1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 122 (trang)
Vai trò của đầu t phát triển trong nền kinh tế

Vai trò của đầu t phát triển trong nền kinh tế

Tải bản đầy đủ - 122trang

đầu t này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế nhng nó vai trò đặc biệt quan trọng với t cách là nguồn cung cấp vốn cho đầu t phát triển.
Đấu t thơng mại là hoạt động trong ®ã ngêi cã tiỊn bá tiỊn ra ®Ĩ mua hàng hóa
và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu t này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế nhng lại
có tác dụng thúc đẩy quá trình lu thông của cải, vật chất do đầu t phát triển tạo ra.
Nh vậy đầu t phát triển mới là hoạt động cơ bản và mục đích mà mọi nền kinh tế hớng tới. .Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các
kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thờng xuyên gắn liền với sự hoạt
động của các tài sản nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiỊm lùc míi cho nỊn kinh tÕ - x· héi.

2. Vai trò của đầu t phát triển trong nền kinh tế


2.1. Đặc điểm của đầu t phát triển
Nh ở phần trên chúng ta đã phân biệt đợc ba loại hình đầu t theo tiêu thức bản chất và phạm vi lợi ích do đầu t đem lại. Ngoài ra đầu t phát triển còn có một số
đặc điểm khác với đầu t tài chính và đầu t thơng mại đợc thể hiện ở những khía cạnh sau:
Vốn đầu t tiền, vật t, lao động cần huy động cho một công cuộc đầu t là rất lớn.
Thời gian cần thiết cho một công cuộc đầu t rất dài do đó vốn đầu t phải nắm khê đọng lâu, không tham gia vào quá trình chu chuyển kinh tế vì
vậy trong suốt thời gian này nó không đem lại lợi ích cho nền kinh tế. Thời gian vận hành các kết quả đầu t cho đến khi thu hồi đủ vốn đã bỏ ra
hoặc thanh lý tài sản do vốn đầu t tạo ra thờng là vài năm, có thể là hàng chục năm và có nhiều trờng hợp là vĩnh viễn.
Nếu các thành quả của đầu t là các công trình xây dựng thì nó sẽ đợc sử dụng ở ngay tại nơi đã tạo ra nó.
Các kết quả, hiệu quả đầu t phát triển chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố không ổn định trong tự nhiên, trong hoạt động kinh tế - xã hội nh: Điều
kiện địa lý, khí hậu, cơ chế chính sách, nhu cầu thị trờng quan hệ quốc tế...dẫn đến có độ mạo hiểm cao.
Do những đặc điểm trên mà đầu t phát triển thờng thu hút sự tham gia của toàn xã hội và ảnh hởng lớn đến sự trạng thái ổn định hay phát triển của xã
hội đó.
5
2.2 Vai trò của đầu t phát triển trong nền kinh tế Tất cả các lý thuyết kinh tÕ tõ tríc ®Õn nay, tõ cỉ ®iĨn ®Õn hiện đại đều coi đầu
t phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá cho sự tăng trởng. Vốn đầu t luôn là một biến số quan trọng trong hàm sản xuất trong mọi
mô hình kinh tế. Vai trò của đầu t phát triển đợc xem xét trên hai góc độ nền kinh tế.
2.2.1. Đầu t trên giác độ toàn Bộ nền kinh tế.
Đầu t phát triển vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế.
Thứ nhất: Đầu t tác động đến tổng cầu.
Trong tổng cầu của nền kinh tế quốc dân, đầu t là một u tè chiÕm tû träng lín, theo sè liƯu cđa ngân hàng thế giới, đầu t thờng chiếm khoảng từ 24 -
28 trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nớc trên thế giới và tác động của đầu t đến tổng cầu là ngắn hạn.
Điều này có nghĩa là trong thời gian thực hiện đầu t và khi tổng cung cha tăng các kết quả đầu t cha phát huy tác dụng sự tăng lên của tổng cầu làm cho sản
lợng cân bằng tăng theo và giá cả các đầu vào tăng. Điều này đợc thể hiện qua đồ thị số 01.
Công thức tổng cầu nền kinh tế më.
AD - C + I + G + E
X
- I
M
Trong đó AD: Tổng cầu;
C: Chi tiêu của hộ gia đình: I: Chi tiªu cđa doanh nghiƯp ;
G: Chi tiªu cđa chính phủ E
X
- I
M
: là xuất khẩu ròng. Nh vậy, đầu t của các doanh nghiệp và một phần chi tiêu của chính phủ đầu t
của chính phủ là một Bộ phận trong tổng cầu nền kinh tế. Tuy nhiên sự tác động của đầu t đến tổng cầu nền kinh tế là trong ngắn hạn, trong thời gian thực
hiện đầu t trong khi tổng cung cha thay đổi các kết quả đầu t cha phát huy các kết quả.
Thứ hai: Đầu t tác động đến tổng cung.
Khi các kết quả của đầu t phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên kéo theo sản lợng tiềm
năng tăng lên từ Q
E
lên Q
E
, giá sản phẩm giảm xuống từ P
E
- P
E
, sản lợng tăng,
6
giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lợt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích
luỹ phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho ngời lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Điều này đợc thể hiện qua hình số 01.
Hình 1
Chú thích :
Khi cha đầu t đờng tổng cầu là AD và điểm cân bằng tại E. Sau đầu t đờng tổng cầu dịch chuyển từ AD - AD và tổng cung AS ch
a kịp
tăng. Do vậy, giá tăng từ P
E
lên P
E
và điểm cân bằng mới là E

