải là hình thức giao dịch dựa trên sự thoả thuận.
Thứ tư, công tác TĐC, ổn định đời sống của những người bị thu hồi đất còn nhiều bất cập
Từ các thực trạng phân tích ở trên đối chiếu với các chính sách TĐC ghi ở điều 42 Luật đất đai 26112003 được cụ thể hoá ở chương V Nghị định
1972004NĐ-CP ngày 3-12-2004 có thể nêu lên các nhận xét sau:
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Công tác TĐC đã không thực hiện được mục tiêu của các chính sách đó là: đẩy nhanh tốc độ thu hồi đất phục vụ triển khai nhanh các dự án và ổn định
lại cuộc sống của dân cư sau khi bị thu hồi đất. Chủ đầu tư và Nhà nước phải lo cho người dân TĐC nhưng trên thực tế chỉ là “hỗ trợ TĐC”.
Các quan điểm và biện pháp triển khai công tác TĐC chưa thật sự được làm rõ. Cơng tác quy hoạch, kế hoạch khơng có tầm tổng thể, quy hoạch TĐC
không trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất và ngược lại quy hoạch sử dụng đất không xuất phát từ quy hoạch phát triển đô thị, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội. Nguồn vốn cho TĐC không được xác định rõ, vốn được huy động từ nhiều nguồn, phân tán, dàn trải. Có những nguồn vốn lớn có được từ các khoản thu
về đất chưa được đầu tư trở lại để phát triển quỹ đất, quỹ nhà cho TĐC. Đời sống của một bộ phận dân cư sau khi thu hồi đất chủ yếu là nơng
dân lâm vào tình trạng khó khăn do khơng tìm được nghề nghiệp phù hợp với bản thân hoặc trình độ tay nghề kém.
4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong q trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở huyện Đông Anh

