1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
Huy động vốn qua hình thức tín dụng th mua.

Huy động vốn qua hình thức tín dụng th mua.

Tải bản đầy đủ - 72trang

tài khoản của người mua sang tài khoản của người bán theo thời gian thoả thuận giữu hai bên.
Một công cụ tín dụng thương mại khác được sử dụng rộng rãi trên thương trường là thương phiếu. Thương phiếu là sự cam kết tín dụng của người mua
trước khi hàng hoá được chuyển đến. Trong thương phiếu, người bán ghi rõ số tiền và hạn trả tiền mà người mua phải thực hiện. Sau đó, thương phiếu được gửi
đến ngân hàng của người mua cùng với các hoá đơn chứng từ về việc đã chuyển hàng cho người mua. Có hai loại thương phiếu cơ bản là thương phiếu trả ngay
người bán yêu cầu bên mua trả tiền ngay và thương phiếu có thời hạn người bán khơng u cầu người mua trả tiền ngay. Khi thương phiếu đã được người
mua hứa trả tiền vào một ngày nào đó trong tương lai thì nó được gọi là chấp nhận thương mại. Người mua sẽ gửi chấp nhận thương mại lại cho người bán.
Người bán có thể giữ chấp nhận thương mại để đợi đến ngày lấy tiền hoặc cũng có thể bán nó cho một người khác hoặc đến chiết khấu ở ngân hàng thương mại
trong những trường hợp cần thiết. Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng hợp đồng bán hàng có điều kiện như là
một cơng cụ tín dụng thương mại. Hợp đồng này đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì quyền sở hữu hợp pháp hàng hố của mình cho đến khi người mua trả hết
tiền. Các hợp đồng bán hàng hố có điều kiện thường được trả làm nhiều lần và mỗi lần đều có một chi phí lãi suất tương ứng trong mỗi lần chi trả.

