1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 42 (trang)
Quá trình phát triển công nghiệp từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn.

Quá trình phát triển công nghiệp từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn.

Tải bản đầy đủ - 42trang

Xét trong mối quan hệ phân công lao động xã hội giữa hai ngành công nghiệp và nông nghiệp, thờng trải qua một chu trình bao gồm 3 giai đoạn cơ bản :
sản xuất công nghiệp ra đời trong nông nghiệp-một hoạt động nằm trong nông nghiệp; tách ra khỏi nông nghiệp thành một ngành độc lập; quay trở lại kết hợp với
nông nghiệp bằng nhiều hình thức tổ chức mối liên hệ sản xuất đa dạng ở trình độ hoàn thiện và tiên tiến hơn. Hoạt động sản xuất nông nghiệp xuất hiện trong lịch sử
phát triển của loài ngời rất sớm, từ khi loài ngời bắt đầu săn bắt hái lợm, hoạt động khai thác tài nguyên động thực vật trong tự nhiên tạo nguồn thực phẩm để sinh
sống. Sau đó là các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp chế tạo ra những dụng cụ lao động và các đồ dùng thô sơ phục vụ cho hoạt động hái lợm, săn bắt và sinh hoạt.
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, do yêu cầu thoả mãn nhu cầu của loài ngời, các hoạt động nông nghiệp phát triển thành loại hình sản xuất công nghiệp
nằm trong công nghiệp. Hình thức sản xuất này có tÝnh tù cung, tù cÊp do sư dơng thêi gian nông nhàn để tiến hành sản xuất.
Sự phát triển nền sản xuất xã hội gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội, cuộc phân công lao động lớn lần thứ hai, công nghiệp đã tách ra
hoạt động sản xuất độc lập. Tuy có quá trình hoàn thành phát triển rất sớm, song công nghiệp cho đến thời kỳ tiền t bản chủ nghĩa về cơ bản vẫn là một nền sản xuất
nhỏ, cá thể của những ngời thợ thủ công tiến hành. Công nghiệp tách khỏi nông nghiệp thành một ngành sản xuất độc lập. Tuy
vậy, giữa hai ngành này có mối liên hệ sản xuất rất mật thiết với nhau. Do đó, đòi hỏi công nghiệp phải quay lại kết hợp với nông nghiệp bằng các hình thức tổ chức
mối liên hệ sản xuất với những hình thức đa dạng và ngày càng hoàn thiên nh : tổ chức và cung ứng nguyên liệu và t liệu lao động cho nhau; các hình thức liên kết
liên doanh, các loại hình xí nghiệp liên kết sản xuất, các công ty, tổng công ty nông- công nghiệp hoặc công-nông nghiệp

3. Quá trình phát triển công nghiệp từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn.


Đây là quá trình phát triển hoàn thiện về tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Quá trình đó trải qua 3 giai đoạn chủ yếu : hiệp tác giản
đơn; công trờng thủ công; công xởng-đại công nghiệp cơ khí.
13
Tính quy luật này của sự phát triển công nghiệp đã đợc Lênin phát hiện và đợc đề cập trong tác phẩm sự phát triển của chủ nghĩa t bản ở nớc Nga. Các giai
đoạn phát triển trên có nhiều điểm khác nhau, trong đó có 2 điểm nổi bật là sự khác nhau về mức độ phát triển phân công lao động xã hội và sự hoàn thiện của các công
cụ lao động. So với giai đoạn hiệp tác giản đơn, ở giai đoạn c«ng trêng thđ c«ng, ng- êi ta vÉn sư dơng công cụ thủ công, nhng do có sự phân công và hiệp tác lao động
nên sức sản xuất giai đoạn này tăng lên nhiều. Trong giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, phân công lao động và công cụ lao động đã có sự thay đổi căn bản : công cụ cơ
khí đợc sử dụng phổ biến, phân công và hiệp tác lao động đợc thực hiện sâu rộng hơn. chính vì vậy, khả năng sản xuất đợc mở rộng, hiệu quả sản xuất đợc nâng cao.
Sự phát triển công nghiệp có thể diễn ra tuần tự theo các giai đoạn nêu trên, nhng cũng có thể phát triển nhảy vọt từ trình độ thấp lên trình độ cao, khi nó đợc
bảo đảm những điều kiện phù hợp. Trong thời đại ngày nay, con đờng phát triển nhảy vọt đợc áp dụng ngày càng phổ biến ở các nớc đang phát triển. Nhờ chính sách
huy động hợp lý các nguồn lực bên trong và sự hỗ trợ có hiệu quả từ bên ngoài, nhiều nớc đã rút ngắn quá trình xây dựng nền đại công nghiệp, từ một nớc lạc hậu
trở thành nớc có nền công nghiệp phát triển. Các nớc công nghiệp mới NIC là những điển hình về sự phát triển này.
Nghiên cứu tính quy luật này không những có ý nghĩa thực tiễn về tổ chức sản xuất, ứng dụng máy móc thiết bị mà còn góp phần thúc đẩy việc thực hiện công
cuộc cải tạo quan hệ sản xuất trong công nghiệp.
14
Chơng II
Thực trạng phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ở Huyện Thạch Thất-Tỉnh Hà Tây