4.3.1. Nguyên nhân khách quan


4.3.1.1. Hệ thống chính sách đất đai, thu hồi chuyển đổi mục đích sử dụng đất còn chưa theo kịp với yêu cầu chuyển sang cơ chế thị trường
Cơ chế chính sách là ý chí của các cơ quan quản lý Nhà nước được cụ thể hóa bằng văn bản. Nó bắt nguồn từ hiện thực và phản ánh hiện thực. Cũng
như ý thức, cơ chế chính sách mang tính ổn định tương đối trong khi thực tế lại biến đổi khơng ngừng. Vì vậy, cơ chế chính sách lạc hậu hơn thực tế và
mang tính khách quan. Mỗi cơ chế chính sách về đất đai đều có mối liên hệ mật thiết với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Dân sự, Luật
Khiếu nại tố cáo, Luật Hành chính…Vì thế, việc ra được các cơ chế, chính sách về đất đai phù hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên
quan và phù hợp với thực tế là rất khó khăn và lâu dài. Nhìn một cách trực
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
diện thì hệ thống chính sách đất đai biến động và chưa hồn thiện đã hạn chế quy mơ, tốc độ CĐMĐSDĐ.
Từ năm 1993 đến nay có tới 3 đợt ban hành mới hoặc chỉnh sửa chính sách. Các văn bản chủ yếu nhất của chính sách đất đai, thu hồi và
CĐMĐSDĐ đi theo Luật Đất đai 2003 phần lớn được ban hành vào tháng cuối cùng của năm 2004. Việc cụ thể hoá và triển khai thực thi đến đầu năm
2005 mới được tiến hành ở các địa phương. Sự bất ổn định của chính sách gây khó khăn cho các cơ quan và cán bộ thực thi chính sách ở sự thiếu nhất quán
trong hướng triển khai, xáo trộn về tổ chức trong ứng xử với người bị thu hồi đất. Sự bất ổn định còn gây nên tâm lý chờ đợi trong dân cư, bởi các chính
sách sau có nhiều lợi ích hơn các chính sách trước. Hơn nữa, nó còn tạo ra mâu thuẫn về lợi ích, tạo điều kiện cho tham ô, tham nhũng, nguyên nhân của
các vụ chống đối việc thu hồi đất. Có rất nhiều trường hợp xảy ra tình trạng một dự án có cả việc áp dụng chính sách cũ và chính sách mới như bồi thường
theo chính sách cũ và TĐC theo chính sách mới. Tuy nhiên vấn đề sẽ càng khơng đơn giản nếu dự án chia làm nhiều giai đoạn, nhiều năm đã có sự
chênh lệch quyền lợi giữa người giải toả trước và sau. Về bản chất, sự bất ổn định của chính sách đất đai là do sự thay đổi quan
niệm và sự biến động của thực tiễn tình hình phát triển kinh tế. Ở nước ta các chính sách về đất đai còn chưa xuất phát từ quan điểm kinh tế thị trường. Cho
đến nay các vấn đề về một chủ hay nhiều chủ sở hữu, đất đai là hàng hố hay khơng là hàng hố, hình thức tính chất của các quan hệ giao dịch đất đai vẫn
còn chưa có nhận thức nhất qn. Từ đó, hệ thống chính sách vẫn chưa giải quyết được một cách thoả đáng và cơng bằng quan hệ lợi ích giữa Nhà nước,
người bị thu hồi và các chủ dự án người được giao sử dụng đất đai. Một trong những khó khăn khơng nhỏ là việc xác định giá bồi thường
GPMB. Những diễn biễn phức tạp của thị trường BĐS gây lúng túng trong việc ban hành các cơ chế chính sách, đó là:
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Xu hướng mua nhà đất của những người ở ngoại tỉnh ngày càng tăng làm cho công tác dự báo để hoạch định các chính sách gặp rất nhiều khó khăn.
Nạn đầu cơ cũng là một nguyên nhân quan trọng đẩy giá BĐS trong nội thành nói chung và huyện Đơng Anh nói riêng tăng một cách nhanh chóng
khơng thể kiểm soát được. Bởi vậy, việc xác định giá đất phục vụ công tác đền bù GPMB căn cứ vào giá chuyển nhượng trên thị trường nhiều khi không
sát với tình hình thực tế. 4.3.1.2. Cơ sở pháp lý về đất đai chưa đầy đủ và thiếu hệ thống chế tài, việc
lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều bất cập
Bất kỳ nước nào, các giao dịch chính quy và hợp pháp về đất đai phải thông qua hệ thống hồ sơ có đủ cơ sở pháp lý. Hệ thống hồ sơ này phải do các
cơ quan chức năng có thẩm quyền lập, lưu giữ và cung cấp khi phát sinh các giao dịch về đất đai. Hơn nữa, thông qua việc lập HSĐC, Nhà nước nắm bắt
được nguồn tài nguyên này làm cơ sở cho kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch chuyển quyền sử dụng đất.
Nhà nước cũng như các địa phương đã có nhiều chủ trương để thúc đẩy việc lập, quản lý HSĐC, tăng cường quản lý sử dụng đất, ngăn chặn hiện
tượng giao đất, mua bán, chuyển nhượng, sử dụng trái phép đất đai. Tuy nhiên, cho đến nay HSĐC, sổ sách thống kê đất đai, quản lý hợp đồng sử
dụng còn nhiều bất cập; đo đạc, kiểm tra, sao chép…có nhiều sai sót gây nên những tranh chấp, khiếu kiện cản trở việc thu hồi đất đai cho các dự án của
huyện. 4.3.1.3. Phong tục, tập quán
Truyền thống “an cư, lạc nghiệp” của người Việt Nam đã tồn tại từ lâu đời. Với mỗi người dân Việt Nam, việc có đất có nhà là vấn đề được quan
tâm hàng đầu.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Người Việt Nam với tập quán trồng lúa nước, lao động nơng nghiệp có thói quen sống trong những ngôi nhà nhỏ trên một mảnh đất riêng tạo ra áp
lực lớn cho cơng tác GPMB. Thói quen mua bán của người dân đem lại thu nhập tương đối lớn và ổn
định cho những người có nhà mặt đường bằng việc kinh doanh bn bán. Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất để làm đường, phần lớn những hộ dân này
không muốn TĐC đi nơi ở khác.