1.2.2.4. Huy động vốn qua hình thức tín dụng th mua.


Tín dụng th mua là hình thức tín dụng trung và dài hạn, được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, các động sản và bất động sản khác.
Theo hình thức này, người cho thuê chủ sở hữu tài sản sẽ chuyển giao tài sản cho người đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định thời gian này được
ghi trong hợp đồng. Để đổi lại, người đi thuê phải trả cho cho chủ sở hữu một khoản tiền thuê tưng xứng với quyền sử dụng.Trong quá trình thuê, người đi
thuê nhận lấy gần như toàn bộ trách nhiệm về quyền sở hữu bao gồm việc bảo quản tài sản, chi trả tất cả các khoản thuế và bảo hiểm tài sản. Khi kết thúc thời
16
hạn thuê, bên thuê được quyền chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo những điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng.
Trong trường hợp người th khơng có ý định mua lại tài sản sau thời gian thuê và chỉ sử dụng tài sản đó trong một thời hạn đã định, thời gian thuê thường
rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản. Người đi thuê chỉ phải trả một khoản tiền thuê theo thoả thuận còn người cho th phải chịu mọi
chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo hiểm, thuế tài sản… cùng với mọi rủi ro về hao mòn vơ hình của tài sản. Hình thức này hồn tồn phù hợp với
những hoạt động mang tính chất thời vụ của doanh nghiệp. Còn đối với trường hợp người thuê mua lại tài sản đã thuê, thời gian thuê
thường rất dài và chiếm phần lớn đời sống hữu ích của tài sản. Hết giai đoạn thuê thoả thuận trong hợp đồng, người cho thuê thường uỷ qyuền cho người thuê
làm đại lý bán tài sản. Nếu người thuê quản lý, sử dụng tài sản tốt thì giá trị thực tế của tài sản có thể lớn hơn nhiều so với giá trị còn lại của tài sản dự kiến trong
hợp đồng. Họ có thể mua lại hoặc có thể bán được với giá cao hơn để hưởng phần chênh lệch.
Hình thức này tuy không trực tiếp cấp vốn cho các doanh nghiệp nhưng đã gián tiếp trợ giúp doanh nghiệp về mặt tài chính để các doanh nghiệp trang bị
máy móc thiết bị đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đây là hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn rất mới mẻ đối với nước ta, do đó việc
nhanh chóng triển khai các điều kiện về pháp lý, hoàn thiện cơ chế nghiệp vụ thuê mua, xác lập và mở rộng đối tượng tài sản thuê mua, khách hàng thuê
mua… là việc làm cần thiết nhằm tăng cường nguồn tài trợ cho các doanh nghiệp hiện nay.
1.2.2.6. Huy động vốn từ việc liên doanh liên kết. Khi muốn thực hiện một dự án nào đó mà khơng có đủ vốn hoặc khơng
muốn bỏ tồn bộ vốn vào đó, doanh nghiệp có thể kêu gọi vốn liên doanh từ bên ngoài. Đây là hình thức huy động vốn trung và dài hạn phổ biến trong nền kinh
17
tế thị trường. Doanh nghiệp có thể chọn một trong hai hình thức liên doanh sau đây:
- Cùng đối tác thành lập một pháp nhân kinh doanh mà vốn thành lập là số vốn góp của mỗi bên. Các bên góp vốn liên doanh có thể dùng một phần tài sản
hoặc toàn bộ tài sản của mình để góp vốn. - Các bên ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, khơng hình thành một pháp
nhân mà trách nhiệm và quyền hạn của các bên chỉ giới hạn trong hợp đồng đã ký kết.
Đối với cả hai hình thức trên, các bên tham gia liên doanh được chia lãi hoặc chịu lỗ nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp. Các bên liên doanh còn có
quyền rút vốn của mình và trong nhiều trường hợp có thể làm liên doanh tan rã. Doanh nghiệp có thể liên doanh với các loại hình doanh nghiệp khác nhau
như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hoặc với các cơng ty nước ngồi… Với hình thức này, doanh nghiệp không chỉ huy động đủ vốn cho hoạt
động kinh doanh của mình mà còn thu hút được công nghệ mới hoặc kinh nghiệm của đối tác, đồng thời chia sẻ được rủi ro trong kinh doanh, song nếu
doanh nghiệp quá yếu kém thì rất dễ bị lợi dụng và thiệt hại khi dự án đổ vỡ.
1.2.2.7. Huy động vốn từ một số nguồn khác. Trong hoạt động thực tế, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nội bộ
doanh nghiệp, gồm các khoản phải nộp và phải trả cho công nhân viên. Nguồn vốn này tuy không lớn nhưng trong nhiều trường hợp nó giúp doanh nghiệp giải
quyết được những nhu cầu vốn có tính có tính chất tạm thời. Ngồi ra, doanh nghiệp còn có thể tận dụng các nguồn vốn nhàn rỗi khác
như các khoản phải nộp cho nhà nước nhưng chưa nộp, các khoản phải trả cho các đơn vị nội bộ nhưng chưa trả, các khoản chi phí trích trước… Các nguồn
này sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu vốn của doanh nghiệp, tuy nhiên nó chỉ trong thời gian ngắn và khơng ổn định. Do đó các doanh nghiệp thường chỉ coi
nguồn vốn này như một nguồn mang tính chất bổ sung chứ khơng phải là một trong những nguồn tài trợ chính.
18
Trên đây là những hình thức cơ bản mà các doanh nghiệp có thể sử dụng để huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuỳ thuộc vào các
đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một hình thức huy động riêng. Tuy nhiên dù có lựa chọn hình thức nào, doanh nghiệp cũng phải xem xét
các nhân tố có thể gây ảnh hưởng đến quá trình huy động để có thể hạn chế được những tác động tiêu cực đồng thời tận dụng được những ưu thế mà chúng
tạo ra. Phần tiếp theo sẽ trình bày về những nhân tố này.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng huy động vốn của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố, cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
1.3.1. Nhân tố chủ quan. 1.3.1.1. Chi phí vốn, cơ cấu vốn của doanh nghiệp.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Huy động vốn qua hình thức tín dụng th mua.

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×