1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 122 (trang)
Khái niệm cơ bản về dự án đầu t Dự án đầu t có thể xem xét từ nhiều góc độ.

Khái niệm cơ bản về dự án đầu t Dự án đầu t có thể xem xét từ nhiều góc độ.

Tải bản đầy đủ - 122trang

Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực về xã hội do đầu t về nhà ở mang lại thì cũng phảI tính đến những tác động tiêu cực của quá trình này, nh khi giảI phóng
mặt bằng giao đất cho các dự án thì sẽ làm đảo lộn đời sống của một Bộ phận dân c, công tác quản lý nhà ở và mua bán nhà ở nếu không đảm bảo công bằng,
trung thực cũng sẽ tác động xấu đến nền kinh tế và quyền lợi của nhân dân Những mặt tiêu cực trên cần phảI đợc quan tâm giảI quyết thoả đáng, có nh vậy
mới tạo đIều kiện thuận lợi và nâng cao hiệu quả đầu t xây dựng nhà ở.
II. dự án đầu t và một sè vÊn ®Ị vỊ dù ¸n đầu t phát triển nhà ở

1. Khái niệm cơ bản về dự án đầu t Dự án đầu t có thể xem xét từ nhiều góc độ.


Về mặt hình thức, dự án đầu t là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đợc những
kết quả và thực hiện đợc những mục tiêu nhất định trong tơng lai.
Trên góc độ quản lý, dự án đầu t là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật
t, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài.
Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu t là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu t sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm
tiền đề cho các quyết định đầu t và tài trợ. Dự án đầu t là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhở nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân nói
chung.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu t là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau đợc kế hoạch hoá nhằm đạt đợc các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các
kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Nh vậy một dự án đầu t bao gồm 4 thành phần chính:
Mục tiêu của dự án đợc thể hiện ở 2 mức: 1Mục tiêu phát triển là
những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại. 2 Mục tiêu trớc mắt là các mục đích cụ thể cần phải đạt đợc của dự án.
Các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có thể định lợng, đợc tạo ra
từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện đợc các mục tiêu của dự án.
19
Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động đợc thực hiện
trong dự án để tạo ra những kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các Bộ
phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.
Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con ngời cần thiết để tiến hành
các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu t cần cho dự án.
Trong 4 thành phần trên thì kết quả đợc coi là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án. Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thờng xuyên theo dõi đánh giá
các kết quả đạt đợc. Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đối với việc tạo ra các kết quả đợc coi là hoạt động chủ yếu cần phải đợc đặc biệt quan tâm.
2. Sự cần thiết phải đầu t theo dự án Hoạt động đầu t gọi tắt là đầu t là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài
chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật
chất của kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, của địa phơng, của ngành, của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, các cơ quan quản lý Nhà nớc và xã hội nói
riêng.
Hoạt động đầu t trực tiếp tái sản xuất các cơ sở vật chất kỹ thuật trên đây gọi là đầu t phát triển. Đó là một quá trình có thời gian kéo dài trong nhiều năm với số
lợng các nguồn lực đợc huy động cho từng công cuộc đầu t rất lớn và đặc biệt là nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu t.
Khi quá trình thực hiện đầu t kết thúc có nghĩa là đã tạo ra những thành quả nhất định. Chiếm đa số trong các thành quả đầu t là các công trình xây dựng
hoặc cấu trúc hạ tầng nh nhà máy, hầm mở, các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, đờng xá, cầu cống, bến cảng .Các thành quả này đều có đặc điểm là sẽ tiến
hành hoạt động của mình ngay tại nơi chúng đợc tạo ra. Do đó, sự phát huy tác
dụng của chúng chịu ảnh hởng nhiều của các điều kiện kinh tế xã hội tại đây.
Nh vậy có thể thấy trong suốt quá trình tồn tại hay đời của một dự án luôn gặp rất nhiều điều bất trắc, khó dự đoán đợc và có ảnh hởng đến hiệu quả của dự án.
