1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 46 (trang)
Từ năm 2000 đến nay: Thực trạng và những tồn tại:

Từ năm 2000 đến nay: Thực trạng và những tồn tại:

Tải bản đầy đủ - 46trang

QTKD tổng hợp 46A
+ Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu bù đắp đủ chi phí và có lợi nhuận hợp lý. Nhà nước không phải bù lỗ và thu ngân sách với mức
tương đối cao khoảng 3500 – 5500 tỷ đồngnăm đối với tổng công ty xăng dầu Việt nam.
Tuy nhiên, cơ chế quản lý điều hành trong giai đoạn này cũng tiềm ẩn những bất cập mà hậu quả là những khó khăn trong giai đoạn giá
thị trường có biến động mạnh và ở mức cao.

2.1.2. Từ năm 2000 đến nay:


-
Về cơ bản, nội dung và phương thức quản lý điều hành hoạt động kinh doanh xăng dầu khơng có sự thay đổi. Đến năm 2003, trước
diễn biến của thị trường xăng dầu thế giới, thị trường xăng dầu trong nước có dấu hiệu bất ổn, Nhà nước phải bù lỗ với mức
tương đối lớn và ngày càng tăng. Nhà nước đã có sự thay đổi nhất định trong cơ chế quản lý.
- Tư tưởng chủ đạo và nội dung của cơ chế quản lý theo các quyết định trên được xem như một sự điều chỉnh cần thiết và tích cực
trong giai đoạn vừa qua. Cụ thể là: + Với cơ chế “ giá định hướng” được xây dựng trên cơ sở giá nhập
khẩu dự báo cho một thời kỳ nhất định và doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu được điều chỉnh giá bán trong phạm vi 10 đối với xăng và
5 đối với dầu nhằm tạo ra mặt bằng giá “ tiếp cận” với giá thế giới, giảm dần sự bảo hộ của Nhà nước đối với người tiêu dùng. Doanh
nghiệp kinh doanh xăng dầu đủ bù đắp chi phí và có lãi hợp lý.
17
QTKD tổng hợp 46A
+ Trong điều kiện thị trường xăng dầu thế giới có nhiều biến động bất lợi cả về giá và nguồn, song các doanh nghiệp vẫn bảo đảm ổn định
được thị trường do được Nhà nước bảo đảm bằng cơ chế cấp bù. + Hệ thống phân phối xăng dầu được phát triển nhanh, mạnh và từng
bước được xác lập tương đối ổn định và có sự chuyển biến cả về nội dung và phương thức kinh doanh. Người tiêu dùng và xã hội bắt đầu có
những nhận thức mới trước sự điều chỉnh giá của chính phủ.

