1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 62 (trang)
Thế nào là lực lượng lao động

Thế nào là lực lượng lao động

Tải bản đầy đủ - 62trang

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG NGUỒN LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ TẦM QUAN TRỌNG


1.1 Thế nào là lực lượng lao động


Trước hết chúng ta cần hiểu rõ lực lượng lao động là gì? Trong kinh tế học những người trong lực lượng lao động là những người cung cấp lao
động. Năm 2005, lực lượng lao động của toàn thế giới là trên 3 tỉ người.Thông thường, lực lượng lao động bao gồm tất cả những người đang ở trong độ tuổi lao động thường
là lớn hơn một độ tuổi nhất định trong khoảng từ 14 đến 16 tuổi và chưa đến tuổi nghỉ hưu thường trong khoảng 65 tuổi đang tham gia lao động. Những người khơng được
tính vào lực lượng lao động là những sinh viên, người nghỉ hưu, những cha mẹ ở nhà, những người trong tù, những người khơng có ý định tìm kiếm việc làm. Ở Hoa Kỳ, lực
lượng lao động được xác định là những người từ 16 tuổi trở lên, đã có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm. Các Luật lao động trẻ em ở Hoa Kỳ cấm việc thuê người dưới
18 tuổi trong các nghề nguy hiểm.Một phần nhỏ trong lực lượng lao động đang tìm kiếm việc làm nhưng khơng thể tìm được việc làm tạo thành đội qn thất nghiệp.
1.2.Quy mô lực lượng lao động Việt Nam hiện nay
Quy mô dân số nước ta lớn và tăng nhanh ,năm 1989 dân số trung bình tồn quốc là 66,412 triệu người, năm 2005 :83,104 triệu người ,với tỷ lệ tăng tương ứng là 1,99
và giảm xuống 1,28 .Từ năm 1990 trở lại đây ,do tốc đọ tăng dân số còn khá cao nên lực lương lao động nước ta nên lực lượng lao đông nước ta tăng khá nhanh theo
mỗi năm .
Theo biểu đồ trên ,có thể thấy lực lượng lao động nước ta vân động theo xu hướng tăng dần và tốc đọ tăng khá cao ,3.2 năm so với tốc đọ tăng của dân số ,bùnh
quân của giai đoạn 1999-2005 chỉ 1,3năm. Nguyên nhân có thể là do nước ta đẫ thực hiện tốt chính sách dân số,kế hoạch hố gia đình , đồng thời, đến thời điểm này
thì số người bước vào độ tuổi lao động hang năm được bổ sung khá “dồi dào “. Tuy nhiên ,thời gian tới ,tốc độ này sẽ thay đổi theo hướng giảm dần,cung lao động sẽ
thấp hơn khi xu hướng chung của lực lượng trẻ muốn tiếp tục đi học hoặc chờ đợi những việc làm thu nhập tướng đối cao.
Xét về giới :năm 2005 ,lực lượng lao động nam chiếm tỷ lệ 51,3 lực lượng lao động tồn quốc,lực lượng lao đơngj nữ là 48.7. Sự tham gia của lực lượng lao
động nữ vào thị trường lao động thấp xuất phát từ nhiều nguyên nhân : một phần do hạn chế về bình đẳng giới nên người nữ ít có cơ hội học tập ,làm việc đúng với
năng lực và chuyên môn, mà hầu hết phải gánh vác việc gia đình như nội trợ,chăm sóc con cái. Ngày nay,vai trò của người phụ nữ dần được đánh giá đúng và đặt
ngang bằng với nam giới trong mọi lĩnh vực,trong đó có hoạt động lao động xã hội . Xét theo độ tuổi : Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao trong
tổng lao động trong cả nước ,năm 2005 là 94,2,trong khi trên độ tuổi lao động chỉ có 5.8. Ngồi ra có khoản 700 nghìn lao động trẻ emdưới 15 tuổi tha gia vào hoạt
đông kinh tế, chủ yếu là ở nông thôn và từ nông thôn ra thành phố làm việc . Những năm gần đây ,lực lượng của cả nước có xu hướng tăng tỷ trọng lao độngớ các nhóm
tuổi từ 25 tuổi trở lên và giảm ở các nhóm tuổi trẻ từ 15-24 tuổi trong tổng số nhân khẩu tư 15 tuổi trở lên . Ngồi ra ,số người khơng tham gia vào hoạt động kinh tế do
đi học trong số nhân khẩu đủ 15 tuổi trở lên đã tăng từ 10.9năm 2000 lên 11.4 2005.