Ngời ta gọi đó là những rủi ro tức là khả năng dự án không đợc thực hiện đúng nh mục tiêu dự kiến về thời hạn hoàn thành, về chi phí thực hiện hay về các tiêu
chuẩn kỹ thuật và chất lợng, mà sự sai lệch này vợt quá mức chấp nhận đợc. Rủi ro có rất nhiều dạng và phức tạp bao gồm cả chủ quan và khách quan, tồn tại
trong cả ba giai đoạn của quá trình đầu t: chuẩn bị, thực hiện, vận hành đầu t.
20
Có thể hiểu rủi ro là tổng hợp những tác động ngẫu nhiên lên sự vật, hiện tợng làm thay đổi kết quả của sự vật, hiện tợng theo chiều hớng bất lợi. Rủi ro hình
thành do tình trạng thiếu thông tin, hoặc thiếu hiểu biết về các vấn đề liên quan một cách chính xác nh điều kiện kinh doanh, sự phát triển kỹ thuật, khả năng
cung ứng vốn đầu t .Do tính chất ngẫu nhiên mà trên thực tế chúng ta không
thể loại bỏ hẳn rủi ro mà chỉ bằng nghiên cứu cụ thể, khoa học, phân tích, nhận
biết và đánh giá khả năng rủi ro có thể xảy ra để từ đó đề ra các biện pháp hạn chế mức độ thiệt hại, hoặc mạo hiểm chÊp nhËn rđi ro. Mäi sù nghiªn cøu, xem
xÐt, tÝnh toán và chuẩn bị này đợc thể hiện trong dự án đầu t mà thực chất là lập dự án đầu t. Trong dự án đầu t các khía cạnh kinh tế kỹ thuật, điều kiện tự
nhiên, môi trờng xã hội, pháp lý có liên quan đến quá trình thực hiện, đến sự phát huy tác dụng và hiệu quả đạt đợc của công cuộc đầu t đều đợc xem xét và
tính toán.
Tóm lại để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu t phát triển đợc tiến hành thuận lợi, đạt mục tiêu mong muốn, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao thì tất yếu phải
chuẩn bị trớc một cách tốt nhất. Nói cách khác lập dự án với chất lợng cao là kim chỉ nam, là cơ sở vững chắc, là tiền đề cho việc thực hiện công cuộc đầu t
đạt hiệu quả kinh tÕ – x· héi mong mn.
3- Mét sè vÊn ®Ị về đầu t phát triển nhà ở.
3.1. Nhà ở và đầu t phát triển nhà ở đô thị.
3.1.1. Khái niệm và đặc điểm của nhà ở Nhà là nơi che ma, che nắng, chống lại ảnh hởng thời tiết khắc nghiệt của thiên
nhiên đối với con ngời. Tại đây con ngời đợc sinh ra, nuôi dỡng, tồn tại và trởng thành. Đó là một trong những nhu cầu cơ bản đồng thời cũng là quyền của mỗi
con ngời.
Tuy cũng là một sản phẩm của quá trình sản xuất nhng nhà ở đợc coi là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt do có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: nhà ở là tài sản cố định có tuổi thọ lâu tuỳ thuộc vào kết
cấu và vật liệu xây lên nó. Thông thờng thời gian tồn tại của nó từ 50 đến 60 năm và cũng có trờng hợp hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa.
Thứ hai: nó có tính cố định về hình dáng kiến trúc và kết cấu cũng
nh trang thiết bị nên khó thay đổi. Muốn cải tạo, nâng cấp thay đổi kiến trúc cũng khó khăn và tốn kém.
21
Thứ ba: nhu cầu về nhà ở rất phong phú tuỳ thuộc vào sở thích cũng
nh khả năng của từng đối tợng. Hơn thế nhu cầu này còn thay đổi theo sự phát triển của nền kinh tế xã hội.