4.3.2. Nguyên nhân chủ quan


4.3.2.1. Chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa cao, thiếu tính khả thi Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là căn cứ quan trọng phục vụ cho việc
Nhà nước tiến hành thu hồi đất. Luật Đất đai năm 2003 quy định việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Quy hoạch, kế hoạch ở đây không chỉ là quy hoạch, kế hoạch tổng thể mà phải là quy hoạch, kế hoạch chi tiết đo vẽ
trên bản đồ 12000, 1500. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tiến hành chậm,
không theo kịp tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của huyện, chất lượng chưa cao. Việc khoanh định các loại đất, định hướng sử dụng đất nhiều khi không
sát với thực tế, số liệu đo đạc khơng chính xác gây nên những khó khăn, lúng túng, bị động trước tình hình, thậm chí làm đảo lộn kế hoạch thu hồi,
CĐMĐSDĐ đai của các dự án. Ngoài ra, hệ thống quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch sử
dụng đất; quy hoạch thu hồi và CĐMĐSDĐ; quy hoạch TĐC và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực không đồng bộ với nhau, thậm chí có những quy
hoạch chưa được quan tâm xây dựng và triển khai thực hiện. Chúng khơng có tầm nhìn tổng thể xun suốt nên trong thực tế có hiện tượng lúng túng, chắp
vá, làm đi làm lại các khâu của q trình CĐMĐSDĐ.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Việc quản lý quy hoạch cũng chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Tình trạng lấn chiếm và chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật xảy ra
khá nghiêm trọng và không quản lý được. 4.3.2.2. Việc tổ chức thực hiện các chính sách còn rất nhiều bất cập và tồn tại
Mặc dù có các chính sách đã được ban hành nhưng trong q trình thực hiện còn nhiều bất cập và tồn tại như: Việc nắm quỹ đất không chắc chủ yếu
chỉ dựa vào nguồn số liệu kê khai, báo cáo mà không điều tra thực tế. Công tác quy hoạch sử dụng đất triển khai chậm, tính khả thi khơng cao, phải điều
chỉnh nhiều lần trong q trình thực hiện. Cơng tác thanh tra, kiểm tra giải quyết khơng kịp thời, tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai còn xảy ra.
Việc cải tiến theo chương trình cải cách hành chính trên các khâu, ở từng cơ quan bộ phận chưa được coi trọng. Đội ngũ cán bộ tuy đã hình thành ở cấp
huyện song cấp xã, phường còn nhiều hạn chế về chun mơn ảnh hưởng đến tiến độ công tác điều tra, khảo sát, xác nhận khâu quan trọng nhất trong công
tác bồi thường GPMB. Trong một số công việc, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng còn chưa đồng bộ, thời gian ký tờ trình ở liên ngành còn kéo dài,
việc bố trí quỹ nhà TĐC còn nhiều bất cập cần điều chỉnh quy trình. 4.3.2.3. Khối lượng thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất quá lớn; trong
khi tổ chức bộ máy còn bất cập chưa kiện tồn; đội ngũ cán bộ chun trách còn thiếu, trình độ chun mơn còn hạn chế
Những năm gần đây, khối lượng và quy mô thu hồi, CĐMĐSDĐ tăng đột biến. Số dự án rất nhiều, trải rộng trong công tác lập, duyệt quy hoạch chi
tiết, quy hoạch tăng mặt bằng chưa đáp ứng việc xây dựng các khu đô thị, khu TĐC…Các thủ tục duyệt dự án thẩm định, thiết kế kỹ thuật dự toán, đấu thầu
mất rất nhiều thời gian, cân đối kinh phí chưa chủ động…làm cho khối lượng công việc cụ thể trở lên quá tải với đội ngũ cán bộ đang phụ trách nhiệm vụ
này.
Phạm Thị Hiên Lớp: Địa chính 46
Hiện nay, khâu yếu nhất là tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác thu hồi và CĐMĐSDĐ của huyện và cấp xã. Phần lớn những cán bộ này là cán bộ
kiêm nhiệm, chế độ thù lao đãi ngộ khơng rõ ràng, trình độ chun môn chưa cao lại hay bị thay đổi do biến động cán bộ tổ chức của phòng chun mơn và
cán bộ địa chính xã, phường. 4.3.2.4. Một số nguyên nhân khác
Trong cùng nhóm đất nơng nghiệp, việc CĐMĐSDĐ đã theo chiều hướng thuận, tuy nhiên người dân vẫn chưa nắm bắt, vận dụng tiến bộ khoa học vào
sản xuất một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Do vậy, khi giảm diện tích đất nơng nghiệp để chuyển sang mục đích khác thì năng
suất chất lượng cây trồng, vật nuôi tăng không đáng kể, mức sản lượng thực tế chưa đáp ứng được mục tiêu của kế hoạch đề ra.
Một bộ phận nhỏ dân cư có trình độ nhận thức, am hiểu pháp luật kém; dễ bị lơi kéo, kích động; họ khơng hiểu hết những tác dụng mà q trình
CĐMĐSDĐ từ đất nơng nghiệp sang đất phi nông nghiệp cho các hoạt động đầu tư xây dựng mang lại. Do vậy, với các dự án đã được phê duyệt vẫn có sự
cản trở, không chịu bàn giao đất làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Hiện nay, một số dự án khu TĐC tập trung, dự án xây dựng nhà ở TĐC theo phương thức đặt hàng mua nhà triển khai trả chậm, kéo dài, quy mô nhà
TĐC chủ yếu là nhà chung cư cao tầng cùng với các thủ tục thẩm định và thi công xây dựng kéo dài, giá thành đầu tư cao cũng là nguyên nhân khách quan
ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án.

5. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT TRONG THỜI GIAN TỚI


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đất trồng cây hàng năm Đất trồng cây lâu năm

Tải bản đầy đủ ngay(109 tr)

×