Xét theo khu vực : Xuất phát điểm nước ta là nước thuần nông nên phần lớn dân số tập trung sống ở khu vực nông thôn, lực lượng lao động ở đây chiếm tới 75.1 tổng
số lao động cả nước . Theo thời gian ,xu hướng vân động rõ nét là giảm lực lượng lao động nông thôn và tăng lực lượng lao động thành thị . Nếu năm 1996 lao động
nơng thơn chiếm hơn 79thì đến năm 2005 giảm xuống còn 75.1, đồng thời nâng tỷ lệ tỷ lệ lao động thành thị từ 20.3 lên 24.9 . Điều này do tác động của quá
trình đơ thị hố , cơng nghiệp hố , khu vực nông thôn bị thu hẹp dần và các khu vực đô thị mới xuất hiện .
Xét theo vùng lãnh thổ: Đặc điểm rõ nét của cung lao động tập trung chủ yếu ở các khu vực thị trường , đồng bằng song Hồng chiếm tỷ lệ 22.4;vùng Đồng bằng song
Cửu Long 21.5; Đông Nam Bộ 15.3 ; Bắc Trung Bộ 12; Đông Bắc 11.7; Duyên Hải Nam Trung Bộ 8.3; Tây Nguyên 5.6 và Tây Bắc là 3.2.
Xu hướng biến động theo vùng , một mặt phụ thuộc vào tốc độ tăng dân số và phân bố dân số theo vùng ,mặt khác phụ thuộc vào trình độ và tốc độ phát triển kinh tế -xã
hội của từng vùng .Nhìn chung lực lượng lao động có tốc độ tăng lớn hơn ở các khu vực lãnh thổ nằm trong vùng kinh tế trọng điểm và các vùng có tốc độ đơ thị hóa
cao. Các vùng này ngồi tăng lực lượng lao động tại chỗ còn thu hút nhiều lao động từ các vùng khác đến để đáp ứng nhu cầu lao động trong các ngành nghề,lĩnh vực
mớ phát triển.
1.3.Trình độ học vấn của lực lượng lao động
Theo thống kê Lao Động-Việc làm của Bộ Lao Động- Thương binh xã hội giai đoạn 1996-2005,tỷ lệ lao động không biết chữ có xu hướng giảm dần năm 1996:5.72
va năm 2005 là 4.04 , nhờ có sự phát triển khơng ngừng của hệ thống giáo dục phổ thơng ,trong đó .lực lượng lao động mới bổ sung là lao động trẻ , đa số là tốt
nghiệp phổ thong cơ sở và không ngừng tăng tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học .
Yêu cầu của thị trường lao đọng về chất lượng lao động ngày càng khắt khe , nên xu hướng chung là cầu lao động trên thị trường lao động phải đảm bảo trình độ văn hố
tối thiểu là tốt nghiệp phổ thơng cơ sở . Trình độ văn hoá của lực lượng lao động thành thị cao hơn lực lượng lao động
nông thôn,
tỷ lệ không biế chữ là 1.3,trong khi ở nông thôn tới 5.92005,kéo theo tỷ lệ lao động ở thành thị đã qua tốt nghiệp phổ thong cũng cao hơn.
Hiện nay,lực lượng lao động thành thị đòi hỏi phải gắn với quan hệ công nghiệp,công việc quản lý hành chính xã hội và hệ thống dịch vụ trình độ
cao..Ngược lại vì trình độ sản xuất-kinh doanh ở các vùng nơng thơn còn thấp nên một thực tế tất yếu là sự thua kém về mặt chuyên môn,tay nghề của cả đội ngũ lao
động. Mặt khác,do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinhtế ở nhiều vùng nông thônnước ta còn diễn ra châm,nên chất lượng lao động chưa có sự chuyển biến nhanh chóng
cũng là nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao trình độ văn hố của lực lượng lao động nơng thơn.