2.1.3. Thực trạng và những tồn tại:


Bên cạnh những kết quả tích cực của cơ chế quản lý Nhà nước trong giai đoạn vừa qua trong điều hành thực tiễn và trước những biến động
của thị trường trong và ngoài nước, cơ chế hiện hành còn chứa đựng những bất cập cần được xem xét và giải quyết bằng các phương pháp vĩ
mô trong giai đoạn tới, trong đó có thể xét đến:
Thứ nhất, với chính sách bảo hộ được duy trì q dài, giá thường được giữ ổn định trong một chu kỳ dài hoặc chỉ điều chỉnh theo một
chiều thông qua việc điều chỉnh thuế hoặc bù giá đã khiến người tiêu dùng có tâm lý trơng chờ, ỷ lại và thường có phản ứng khi Nhà nước
điều chỉnh giá tăng. Điều quan trọng hơn, một khi giá xăng dầu được bảo hộ sẽ tạo giá thành có tính cạnh tranh ảo, lợi nhuận ảo, khiến các nhà sản
xuất ít quan tâm đến giải pháp tiết giảm chi phí hoặc cải tiến quản lý, công nghệ để nâng sức cạnh tranh của sản phẩm. Nếu tình hình này tiếp
tục được duy trì là cản trở lớn trong hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Thứ hai, Nhà nước phải dành khoản ngân sách đáng kể để bù lỗ, bù giá trong khi điều kiện ngân sách còn khó khăn. Trong trường hợp
những biến động giá xăng dầu nhập khẩu không tiên liệu được, kế hoạch
18
QTKD tổng hợp 46A
cân đối ngân sách thường bị phá vỡ. Đây là một sự bất hợp lý, trong khi Việt Nam cần tập trung mọi nguồn tài lực cho phát triển cơ sở hạ tầng
của nền kinh tế.
Thứ ba, cơ chế bảo hộ giá, khơng tính đến mặt bằng giá của các nước trong khu vực làm gia tăng “ thẩm lậu” qua biên giới và các hành
vi gian lận thương mại khác. Nhà nước khó có thể kiểm sốt và kiềm chế bằng các biện pháp hành chính. Tương tự, cũng khó có thể thực hiện
được chủ trương tiết kiệm nhiên liệu.
Thư tư, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu theo cơ chế bù lỗ sẽ mất đi tính chủ động trong kinh doanh, tạo ra tâm lý ỷ lại, tiêu giảm
động lực phát triển do khơng có khả năng tích tụ tái đầu tư và đầu tư phát triển, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật.
Thứ năm, trong thực tế điều hành, dù có nỗ lực lớn, cũng khó có thể điều hành giá trần và thuế kịp thời trước sự biến động nhanh chóng,
thường xuyên của thị trường xăng dầu thế giới. Nói cách khác, tính khả thi của cơ chế có những hạn chế nhất định. Bên cạnh đó, phương pháp,
tiêu chí cấp bù lỗ cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu cũng khó có thể đạt được các chuẩn mực, chưa kể đến chi phí cho cơng việc này từ
phía cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp.
Cuối cùng, cơ chế quản lý hiện hành đối với xăng dầu sẽ không phù hợp với các nguyên tắc và yêu cầu khi Nhà nước thực hiện các cam
kết hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2. Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới và ở Việt Nam 2.2.1. Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới:
a. Tác động tiêu cực
19
QTKD tổng hợp 46A
- Có tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế và các cân đối vĩ mô của nhiều nước;
- Làm nguồn thu ngân sách giảm; - Ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh
doanh xăng dầu; b. Tác động tích cực
- Việc tiêu dùng xăng dầu sẽ trở nên hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn; - Thúc đẩy ngành cơng nghiệp khai thác, lọc hóa dầu phát triển nhằm
bình qn hóa tỷ suất lợi nhuận các ngành sản xuất trong xã hội; - Thúc đẩy công tác nghiên cứu, tìm kiếm sản phẩm thay thế xăng dầu;
Điều đáng lý giải là việc giá dầu tăng mạnh trong hai năm lại đây đã khơng gây ra tình trạng suy thoái nền kinh tế thế giới như trong
những năm 1970 và đầu 1980. Thực tế cho thấy ảnh hưởng vượt trội của các dầu mỏ lên giá dầu trong thời gian gần đây có tác động tiêu cực ở
mức độ thấp hơn và ngắn hơn so với trường hợp có sự sụt giảm cung dầu mỏ UNESCAP 2005. Trong khi đó, tỷ trọng của dầu trong sản xuất và
tiêu dùng, đặc biệt là ở các nước phát triển, dã giảm tương đối. Hơn nữa, các nước tiêu thụ dầu lớn như Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang tập
trung đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng.
Mặc dù vậy, giá dầu tăng cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định tới sự ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và việc giảm nghèo ở các
nước trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2005 của nhiều nước có lẽ cao hơn nếu giá dầu khơng ở mức quá
cao. Theo đánh giá của UNESCAP 2005, nếu giá dầu ổn định ở mức
20
QTKD tổng hợp 46A
cao hơn hiện tại 10 USD\\thùng, tăng trưởng kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là Philippin, Thái Lan và Singapo sẽ chậm lại đáng kể. Đồng thời,
lạm phát ở các nước đều tăng. Tăng trưởng kinh tế chậm cộng với giá hàng hóa dịch vụ thiết yếu tăng có tác động tiêu cực đến những người
nghèo. Thành tựu xóa đói giảm nghèo ở nhiều nước như Việt Nam, Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. các ngành kinh tế sử dụng nhiều
lao động như nông nghiệp xây dựng, đánh bắt thủy hải sản, v.v. cũng khó phát triển nhanh như trước, và đời sống của người dân đặc biệt là
của người nghèo trở lên khó khăn hơn.

2.2.2. Tác động của tăng giá xăng dầu ở Việt Nam:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Từ năm 2000 đến nay: Thực trạng và những tồn tại:

Tải bản đầy đủ ngay(46 tr)

×