Thứ t: đối với các khu đô thị thì nhà ở là một Bộ phận quan trọng và chủ yếu nằm trong cơ sở hạ tầng đô thị mà cụ thể là cơ sở hạ tầng xã
hội. Do vậy, mặc dù là sản phẩm phục vụ cho cá nhân nhng nhà ở lại có tác động mạnh mẽ đến Bộ mặt đô thị và đồng thời cũng chịu tác
động trở lại của đô thị nh: giao thông, hệ thống cấp thoát nớc, điện, thông tin liên lạc ảnh h
ởng đến cuộc sống và điều kiện sinh hoạt của
những ngời trong ngôi nhà. 3.1.2.Đầu t
phát triển nhà ở đô thị. Trong xã hội có hai cách để giải quyết nhu cầu về nhà ở đó là ngời có nhu cầu
tự xây dựng và lập những tổ chức hay đơn vị chuyên môn sản xuất loại hàng hoá này và cung ứng cho thị trờng.
Cách thứ nhất, quá trình xây dựng gắn liền với việc một diện tích đất nhất định bị mất đi vì lợi ích của một hay một nhóm cá nhân. Điều này không nên và
không thể tồn tại ở những khu đô thị vì tại đây mật độ dân số rất đông và tăng lên không ngừng trong khi quỹ đất lại có hạn. Hình thức này chỉ phù hợp với
vùng nông thôn nơi không bị sức ép về dân số cũng nh diện tích đất.
Cách thứ hai, nhà ở thực sự trở thành một thứ hàng hoá đợc tạo ra nhờ quá
trình đầu t và đây cũng chính là hoạt động đầu t phát triển vì nó tạo ra tài sản mới cho xã hội, hơn nữa đó còn là một tài sản đặc biệt quan trọng. Thông qua
đầu t phát triển nhà ở tại đô thị mà đất đai đợc sử dụng có hiệu quả, cung cấp chỗ ở cho đông đảo dân c một cách bình đẳng, giúp cho họ ổn định chỗ ở để có
thể yên tâm lao động, đóng góp vào sự tăng trởng và phát triển chung của xã hội.
Một số đặc điểm của hoạt động đầu t phát triển nhà ở: Đối tợng tham gia tiến hành đầu t: Nhà nớc, các doanh nghiệp trong và
ngoài ngành xây dựng, các đơn vị kinh tế và các tổ chức xã hội đầu t
với mục đích thu đợc lợi ích tài chính hoặc kinh tế xã hội.
Nguồn vốn đầu t: vì nhà ở vừa là quyền của mỗi cá nhân đồng thời cũng là trách nhiệm của toàn xã hội nên nguồn vốn đầu t đợc huy động từ mọi
nguồn trong xã hội nh ngân sách Nhà nớc, vốn tự có của doanh nghiƯp kinh doanh, cđa c¸c tỉ chøc tÝn dơng, của chính những ngời có nhu cầu và những
nguồn khác
Loại hình đầu t: do nhu cầu và khả năng của mọi ngời là khác nhau nên đầu t xây dựng nhà ở cũng rất phong phú: cho ngời cã thu nhËp thÊp hay thu
22
nhËp cao, sinh viªn, gia đình quy mô nhở hay lớn, theo hình thức bán ®øt hay cho thuª .
…  Sư dơng mét ngn lực lớn và liên quan đến nhiều ban, ngành khác nhau.
Nh vậy đầu t phát triển nhà ở là một hoạt động không thể thiếu đối với mỗi đô thị nói riêng và với mỗi nền kinh tế thị trờng nói chung. Nó vữa ảnh hởng vừa
phản ánh những đặc ®iĨm vỊ kinh tÕ - x· héi cđa mét ®é thị trong những giai đoạn nhất định.