Trình độ văn hố giữa thị trường lao động các vùng được thống kê không đồng đều ,cụ thể: Đồng bằng song Hồng có 29 lao động đã tốt nghiệp phổ thong ttrung học
và 50 tốt nghiệp phổ thong cơ sở;tương ứng với đó,tại vùng Đơng Nam Bộ là 28 và 23 ;Bắc Trung Bộ là 21 và 45; Đông Bắc là 21 và 37;vùng Duyên Hải
Nam Trung bộ là 20 và 27 .
1.
4.Lực Lượng lao động theo trình độ chun mơn kỹ thuật
Đội ngũ lao động có chun mơn-kỹ thuật ở nước ta khơng ngừng tăng lên,từ
10.4 1996 lên 24.82005; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 7.51996 lên 15.22005;hiện nay,hang năm tuyển mới đào tạo nghề tăng bình qn 9
,trong đó đào tạo nghề dài hạn tăng bình quân 16 năm , đào tạo cao đẳng , đại học tăng 4.8năm .
Sự gia tăng theo chiều hướng tích cực của lực lượng lao động nước ta do nâng cấp ,phát triểnhệ thống giáo dục , đào tạo ;Nhà nước có sự quan tâm nhiều hơn , đầu
tư ngày càng lớn hơn đối với phát triển nguồn nhân lực; nhận thức của người lao động tăng lên đối với vai trò,lợi ích của giáo dục đào tạo ;hợp tác quốc tế về đào tạo
và dạy nghề được mở rrộng. Trên thực tế ,tỷ lệ lao động qua đào tạo trong lực lượng lao động thành thị lớn hơn
nhiều so với ở nông thơn,cụ thể là 45.5 so với 14.9.Tình trạng này dẫn đến hạn chếkhả năng tạo việc làm trong khu vực phi nông nghiệp ,hạn chế chuyển đổi cơ cấu
lao động và tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ để thúc đẩy q trình cơng nghiệp hố ,hiện đại hóa nơng nghiệp,nơng thơn .Ngun nhân cơ bản của tình trạng
chậm cải thiện chất lượng cung lao động của thị trường lao động nông thôn là : -Hạn chế về nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo của hộ nông thôn do thu
nhập và mức sống của lao động nông thôn thấp. -Tỷ lệ học sinh nông thôn thi đỗ vào các trường trung hoc chuyên nghiệp ,cao
đẳng, đại học thấp hơn nhiều so với khu vực thành thị. -Nhiều vùng nơng thơn có chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm nên thiếu động lực cho
đổi mới chất lượng lao động . Bên cạnh đó ,tuỳ theo từng vùng cũng có sự chênh lệch về trình độ chuyên môn
của lực lượng lao độngđiều này thể hiện rõ trong biểu đồ dưới Sự chênh lệch mức độ phát triển nguồn nhân lực khác nhau của các vùng :mức độ
phân mảng thị trường lao động có chun mơn kỹ thuật thị trường lao động kỹ năng và thị trường lao động giản đơn của các vùng khác nhau ,vùng có phân mảng
lớn là vùng có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao;trình độ cơng nghệ trong nền kinh tế của các vùng cũng có sự khác nhau ,các vùng có trình độ cơng nghệ cao hơn thì có
tỷ lệ lao động qua đào tạo lớn hơn;chênh lệch lớn về tỷ lệ lao động qua đào tạo trong lực lượng lao động của cá vùng,phản ánh tốc độ phát triển của các ngành công nghệ
cao,nghành kinh tế mũi nhọn của từng vùng có sự khác nhau,nếu các ngành này phát triển nhanh hơn thì tỷ lệ lao động qua đào tạo thường cao hơn.
Những đặc điểm nêu trên được biểu hiện rõ hơn khi xem xét tỷ lệ lao động qua đào tạo của các vùng kinh tế trọng điểm là những vùng phát triển kinh tế-xã hội có hiệu
quả , đi đầu trong cơng cuộc cơng nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế,có vai trò thúc đẩy ,hỗ trợ các vùng khác nhất là các vùng khó khăn cùng phát triển . Tỷ lệ lao động qua đào tạo của các vùng kinh tế trọng điểm khác
hẳn so với các vùng khác,trong đó 2005 vùng kinh tees trọng điểm Bắc bộ là 36.3 ,vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là 31 và vùng kinh tế trọng điểm miền
Nam là 36.1.Các đặc trưng này đã có tác động thúc đẩy thị trường lao động kỹ năng phát triển ,do đó chất lượng cung lao động tại các vùng này nhanh chóng được
cải thiện.