Đầu t có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế. Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cầu và đối
với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự
ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia. Đầu t luôn tác động hai mặt tích cực và tiêu cực.
Thứ nhất: Tăng đầu t sẽ có tác động.
Tích cực: Tăng đầu t sẽ tạo việc làm, giảm thất nghiệp, nâng cao đời
sống, giảm tệ nạn xã hội.
Tiêu cực: Tăng đầu t sẽ phải chi một lợng tiền lớn, nếu tăng qúa mức sẽ
dẫn đến tình trạng tiền đang lu hành bị mất giá lạm phát dẫn đến tăng giá cả những sản phẩm có liên quan làm cho sản xuất bị đình trệ.
7 E
E E
AD AD
QE QE PE
PE PE
P AS
AS
QE Q
Thứ hai: Giảm đầu t sẽ có tác động.
Tích cực: Giảm đầu t thì lợng tiền chi ra ít nên sẽ giảm lạm phát, giá cả
đời sống ổn định, tệ nạn xã hội giảm đi.
Tiêu cực: Giảm đầu t sẽ giảm việc làm, tăng thất nghiệp ảnh hởng đến
đời sống xã hội. Nh vậy trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạt động chính sách cần
thấy hết tác động hai mặt này để đa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì đợc sự ổn định của toàn Bộ nền
kinh tế.
Đầu t tác động đến tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, nếu một quốc gia muốn
giữ tốc độ tăng trởng GDP ở mức trung bình 8 - 10 thì tỷ lệ đầu t phải đạt từ 15 - 20 tuỳ thuộc và hệ số ICOR của quốc giá đó. Hệ số ICOR phản ánh
suất đầu t tính cho một đơn vị GDP tăng thêm - ICOR là tên viết tắt của từ tiếng anh “tû suÊt vèn GDP” Icremental Capital Output Ration - Hệ số ICOR đợc tính
theo công thức sau:
ICOR = Từ đó suy ra: mức tăng GDP =
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu t. Hệ số ICOR của mỗi nớc phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ
phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nớc.
Đầu t tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấy để có thể tăng trởng nhanh với
tốc độ mong muốn từ 9 - 10 là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở hai khu vực công nghiệp và dịch vụ vì hai khi vực này sử dụng các tiềm
năng về trí tuệ con ngời sẽ không khó khăn lắm để đạt tốc độ tăng trởng 15 - 20 còn khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản do giới hạn về đất đai, khí
hậu...Nên để đạt đợc tốc độ tăng trởng từ 5-6 là rất khó khăn Tuy nhiên, để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung đầu t phát
triển cho các ngành có tốc độ tăng trởng cao thì rõ ràng là phải có vốn đầu t, không có vốn đầu t thì không thể nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không thể
nói đến sự phát triển của ngành này hay ngành khác. Nh vậy, Chính sách đầu t quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các
quốc gia nhằm đạt đựơc tốc độ tăng trởng nhanh của toàn Bộ nên kinh tế. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát
triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khởi tình
8
trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị... của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn làm bàn
đạp thúc đẩy những vùng khác phát triển theo.
Đầu t tác động đến khả năng công nghệ và khoa học của đất nớc Chúng ta
đều biết rằng công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn đầu t là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của
đất nớc. Công nghệ có thể đạt đợc thông qua hai con đờng chính là:

Thứ nhất: Tự bỏ chi phí để tự nghiên cứu, phát triển ra công nghệ bằng khả năng của chính mình sau đó áp dụng vào các hoạt động kinh
tế để thu hồi vốn đã bỏ ra cho đầu t nghiên cứu công nghệ và có lãi. Nhng để nghiên cứu ra công nghệ thì cần phải bỏ ra rất nhiều vốn đầu
t cho các lao động chất xám, cho các máy móc hiện đại...với thời gian đầu t kéo dài và độ mạo hiểm cao. Nên việc nghiên cứu, phát hiện
công nghệ mới thờng do các nớc phát triển, các công ty đa quốc gia với nguồn vốn đầu t dồi dào, với những Bộ phận chuyên trách trong
nghiên cứu và phát triển thực hiện.
Con đờng thứ hai là đi mua công nghệ trên thị trờng thế giới, việc
mua công nghệ sẵn có trên thị trợng thế giới sẽ nhanh chóng giúp cho có đợc công nghệ nh mong muốn, nhng công nghệ này thờng không
hiện đại và phải cạnh tranh và cũng không đắt lắm. Do đó đây là hình thức thích hợp với các nớc đi sau thờng là ở những nớc lạc hậu những
nớc đang phát triển. Tuy nhiên phơng pháp này cũng có những rủi ro nhất định, đó là khi mua phải công nghệ lạc hậu nhng lại với giá cao,
những công nghệ gây ô nhiễm mỗi trờng.
Thông qua con đờng đầu t mỗi nớc sẽ có cách riêng để tăng cờng khả năng công nghệ của mình một cách thích hợp. Đối với Việt Nam hiện nay theo đánh giá
của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của Việt Nam lạc hậu nhiều thế hƯ so víi thÕ giíi vµ khu vùc. Theo UNIDO, nếu chia quá trình phát triển
công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990 ở vào giai đoạn 1 và 2 Việt Nam đang là một trong 90 nớc kém nhất về công nghệ, với trình độ công
nghệ lạc hậu này quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc một chiến lợc đầu t phát triển công
nghệ nhanh và vững chắc.
2.2.2 Trên giác độ vi mô của cơ sở sản xuất kinh doanh. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, đầu t quyết định sự ra đời, tồn
tại và phát triển của mỗi cơ sở, tức là một cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ muốn ra đời cần phải có nhà xởng, đội ngũ lao động, cấu trúc hạ tầng, mua sắm
và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản
9
và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất - kỹ thuật vừa tạo ra các hoạt động này chính là hoạt động
đầu t đối với các cơ sở này hao mòn, h hởng. Để duy trì đợc sự hoạt động bình thờng cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất - kỹ
thuật đã h hởng, hao mòn này hoặc đổi mới ®Ĩ thÝch øng víi ®iỊu kiƯn ho¹t ®éng míi cđa sự phát triển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền
sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế các trang thiết bị cũ đã lỗi thời. Tuy nhiên muốn có cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, muốn có
các chi phí sửa chữa máy móc, mua sắm trang thiết bị...thì rõ ràng là phải có vốn đầu t
2.3. Kinh nghiệm của một số nớc đối với vấn đề đầu t ph¸t triĨn kinh tÕ - x· héi.
Lý thut còng nh thùc tiƠn ph¸t triĨn kinh tÕ c¸c níc đều thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa sự tăng trởng đầu t và tăng trởng GDP. Quan điểm cho rằng
hình thành vốn là chìa khoá đối với phát triển đã đợc thể hiện trong chiến lợc và kế hoạch phát triển của nhiều nớc. Điều rõ ràng là một đất nớc muốn giữ đợc
tốc độ tăng trởng ổn định ở mức trung bình thì nớc đó phải giữ đợc mức đầu t lớn. Tỷ lệ đầu t ít khi thấp hơn 15 và trong một số trờng hợp phải lớn 25
GDP. J.M. Keynes trong lý thuyết đầu t và mô hình số nhân đã chứng minh rằng,
tăng đầu t sẽ bù đắp những thiếu hụt của cầu tiêu dùng từ đó tăng số lợng việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả cận biên của t bản và kích thích sản xuất
phát triển .ở đây có sự tác động dây chuyền: tăng đầu t - tăng thu nhập - tăng đầu t mới - tăng thu nhập mới.