3.2. Các nhân tố cơ bản tác động đến đầu t phát triển nhà ở nói chung và đối với Hà nội nói riêng.
3.2.1. Các nhân tố cơ bản tác động đến đầu t phát triển nhà ở.
Cũng nh các hoạt động đầu t phát triển khác, đầu t phát triển nhà ở cũng chịu sự tác động của các nhân tố của môi trờng vi mô và vĩ mô, chủ quan và khách
quan, các yếu tố kinh tế xã hội và của môi trờng đầu t Sự thay đổi của các
nhân tố này lúc tác động tiêu cực nhng cũng có lúc tác động tích cực đến hoạt động đầu t. Có thể kể đến những nhân tố cơ bản sau:
Lãi suất
Đây đợc coi là một yếu tố nội sinh tác động trực tiếp tới sự gia tăng hay suy giảm cầu đầu t, đặc biệt là lĩnh vực đầu t xây dựng vì sử dụng một lợng vốn lớn.
Khi lãi suất giảm tức là chi phí sử dụng vốn giảm và sẽ khuyến khích các nhà đầu t vay tiền từ ngân hàng để tiến hành hoạt động đầu t tạo ra nhiều sản phẩm
cho xã hội và ngợc lại. Với khả năng ảnh hởng mạnh mẽ đến cầu đầu t, hiện nay lãi suất là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng của Nhà nớc. Thông qua việc
kiểm soát có giới hạn lãi suất của thị trờng Nhà nớc có thể tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế. Hơn nữa Nhà nớc còn sử dụng các mức lãi suất u đãi khác nhau
nh một biện pháp kích thích đối với những lĩnh vực cụ thể phụ thuộc vào chính sách u tiên phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Đối với nhà ở trong thời kỳ bao
cấp thì sẽ do Ngân sách đài thọ hoàn toàn nhng chuyển sang nền kinh tế thị tr- êng ®Ĩ khun khÝch sù tham gia cđa mäi thành phần kinh tế Nhà nớc có thể áp
dụng lãi suât u đãi cho các dự án đầu t vào lĩnh vực này để nhanh chóng tạo ra một quỹ nhà lớn phục vụ nhu cầu của ngời dân.
Tỷ suất lợi nhuận bình quân
Đây là một nhân tố khách quan vừa phản ánh trong mỗi thời kỳ thì đầu t vào ngành nào là có lợi, mặt khác nó cũng điều tiết đầu t từ ngành này sang ngành
khác. Khi tỷ suất bình quân của một ngành cao hơn ngành khác cũng có nghĩa đầu t vào ngành đó có khả năng thu đợc lợi nhuận cao hơn và kích thích các nhà
đầu t bỏ vốn vào đây. Trong trờng hợp đầu t bằng vốn vay thì tỷ suất lợi nhuận bình quân là giới hạn trên của lãi suất vay vốn. Nhà ở đang là lĩnh vực đợc Nhà
nớc khuyến khích đầu t và tạo nhiều điều kiện thuận lợi thông qua chủ trơng
23
xã hội hoá vấn đề nhà ở, một mặt thu hút sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội, mặt khác giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc. Những chính
sách nh cho chậm nộp tiền thuê đất, hay thậm chí miễn tiền thuê đất khi xây dựng nhà ở cao tầng, áp dụng mức thuế u đãi, hỗ trợ một số hạng mục công
trình hạ tầng xã hội và kỹ thuật của Nhà n
ớc thời gian qua cộng với sự
buông lởng quản lý trong lĩnh vực đất đai và xây dựng đã làm tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận của hoạt động đầu t xây dựng nhà, đặc biệt là ở những Thành phố
lớn trong đó có Hà nội.
