1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
Huy động vốn chủ sở hữu.

Huy động vốn chủ sở hữu.

Tải bản đầy đủ - 72trang

Ngồi ra người ta còn có thể phân loại nguồn vốn của doanh nghiệp theo đặc tính thường xuyên nguồn tài trợ thường xuyên và tính tạm thời nguồn tài
trợ tạm thời song hình thức này khơng phổ biến bằng hai hình thức trên.

1.2.2. Các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp.


Trên cơ sở các nguồn vốn trên, doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có thể sử dụng các phương thức huy động chủ yếu sau.

1.2.2.1. Huy động vốn chủ sở hữu.


Khi một doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một lượng vốn nhất định. Đây là nguồn tài trợ có độ an toàn cao nhất đối với
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời nó là tiêu thức để các chủ nợ thể hiện mức độ tin tưởng và sự đảm bảo an tồn cho các món nợ. Nếu chủ sở
hữu doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh chủ yếu sẽ do các chủ nợ gánh chịu. Như vậy, nguồn vốn
chủ sở hữu cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ nợ vay của doanh nghiệp.
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì vốn chủ sở hữu có nguồn gốc khác nhau:
Đối với doanh nghiệp Nhà nước Nhà nước là chủ sở hữu vốn đầu tư ban đầu là vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước.
Trong doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư ban đầu là vốn của chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp bắt buộc phải có khi thành lập doanh nghiệp, gọi là
vốn pháp định. Tùy từng ngành nghề kinh doanh mà Nhà nước quy định một mức vốn riêng. Chẳng hạn, theo điều 9 khoản 2 Luật doanh nghiệp Tư nhân
1994 quy định: “ Có đủ vốn đầu tư ban đầu phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu không được thấp hơn vốn pháp định do
Chính phủ quy định ”. Đối với Cơng ty cổ phần, nguồn vốn này được biểu hiện dưới hình thức
vốn cổ phần, vốn này do những người sáng lập công ty cổ phần phát hành cổ phiếu để huy động thơng qua việc bán những cổ phiếu đó.
8
Đối với doanh nghiệp liên doanh: vốn đầu tư ban đầu được biểu hiện dưới hình thức vốn liên doanh, vốn này được hình thành do sự đóng góp giữa các chủ
đầu tư hoặc các doanh nghiệp để hình thành một doanh nghiệp mới. Bên cạnh nguồn vốn đầu tư ban đầu, doanh nghiệp có thể bổ sung nguồn
vốn của mình bằng một số phương thức sau: - Huy động nội bộ: Theo phương thức này doanh nghiệp sẽ tăng nguồn vốn
của mình bằng cách trích một phần lợi nhuận thu được trong năm vào quỹ đầu tư phát triển. Để làm được điều này, trước tiên doanh nghiệp phải làm ăn có lãi.
Sau đó, doanh nghiệp có thể giảm tỷ lệ trích lập các quỹ dự phòng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi hoặc thay đổi chính sách phân chia lợi nhuận cho các cổ
đông đối với công ty cổ phần. Đây là một phương thức huy động vốn quan trọng đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thực hiện có đạt hiệu quả hay khơng
còn phụ thuộc vào lợi nhuận thu được và hiệu qủa của việc tái đầu tư. - Phát hành thêm cổ phiếu mới đối với công ty cổ phần: là một phương
thức huy động có hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh của cơng ty cổ phần. Cổ phiếu là chứng khốn
vốn và người nắm giữ cổ phiếu chính là người sở hữu công ty. Tuỳ theo đặc điểm riêng mà các công ty có thể lựa chọn phát hành một trong hai hoặc cả hai
loại cổ phiếu cơ bản sau: Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu thơng dụng nhất vì đặc điểm của nó
đáp ứng được cả hai phía là người đầu tư và phía cơng ty phát hành. Phần lợi tức mà cổ đông nhận được từ việc sở hữu loại cổ phiếu này phụ thuộc vào kết quả
kinh doanh của cơng ty trong từng năm. Các cổ đơng có quyền tham gia vào kiểm soát và điều khiển mọi hoạt động của công ty thông qua việc bỏ phiếu hoặc
chỉ định thành viên ban quản trị. Tuy nhiên, huy động vốn theo phương thức này phải xét đến nguy cơ bị thơn tính. Do đó, phải xét đến tỷ lệ cố phần tối thiểu mà
mỗi cổ đông được phép nắm giữ để duy trì tỷ lệ cân đối về sở hữu công ty. Cổ phiếu ưu tiên: là loại cổ phiếu thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ
trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Cổ phiếu ưu tiên khác với cổ phiếu
9
thường ở chỗ người chủ cổ phiếu này được hưởng một tỷ lệ cổ tức cố định và được thanh tốn lãi trước các cổ đơng thường. Tuy nhiên, những cổ đơng này lại
khơng có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty. Số lượng cổ phiếu phát hành thêm được xác định không chỉ dựa trên nhu
cầu vốn bổ sung của công ty mà còn phụ thuộc vào số cổ phiếu tối đa công ty được phép phát hành và số cổ phiếu đã phát hành trên thị trường. Bên cạnh đó
còn phải xem xét các nhân tố khác đặc biệt là “nhiệt độ” trên thị trường chứng khoán.

1.2.2.2. Huy động vốn từ Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Huy động vốn chủ sở hữu.

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×