I. Điều kiện tự nhiên của huyện.


-Vị trí địa lý: Thạch Thất là một vùng bán sơn địa, nằm ở phía tây bắc tỉnh Hà Tây. Với diện tích tự nhiên 119,5km
2
. Có toạ độ địa lý 20
o
58

23

-21
o
06

10

độ vĩ bắc 105
o
27

54

-105
o
32

22

độ kinh đông. Phía bắc giáp huyện Phúc Thọ; phía nam, đông giáp huyên Quốc Oai; phía tây giáp huyện Lơng Sơn-Hoà Bình, huyện Ba Vì, thị xã
Sơn Tây. Trung tâm huyện cách thị xã 13km về phía Tây Bắc, cách thị xã Hà Đông
28km về phía Đông nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km về phía Đông, gồm 19 xã và 1 thị trấn. Có đờng quốc lộ 32 chạy qua phía bắc huyện, quốc lộ 21A ở phía
Tây, đờng cao tốc Láng-Hoà Lạc chạy qua ở phía Nam hun, tØnh lé 80, 84 ch¹y qua hun t¹o nên mạng lới giao thông khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã
hội. Địa hình huyện là khu vực chuyển tiếp của vùng núi tỉnh Hoà Bình xuống
đồng bằng sông Hồng. Hình dáng địa hình có xu hớng dốc từ phía Tây-Bắc xuống Đông-Nam, nghiêng từ Tây sang Đông, đợc chia thành 2 vùng chính:
+ Vùng đồi gò bán sơn địa: Nằm phía hữu ngạn sông Tích thuộc khu vùc phÝa T©y hun víi diƯn tÝch 70,56km
2
chiÕm 60,7 diƯn tích toàn huyện. + Vùng đồng bằng: Nằm phía tản ngạn sông Tích thuộc khu vực phía Đông của
huyện, nói chung địa hình tơng đối bằng phẳng, ở phía đông nam cã nhiỊu vïng
tròng. -VỊ khÝ hËu: Th¹ch ThÊt thc vïng khÝ hËu miỊn b¾c ViƯt Nam, khÝ hËu nhiƯt đới
gió mùa, mùa nóng ấm và mùa khô hanh, nhiệt độ trung bình hàng năm 23,8
o
C. Độ ẩm không khí trung bình từ 80- 85.lợng ma trung bình 1753mm, số ngày nắng
trong năm khoảng 270 ngày. Hớng gió chủ yếu là tây- bắc, đông- nam, ngoài ra còn
chịu ảnh hởng của gió Lào khoảng từ tháng 5 đến tháng 7. Với đặc điểm khí hậu
15
nêu trên là điều kiện thận lợi để nuôi trồng các loại cây, con vùng nhiệt đới, nhng cũng có hạn chế là mùa ma thờng ngập úng, mùa khô hanh thờng bị hạn đặc biệt là
vùng đồi gò, còn gần 800 ha thờng bị hạn do cha có công trình tới nớc. -Về tài nguyên:
+ diện tích đất tự nhiên của Huyện Thạch Thất 11948,84 ha trong đó đã khai thác đa vào sử dụng 10775,45 ha chiÕm 90,18 q ®Êt, chư dơng 1173,39 ha bằng
9,82. + Theo hệ thống phân loại đất Việt Nam vể thổ nhỡng đất đai của huyện đợc chia
làm 4 nhãm chÝnh. - Nhãm ®Êt phï sa: víi diƯn tÝch 7.979 ha b»ng 90,31.
- Nhãm Feralit: víi diƯn tÝch 138 ha chiÕm 1,56. - Nhãm dèc tơ: diƯn tÝch 407 ha bằng 4,61.
- Nhóm đất vàng đỏ trên đồi cao diện tích 311 ha bằng 3,52. Nhìn chung đất đai ở các vùng đồng bằng có độ phì nhiêu cao, với nhiều
loại địa hình nên có thể bố trí nhiều loại cây trồng. + Tổng quỹ đất của huyện phân bố không đều, các xã vùng đồi gò bán sơn địa dân