1.5.Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Hiện tại nước ta đang rât skhan hiếm nhân lực có chun mơn cao trong các lĩnh vục tài chính,bảo hiểm,ngân hàng thương mại,cơngnnghệ thong tin,quản lý luật
pháp .Theo các chuyên gia đánh giá thì hiện tại Việt Nan mới chỉ có thể đáp ứng được 35-40 nhu cầu bậc cao của các doanh nghiệp Thông tin từ
vietnamwork.com đưa ra là họ đang lưu giữ hồ sơ của 500.000 ứng viên người Vi ệt ,nhưng không chịn nổi 6000 nhân sự theo đặt hàng của một số doanh nghiệp Lý do
là các ứng viên Việt Nam tỏ ra hạn chế về khả năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm ,nặng về lý thuyết mà hạn chế về kỹ năng thực hành,thiếu tư duy độc lập
có phản biện . Các ứng viên chuyên ngành quản lý thì bị hạn chế về kinh nghiệm ,kỹ năng lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược . Đây chính là điểm yếu nhất của lực lượng
lao động Viêth Nam. Và hệ quả là thị trường lao động trong nước buộc phải chấp nhận làn song di chuyển của nguồn nhân lực chất lượng cao là người nước ngoài vào
làm việc tại các khu cơng nghiệp kỹ thuật cao.Chỉ tính riêng Thành Phố Hồ Chí Minh và các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã có hang chục nghìn lao động
nước ngồi đang có làm việc thường xun và ổn định. Chủ yếu họ đảm nhân những công việc , vị trí mà người Việt khơng đủ năng lực thực hiện.
Đối với các doanh nghiệp, việc buộc phải tiếp cận lao động nứoc ngoài là bất khả kháng. Đơn cử tại một nhà máy gia công giày da ở Đồng Naiđang sử dụng 20 nghìn
lao động Việt Nam,nhưng quỹ lương của cả tập thể lao động này chỉ bằng tổng số tiền lương mà doanh nghiệp này phải trả cho 70 chuyên gia nước ngoài . Nhà máy
xi măng Nghi SơnThanh Hố ,do khơng tìm được người Việt có khả năng đáp ứng được yêu cầu nên vị trí chủ chốt đều do người Nhật nắm giữ, tổng quỹ lương của 20
người Nhật tương đương quỹ lương của hơn 2000 công nhân người Việt . Một số dịch vụ khác như Ngân hàng , Y tế.., có tới 40 tổng số lao động có thu nhập cao từ
14.000 USDnăm trở lên thuộc người nước ngồi . Thơng qua nhiều hình thức thong tin tuyên truyền , để “săn” nhân sự người Việt vào những vị trí quan trọng , mục
đích ban đầu là giảm chi phái đầu vào ,nhưng đây vẫn là khâu nan giải đối với nhiều doanh nghiệp .
Theo dự đoán của các nhà phân tích kinh tế nước ngồi, số lượng các ứng viên người nước ngồi Mỹ, Úc, Hà Lan, Philippines, Hồng Kơng, Ấn Độ… tham gia
vào thị trường lao động Việt Nam đang có xu hướng gia tăng nhanh trong thời gian tớivà có thể có sự rối loạn cho sản xuất kinh doanh của các công ty vừ và nhỏ trong
nứoc vì “mất” nhân lực chất lượng cao ở những vị trí trọng yếu . Bởi , theo quy luật thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao có xu hướng di chuyển từ các khu vực lao
động có thu nhập thấp đến khu vực lao động có thu nhập cao, thường là những doanh nghiệp có vốn đấu tư nước ngoài doanh nghiệp FDI với nhiều ưu đãi hấp
dẫn. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn thăng vào thực trạng nguồn nhân lực , trọng tâm là nguồn nhân lực chất lượng cao – động lực phát triển của nền kinh tế nước nhà để
hướng ra thế giới thực tâm cầu thị . Một vần đề cần nhấn mạnh là đừng vội xem lao
động giá rẻ là một lợi thế , mà phải coi đây là nỗi lo lớn cho nền kinh tế ,vì so với một số nước ,năng suất lao động ở Việt Nam là quá thấp :năng suất lao động của