Chu kỳ kinh doanh
Là dao động của nền kinh tế theo thời gian, trong đó trải qua hai giai đoạn đặc trng là đỉnh và đáy. nếu nh đỉnh là giai đoạn cực thịnh của nền kinh tế thì ngợc
lại đáy là thời kỳ suy thoái, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều đình trệ. Nh chúng ta đã biết một đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị trờng là các hoạt
động kinh tế đều có mối liên hệ nhất định với nhau, đến toàn Bộ nền kinh tế và ngợc lại. Nhà ở mặc dù là nhu cầu thiết yếu nhng để thoả mãn cũng đòi hởi một
lợng tài chính không nhở, do vậy kinh doanh trong lĩnh vực này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi nền kinh tế đang trên đà phát triển, thu nhập của ngời lao động đợc
nâng lên và có khả năng chi trả cho những nhu cầu cao nh nhà ở.
Ngoài ra còn nhiều nhân tố khác tác động đến đầu t nói chung và đầu t nhà ở nói riêng nh mức độ rủi ro, tính chất của thị trờng cạnh tranh hay độc quyền,
chính sách của Nhà nớc Mọi nhân tố cần phải đ
ợc xem xét, đánh giá trong môi liên hệ phong phú đa dạng của môi trờng đầu t để nhà đầu t có thể đa ra
những chiến lợc và giải pháp thích hợp trong những giai đoạn cụ thể.
3.2.1. Đặc điểm của Hà nội và những yếu tố ảnh h ởng đến đầu t
phát triển nhà ở.
Bên cạnh việc chịu ảnh hởng của những nhân tố trên, đầu t phát triển nhà ở tại Hà nội còn chịu sự tác động của các yếu tố cụ thể khác xuất phát từ đặc điểm
của thủ đô, một trung tâm kinh tế chính trị lớn của cả nớc.
Thứ nhất, với vị trí là một Thủ đô, mật độ dân số của Hà nội lớn và không ngừng tăng lên chủ yếu do tăng cơ học dẫn đến sức ép lớn về nhu cầu nhà ở.
Hơn nữa nhu cầu lại rất phong phú nh cho đối tợng chính sách, ngời có thu nhập cao, trung bình và thấp, cho sinh viên, cho ngời lao động ngoại tỉnh c trú tạm
thời hay định c dài hạn .Tuy nhiên trong số này nhà ở cho ng
ời thu nhập thấp
và trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60 đến 70, đây là những đối tợng ít hoặc không có khả năng sở hữu đất riêng để tự lo chỗ ở. Đây chính là thuận lợi
cho các đơn vị kinh doanh nhà để xây dựng những chung c cao tÇng víi chi phÝ thÊp võa tiÕt kiệm diện tích đất, vừa tranh thủ đợc chính sách khuyến khích của
Thành phố và đặc biệt có thể nói là không phải lo đầu ra.
24
Thứ hai, đầu vào cho hoạt động đầu t xây dựng nhà ở Hà nội cũng rất thuận lợi. Đó là nguồn vốn dồi dào đang ứ đọng trong các Ngân hàng thơng mại, lợng tiền
tiết kiệm trong dân chúng, thị trờng nguyên vật liệu đa dạng về chủng loại và giá cả, máy móc thiết bị sử dụng trong ngành xây dựng thuộc loại hiện đại của
Việt nam, đội ngũ cán Bộ quản lý và công nhân có trình độ cao đến từ khắp các địa phơng trong cả nớc. Tất cả các yếu tố đó làm cho Hà nội có khả năng đảm
nhiệm những công trình nhà ở với quy mô lớn phù hợp với những khu đô thị văn minh hiện đại.
Thứ ba, đầu t phát triển nhà ở Hà nội còn nhận đợc sự hớng dẫn, hỗ trợ thiết thực của UBND Thành phố và Trung ơng thông qua các chủ trơng chính sách
nh chơng trình số 12 về phát triển nhà ở Hà nội đến 2000 và 2010, pháp lệnh Thủ đô vừa đợc công bố ngày 1112001, Quyết định của UBND Thành phố về
ban hành Quy định thực hiện u đãi đầu t xây dựng nhà ở để bán và cho thuê trên địa bàn Thành phố Hà nội năm 2002 .những chính sách, cơ chế này đang
ngày càng tạo ra một môi trờng pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu t phát triển
nhà ở vốn nhạy cảm và mang tính xã hội cao, liên quan đến quyền lợi và nghiã vụ của nhiều đối tợng trong xã hội.