Bổ sung vào lý thuyết số nhân của J.M. Keynes, các nhà kinh tế Mỹ đa ra lý thuyết gia tốc lý thuyết này một mặt nghiên cứu các nhân tố quyết định đầu t,
mặt khác chứng minh mối quan hệ giữa gia tăng sản lợng sẽ làm cho đầu t tăng lên nh thế nào. Và sự tăng nhanh tốc độ đầu t so với sự thay đổi về sản lợng nói
nên ý nghĩa của nguyên tắc
gia tốc. Theo lý thuyết gia tốc để vốn đầu t tiếp tục tăng lên thì sản lợng bán ra phải tăng liên tục. Nhng logic của vấn đề là ở
chỗ số lợng sản phẩm bán ra ngày hôm nay là kết quả đầu t của thời kỳ trớc. Thực tế của các nớc đã chứng minh điều này, cách đây vào ba thập kỷ, Châu á
hầu nh không đợc biết đến với t cách là vùng kinh tế, nhng sự năng động rồi sau đó là sự thành công ở các mức độ khác nhau về tăng trởng kinh tế của khu vực
Châu á - Thái Bình Dơng đã làm thay đổi hẳn cách nhìn truyền thống. Vì khi nền kinh tế thế giới dao động ở mức tăng trởng GDP 3 - 5 mỗi năm thì các
nớc đang phát triển nh Hàn quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapo từ điểm xuất phát thấp, tài nguyên nghèo nàn, thị trờng nội địa nhở bé đã trở thành những
quốc gia công nghiệp mới. Đặc trng chủ yếu của các quốc gia này là quá trình công nghiệp hoá diễn ra nhanh chóng làm thay đổi hẳn Bộ mặt kinh tế xã hội
của đất nớc với GDP bình quân đầu ngời năm 1997 của Hồng Kông là 24.085 USD, Singapo là 24.610 USD, §µi Loan lµ 15.370 USD, Hµn Quèc 12.390
10
USD, Malaxia lµ 9.835 USD. Đặc biệt các nớc Hồng Kông , Singapo, Đài Loan trớc đây đều là những nớc đi vay vốn thì nay trở thành những nớc đầu t và cho
vay vốn. Sở dĩ có đợc nh vậy là vì các nớc này đã biết khai thác một cách tối u lợi thế so sánh, chọn đợc nhiều giải pháp tốt hơn là mắc sai lầm.
Riêng trong lĩnh vực đầu t họ đã thực hiện đợc tỷ lệ đầu t cao và liên tục trong nhiều năm, tỷ lệ tích luỹ trong GDP là rất cao bình quân của Hàn Quốc là 35,
Hồng Kông là 30, Singapo là 46, Đài Loan là 27, Malaxia là 31 Thái Lan là 37.
Chẳng hạn đối với cơ sở hạ tầng ngời ta tính đợc rằng nếu nâng 1 tổng quỹ đầu t cơ sở hạ tầng thì sẽ tăng 1 GDP theo báo ngân hàng thế giới hàng năm
các nớc đang phát triển đầu t khoảng 200 tỷ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng tức là tơng đơng với 50 đầu t cđa Nhµ níc vµ 4 cđa GDP .ë níc ta hàng năm
đều tập trung ngân sách cho đầu t cơ sở hạ tầng. Do đó, gần đây nhìn chung cơ sở hạ tầng đã đợc cải thiện, tuy nhiên vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu của sản
xuất, đời sống. Điều này là hoàn toàn phù hợp với tỷ lệ 2 GDP đầu t cho cơ sở hạ tầng ë níc ta hiƯn nay.
Trong thêi gian tõ nay ®Õn năm 2000 và những năm đầu thế kỷ XXI Đảng và Nhà nớc đã có quan điểm cho rằng Đầu t trong thời kỳ phát triển mới là đẩy
mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc Cụ thể hoá quan điểm trên. Đảng và Nhà nớc đã đề ra ba mục tiêu cơ bản của đầu t phát triển là:
Đầu t nhằm đảm bảo nhịp độ tăng trởng kinh tế.
Đầu t nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiếp hoá - hiện đại hoá.
Tăng tỷ lệ đầu t trong GDP đến năm 2000 tỷ lệ đầu tGDP xấp xỉ 35.
Kết hợp giữa nhiệm vụ, mục tiêu đầu t phát triển trong thời gian tới với mối quan hệ giữa đầu t phát triển kinh tế và tăng trởng kinh tế ở một số nớc ta thấy
việc thực hiện các công cuộc đầu t phát triển kinh tế - xã hội là rất cần thiết và việc chúng ta phải luôn luôn tìm mọi cách, vận dụng các giải pháp khác nhau để
nâng cao hiệu quả đầu t phát triển kinh tế - xã hội lại càng cần thiết hơn và mang tính thực tiễn cao.

3. Vốn đầu t và các nguồn hình thành vốn đầu t


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vai trò của đầu t phát triển trong nền kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(122 tr)

×