c tha, diện tích lớn, các xã vùng đồng bằng dân c đông đúc, diện tích nhỏ. Bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu ngời khoảng 0,09 ha. Đất nông nghiệp chiếm
65, bình quân khẩu nông nghiệp 562m
2
ngời. Đất lâm nghiệp có khoảng 905,06 ha thuộc loại rừng trồng. Đất chuyên dùng 2.070,81 ha chiếm 17,33 diện tích đất
tự nhiên. + Tài nguyên nớc: Nớc mặt chủ yếu ở các sông, suối trong nội huyện cung cấp và
sự điều tiết ở nơi khác đến bằng các hệ thống công trình thủy lợi nh trạm bơm tới phù sa và hồ Đồng mô.
Nớc ngầm ở vùng đồng bằng tơng đối dồi dào và ở mức nông, vùng đồi gò cha có tài liệu khoan địa chất nhng với giếng đào của dân khoảng 6-10m đã có nớc.
+ Khoáng sản: Từ trớc đến nay cha có tài liệu nghiên cứu, đánh giá đầy đủ nguồn khoáng sản trên địa bàn 20 xã của huyện, chỉ có phát hiện ra đất sét ở Minh Nghĩa,
Đại Đồng vào năm 1971 do đoàn địa chất 307 lập năm 1982.
16
+ Phân vùng sinh thái: Do đặc điểm tự nhiên về khí hậu, địa hình thổ nhỡng, thuỷ văn huyện Thạch Thất có thể phân ra hai vùng sinh thái:
- Tiểu vùng đồi gò bán sơn địa thuộc hệ sinh thái đồi vờn và trồng lúa nớc, rất thích hợp các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi trâu, bò.
- Tiểu vùng đồng bằng: Thuộc hệ sinh thái đồng bằng, chế độ canh tác chính là 2 vụ lúa, một vụ màu, có lợi thế với cây ăn quả và chăn nuôi lợn, gia cầm và
nuôi thuỷ sản. + Về cảnh quan, di tích lịch sử và du lịch: Thạch Thất là một vùng đất cổ, hình
thành và phát triển sớm ở nớc ta. Theo thống kê của ngành văn hoá có 98 di tích nh đình chùa, đền miếu, văn chỉ, trong đó có 30 di tích đã đợc xếp hạng. Nổi bật có đền
thờ trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, chùa Tây Phơng, cùng nhiều lễ héi lµng ViƯt cỉ, lµng nghỊ trun thèng.
Sù hiƯn diƯn của vùng đồi thấp, bên cạnh có hồ nớc Tân X· c©y xanh bèn mïa n»m ë khu vùc phÝa Tây của huyện và sông Tích uốn khúc chảy từ Bắc xuống
Nam. Với tài nguyên nhân văn và cảnh quan du lịch với vị trí không xa thủ đô Hà Nội nên có nhiều thuận lợi trong phát triển du lịch.
+ Dân số và lao động: Dân số Thạch Thất năm 1997 là 137.202 ngời, tốc độ tăng bình quân 1,2. Mật độ dân số trung bình 1.142 ngờikm
2
, trong đó vùng đồng bằng 1.942 ngờikm
2
, vùng bán sơn địa 635 ngêikm
2
. Lao ®éng cã 63.773 ngêi trong ®ã lao ®éng vïng n«ng nghiƯp 84,5, lao ®éng
c«ng nghiƯp, tiĨu thđ công nghiệp 10,5, còn lại là lao động ngành dịch vơ, cã 820 x· trong hun cã lµng nghỊ thđ công nghiệp.

II. Thực trạng kinh tế xã hội của huyện Thạch Thất giai đoạn 1995-1997.


1. Kinh tế. 1.1 .Về sản xuÊt:

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quá trình phát triển công nghiệp từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn.

Tải bản đầy đủ ngay(42 tr)

×