Thứ t, địa bàn Thủ đô còn là nơi tập trung nhiều đơn vị xây dựng bao gồm các công ty và tổng c«ng ty lín nh Tỉng c«ng ty xuÊt nhËp khÈu xây dựng
VINACONEX, Công ty đầu t phát triển hạ tầng đô thị, Công ty tu tạo và phát triển nhà, Tổng công ty xây dựng Sông Đà, Tổng công ty đầu t và phát triển nhà
Hà nội Đây là những đơn vị mạnh, có truyền thống trong ngành xây dựng của
Việt nam, có đóng góp lớn lao đối với sự nghiệp xây dựng đất nớc trớc kia cũng
nh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Với tiềm lực sẵn có cộng với kinh nghiệm lâu năm chắc chắn đây sẽ là những đơn vị xứng
đáng đảm trách vai chủ đấu t trong sự nghiệp phát triển nhà ở của Thủ ®« thêi gian tíi.
iii. kinh nhgiƯm cña mét sè níc trong lÜnh vực đầu t phát triển nhà ở
1.Thành công của Singapore trong việc giải quyết chỗ ở cho dân c đô thị.
Singapore là nớc phải đối mặt với sự thiếu đất nghiêm trọng với tổng diện tích chỉ vào khoảng 640 km2 trong khi dân số gần 4 triệu ngời năm 2002. Điều
này làm cho mật độ dân số của Singapore thuộc diện cao nhất Châu á chỉ sau Hồng Kông, vào khoảng 5350 ngờikm2. Hơn nữa gần một nửa quỹ đất là đất
đã xây dựng và một tỷ lệ đáng kể đợc quy hoạch làm khu vực thu nớc, rừng và căn cứ quân sự diện tích này không thể đa vào sử dụng vì mục đích khác.
Trong điều kiện nh vậy để giải quyết vấn đề nhà ở cho dân c đô thị chiếm 80 dân số Singapore đã sử dụng hàng loạt các chính sách quản lý đô thị thực sự có
25
hiệu quả và đợc đánh giá là thành công trên các mặt: cung cấp nhà ở giá rẻ, phù hợp vói đại Bộ phận dân chúng.
Những kinh nghiệm của Singapore sau đây đã đợc nhiều nớc, đặc biệt là các n- ớc đang phát triển tham khảo và áp dụng:
Xây dựng nhà kết hợp giữa cơ chế thị trờng tự do và đặc điểm của cơ chế
XHCN
Ngay từ năm 1960, chính phủ đã chủ trơng thành lập Bộ Phát triển và Nhà ở gọi tắt là HDB, cơ quan này đợc hỗ trợt ài chính từ các quỹ ngân sách và
không phải cạnh tranh với các nhu cầu tài chính của các ngành khác nhng về cơ bản lại là một nhà phát triển t nhân. HDB chịu trách nhiệm cung cấp hầu hết
nhà ở do vậy đã tránh đợc tình trạng chi phối của thị trờng tự do. Tuy nhiên thị trờng không bị thủ tiêu hoàn toàn mà sự tồn tại của nó giúp cho số tiền lãi của
các nhà đầu t tài chính và tạo ra các chu trình đấu t mới. Phạm vi hoạt động cùa HDB rất rộng không chỉ có toàn quyền trong chơng trình xây dựng nhà ở trừ
việc định giá là do Bộ Phát triển quốc gia tiến hành mà còn bao gồm quản lý các khu nhà mình xây dựng và cung cấp các công trình công nghiệp và thơng
mại, các công trình phục vụ nghỉ ngơi, giải trí, tín ngỡng và các công trình xã hội khác. Tiền thu đợc từ các công trình đó đợc đấu t xây dựng các khu nhà ở
khác làm cộng với sự tác động của chính phủ làm cho giá nhà phù hợp với đại Bộ phận dân chúng.