người dân Nhật Bản cao hơn Việt Nam gấp 135 lần ; Thái Lan gấp 30 lần ; Malaysia gấp 20 lần ; Indonesisa gấp 10 lần … Do đó ,nếu coi lao động giá rẻ đơng
nghĩa với chất lượng thấp như một lợi thế là một sai lầm bởi yếu tố quyết định đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp chính là năng suất lao động. Khi doanh
nghiệp sử dụng lao động giá rẻ ,bản thân doanh nghiệp có thể giảm được quỹ tiền lương ,nhưng thực tế chi phí má họ phải bỏ ra đào tạo , đầu tư cho nhân viên sẽ cao
hơn rất nhiều . Lao động chất lượng thấp ,kéo theo mức lương trả cho người lao động thấp ; đồng thời không đáp ứng được xu thế đổi mới ,sử dụng công nghệ sản
xuất,quản lý ngày càng cao của doanh nghiệp. Một thực tế nũa là ,mặc dù Việt Nam có một nguồn nhân lực trẻ rất dồi dào nhưng
đại đa số các doanh nghiệp luôn kêu thiếu nhân lực . Sự khan hiếm nhân lực không phải nguồn lao động phổ thông mà tập trung ở số lao động có trình độ ,tay nghề đã qua
đào tạo ,có kỹ năng làm việc và có khả năng nắm giữ một số các vị trí chủ chốt trong các doanh nghiệp. Trong khi đó một nghịc lý là hang năm số lượng sinh viên tốt nghiệp các
trường đại học,cao đẳng ,trường dạy nghề…ở nứoc ta rất lớn nhưng không xin được việc làm ,hoặc đa phần là đi trai sngành nghề được đào tạo . Sở dĩ xảy ra nghịch lý trên chính
vì từ khâu chọn ngành nghề ,cơng tác đào tạo không bài bản ,không chuyên môn nên rất khó đáp ứng được các u cầu cơng việc của các đơn vị .
Tóm lại : Từ thực tiễn quan sát được và từ các đánh giá của các chuyên gia ta thấy
được một số vấn dề tồn tại chủ yếu về chất lượng lực lượng lao động nước ta: Mặc dù có những tiến bộ tích cực về cải thiện chất lượng lao đông thời kỳ đổi mới
,nhưng hiện nay lực lượng lao động nước ta có những tồn tại chủ yếu sau: -Cơ cấu lực lượng cả nứoc theo cấp trình độ chun mơn -kỹ thuật có bất hợp lý .
Theo thống kê ,năm 2005 ,lực lượng lao động cả nứoc theo cấp trình độ như sau: lao động qua đào tạo nghề và tương đương là 15.2 ,qua đào tạo trung học chuyên
nghiệp là 4.3 và qua đào tạo cao đẳng , đại học ,trên đại học là 5.3 . Như vậy cứ 1 lao động cao đẳng , đại học ,trên đại học thì có 0.8 lao động trung học chuyên
nghiệp và 2.8 công nhân kỹ thuật. Cơ cấu trên thể hiện tìh trạng thiếu cung công nhân kỹ thuật trên thị trường lao động . Trong các năm tới ,theo kinh nghiệm của
các nước phát triển trong khu bực Malaysia,Hàn Quốc.. cơ cấu trên cần được khắc phục theo hướng tiến tới là 1;3;5;10 . Để khắc phục sự bất hơp lý này ,Nhà nước
đang nỗ lực thực hiện các giải pháp tích cực tăng tốc đào tạo công nhân kỹ thuật , điều chỉnh lại cơ cấu đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động,nhưng
khơng vì thế mà coi nhẹ chất lượng đào tạo. -Người lao đơng còn it nắm được các tiêu chí chaủan lao động ,pháp luật lao động
khi tham gia vào thị trường lao động - Tính kỷ luật lao động và tác phong cơng nghiệp của một bộ phận lớn lực lượng lao
động chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện đại ,còn mang nặng dấu ấn tác phong của nền nơng nghiệp tiểu nơng.
-Thể lực của lực lượng lao động còn hạn chế so với lao động nhiều nước trên thế giới,biểu hiện ở các chỉ tiêu như:tính dẻo dai,chiều cao,cân năng …

CHƯƠNG 2: DIỄN BIẾN TÍNH HÌNH ĐẦU TƯ ,THU HÚT VỐN TỪ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thế nào là lực lượng lao động

Tải bản đầy đủ ngay(62 tr)

×