1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
Huy động vốn từ Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác.

Huy động vốn từ Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác.

Tải bản đầy đủ - 72trang

thường ở chỗ người chủ cổ phiếu này được hưởng một tỷ lệ cổ tức cố định và được thanh tốn lãi trước các cổ đơng thường. Tuy nhiên, những cổ đơng này lại
khơng có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty. Số lượng cổ phiếu phát hành thêm được xác định không chỉ dựa trên nhu
cầu vốn bổ sung của cơng ty mà còn phụ thuộc vào số cổ phiếu tối đa công ty được phép phát hành và số cổ phiếu đã phát hành trên thị trường. Bên cạnh đó
còn phải xem xét các nhân tố khác đặc biệt là “nhiệt độ” trên thị trường chứng khoán.

1.2.2.2. Huy động vốn từ Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác.


Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp nào có thể hoạt động mà khơng vay vốn ngân hàng. Việc huy động vốn bằng hình thức này
giúp doanh nghiệp tăng khả năng tài trợ các nhu cầu bổ sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện linh hoạt trong việc
thu hẹp quy mơ kinh doanh bằng việc hồn trả các khoản nợ khi đến hạn và giảm số lượng vốn vay.
Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác để đáp ứng cho nhu cầu vốn cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, song phải đáp
ứng được những yêu cầu nhất định của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác như phải có phương án kinh doanh khả thi, phải là đơn vị hạch toán độc lập…
và các yêu cầu về tài sản thế chấp, cầm cố… Trên cơ sở các điều kiện xin vay được thực hiện đầy đủ, ngân hàng sẽ cấp vốn cho doanh nghiệp dưới các hình
thức chủ yếu sau: - Tín dụng hạn mức là một hình thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó doanh nghiệp được phép sử dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai. Chỉ khi nào doanh nghiệp sử
dụng mới được coi là tín dụng cấp phát và mới được tính lãi. - Chiết khấu thương phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn, trong đó doanh
nghiệp chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng
10
để nhận một số tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí. Doanh nghiệp sử dụng hình thức vay vốn này khi có nhu cầu tiền ngay
mà khơng phải đợi đến ngày đáo hạn của thương phiếu. Tuy nhiên việc vay được có thuận lợi hay khơng còn phụ thuộc vào chất lượng của thương phiếu
nên phương thức này không phải lúc nào cũng hiệu quả. - Factoring mua nợ Bao thuê là một dịch vụ do công ty con của ngân
hàng thực hiện, là nghiệp vụ đi mua lại các yêu cầu chi trả của doanh nghiệp để rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó. Thơng thường các u cầu chi
trả ở đây là ngắn hạn. Các công ty mua nợ sẽ chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, thu hồi và chịu rủi ro về các khoản chi trả của các yêu cầu chi trả đó.
Ngồi các hình thức trên, ngân hàng còn cấp vốn cho doanh nghiệp theo các hình thức khác như: tín dụng ứng trước, tín dụng bằng chữ ký…
Riêng trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, ngân hàng thực hiện tài trợ cho các doanh nghiệp thông qua các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu sau:
- Tài trợ vốn lưu động để thu mua, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu theo đúng LC quy định, hợp đồng ngoại thương đã ký kết, đơn đặt hàng. Hình thức
này được tiến hành trước khi giao hàng, thông thường được áp dụng trong trường hợp Ngân hàng tài trợ vừa là Ngân hàng thanh tốn cho LC xuất. Nhà
xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ và được thanh toán tại ngân hàng. Để giám sát và kiểm tra chặt chẽ tình hình sử dụng vốn vay đúng mục đích, thơng thường
Ngân hàng u cầu nhà xuất khẩu phải có một số vốn nhất định cộng thêm với số tiền vay ngân hàng, để thu mua hàng hoá, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu.
Hàng hoá sẽ làm tài sản đảm bảo để tiếp tục vay và được nhập tại kho ngân hàng, hoặc nhập kho mà trước đó ngân hàng và nhà xuất khẩu thoả thuận và
đồng ý dưới sự giám sát của ngân hàng, muốn xuất hàng ra khỏi kho phải có sự đồng ý của ngân hàng.
- Tài trợ vốn trong thanh toán hàng xuất khẩu. Từ lúc giao hàng, nộp bộ chứng từ vào ngân hàng thông báo LC cho đến khi được ghi có trên tài khoản
phải trải qua một khoảng thời gian nhất định để xử lý và luân chuyển chứng từ.
11
Nhà xuất khẩu cần tiền có thể thương lượng bộ chứng từ để chiết khấu hoặc ứng trước tiền tại nhân hàng đã được chỉ định rõ trong LC hoặc ở bất kỳ ngân hàng
nào.. Có hai hình thức chiết khấu là chiết khấu truy đòi ngân hàng sau khi thanh tốn tiền cho nhà xuất khẩu có quyền truy đòi nếu bộ chứng từ khơng được
thanh tốn và chiết khấu miễn truy đòi ngân hàng sau khi thanh tốn tiền cho nhà xuất khẩu khơng có quyền truy đòi nếu bộ chứng từ khơng được thanh
tốn. Trường hợp bộ chứng từ không hội đủ những điều kiện chiết khấu thì nhà xuất khẩu có thể u cầu ngân hàng ứng trước tiền hàng, khoảng 50-60 giá
trị hàng xuất. Hình thức tài trợ này được tiến hành sau khi giao hàng. - Hình thức mở LC thanh tốn hàng nhập khẩu. Hình thức này thể hiện sự
tài trợ của ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu. Trong hình thức này các nhà nhập khẩu phải ký quỹ. Mức ký quỹ sẽ do ngân hàng quyết định trên cơ sở thẩm
định các điều kiện về tài chính của doanh nghiệp, tư cách pháp nhân của mặt hàng nhập khẩu, tài sản thế chấp….
- Cho vay thanh toán bộ chứng từ nhập. Đối với nhà nhập khẩu khi hàng vừa cập bến phải nộp tiền cho ngân hàng để thanh tốn cho nhà xuất khẩu, thì
mới nhận được chứng từ để nhận hàng, bán hàng và thu hồi vốn. Đó là khoảng thời gian khá dài, do đó nhà nhập khẩu cần có sự tài trợ từ ngân hàng. Căn cứ
vào các yếu tố như đảm bảo tín dụng, mức tài trợ, khả năng thu hồi nợ đúng hạn… ngân hàng sẽ quyết định tỷ lệ tài trợ cho lơ hàng nhập. Ví dụ như nếu ký
quỹ trị giá 20 giá trị lơ hàng thì ngân hàng chấp thuận tài trợ 60, lúc này nhà nhập khẩu phải đóng thêm 20 giá trị lơ hàng.
Ngồi ra, ngân hàng còn cấp vốn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông qua các hình thức bảo lãnh và tái bảo lãnh như: bảo lãnh vay vốn bằng
cách phát hành thư bảo lãnh, bảo lãnh bằng cách phát hành LC trả chậm… Nói chung, hiện nay, các hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp được các
ngân hàng sử dụng ngày càng phong phú nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, nguồn vốn vay ngân
hàng có đặc điểm là tương đối nhỏ, thời gian ngắn, thủ tục phức tạp, điều kiện
12
vay chặt chẽ… nên vẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn vay vốn. Do đó thơng thường khi thiếu vốn các doanh nghiệp thường nghĩ đến nguồn vốn tự
có trước khi nghĩ đến ngân hàng.

1.2.2.3. Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu công ty.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Huy động vốn từ Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác.

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×