áp dụng chính sách trng dụng đất bắt buộc, tạo ra quỹ đất xây dựng lớn.
Pháp lệnh trng dụng đất đợc ban hành năm 1920 và lần sửa đổi gần đây nhất là vào năm 1973, theo đó việc đền bù cho đất bị trng dụng đợc ấn định theo giá thị
trờng xác định dựa trên giá trị sử dụng đất hoặc theo Bảng phân vùng thị trờng của đất lấy giá nào thấp hơn. Quy định này không tính đến tiềm năng của đất có
đợc đối với việc phát triển trong tơng lai. Những văn bản pháp luật này một mặt đã hạn chế đợc tình trạng đầu cơ, mặt khác mang lại cho các cơ quan thẩm
quyền khả năng thu hồi đất với mức giá chấp nhận đợc và vì thế có đợc quỹ đất xây dựng nhà đáng kể.
Duy trì chi phí sản xuất thấp
Bên cạnh việc mua đợc đất với giá rẻ, HDB còn duy trì mức chi phí thấp thông qua một số biện pháp nhằm tăng hiệu quả và giảm thiểu chi phí nh: xác định
quy mô hợp lý, kiểm soát chặt chẽ các hợp đông xây dựng, sử dụng các thiết kế tiêu chuẩn hoá với thời gian thi công ngắn vừa đảm bảo độ bền vững của công
trình vừa có chi phí bảo trì tối thiểu. HDB tự thiét kế và giám sát tất cả các dự án của mình tuy nhiên vẫn cho các nhà thầu t nhân tham gia thi công. Ngoài ra
HDB còn quản lý và sản xuất các vật liệu xây dựng thiết yếu nhờ đó đảm bảo cung ứng với giá cả hợp lý. Chi phí xây dựng còn đợc tiết kiệm nhờ đổi mới
công nghệ không ngừng.
26
Vai trò của Quỹ tiết kiệm Trung ơng CPF
Quỹ này đã cung cấp tài chính cho chơng trình xây dùng nhµ ë cđa HDB. CPF lµ q tiÕt kiƯm bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với ngời lao động và do Nhà nớc
quản lý. Ngời sử dụng lao động và ngời lao động đều phải đóng góp vào quỹ một tỷ lệ nhất định lơng tháng. Tỷ lệ này biến thiên theo từng năm và đợc phép
dao động tuỳ theo mức độ phát triển của nền kinh tế. CPF vận hành theo chu trình khép kín. Các nguồn tài chính đợc chuyển đến ngời dân qua quá trình đầu
t vốn cho các dự án xây dựng nhà ở. Đồng thời ngời đóng góp đợc sử dụng tiền tiết kiệm này để mua nhà. Khả năng tài chính của quỹ cũng đợc tăng thêm từ
các hoạt động nh mua trái phiếu Chính phủ hay cho vay u đãi. Nhờ quỹ này mà chơng trình phát triển nhà ở của Singapore tránh đợc việc phải vay vốn của các
tổ chức thơng mại với lãi suất cao.
Đối với hầu hết các nớc thuộc thế giới thứ ba, xây dựng nhà ở cho dân c đô thị nói riêng và cho ngời nghèo nói riêng luôn là một vấn đề nan giải. Trong tình
trạng nh vậy Singapore đợc coi là một ngoại lệ, chơng trình nhà ở của quốc đảo này đã thực sự mang lại lợi ích cho ngời nghèo và từ năm 1964 đến nay tình
trạng thiếu nhà ở đã phần nào đợc giải quyết, đảm bảo quyền có chỗ ở cho đa số ngời dân.

2. ấn Độ với cuộc cách mạng về nhà ở.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái niệm cơ bản về dự án đầu t Dự án đầu t có thể xem xét từ nhiều góc độ.

Tải bản đầy đủ ngay(122 tr)

×