1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
Tỷ lệ bị chiếm dụng vốn ngày càng giảm.

Tỷ lệ bị chiếm dụng vốn ngày càng giảm.

Tải bản đầy đủ - 72trang

Bên cạnh đó, việc dùng các nguồn vốn này còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp linh động hơn trong việc mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh bằng
cách đơn giản là giảm vay vốn ngân hàng hoặc chỉ nhận tiền ứng trước để cung cấp hàng hoá cho những bạn hàng truyền thống. Hoạt động kinh doanh của
Cơng ty cũng an tồn hơn do khơng phải đối mặt với nguy cơ khách hàng khơng thanh tốn tiền hàng đã mua.

2.3.1.3. Tỷ lệ bị chiếm dụng vốn ngày càng giảm.


Theo phân tích từ bảng 3 ta thấy, trong những năm gần đây, Công ty đã khắc phục được tình trạng bị chiếm dụng vốn. Điều này được chứng minh thơng
qua sự giảm đi một cách nhanh chóng các khoản phải thu của khách hàng. Năm 1998, khoản phải thu của khách hàng bằng 23177.069 triệu đồng nhưng đến
năm 1999 con số này chỉ còn 7543.968 triệu, tức là giảm đi gần 68 so với năm 1998. Sang năm 2000, chỉ tiêu này có tăng hơn so với năm 99 nhưng tỷ lệ tăng
không nhiều, khoảng 18 . Sự biến đổi mang tính tích cực này đã giúp Cơng ty thu hồi vốn nhanh,
tránh được tình trạng nợ đọng dây dưa và nhờ đó tăng nhanh được vòng quay vốn lưu động.
Bảng 11. Vòng quay vốn lưu động
Đơn vị: Triệu đồng. Chỉ tiêu
Năm 1998 Năm 1999
Năm 2000 1. Doanh thu thuần
143587.069 135601.61
159604.051 2. Vốn lưu động
29400.891 26823.659
30697.543 3.Vòng quay vốn lưu động=12
4.88 5.055
5.199 Nguồn: Công ty xuất nhập khẩu Hai Bà Trưng.
Theo tính tốn ở trên, ta thấy vòng quay vốn lưu động tăng dần trong ba năm. Năm 1998 vốn của Cơng ty quay được 4.88 vòng, đến năm 1999 tăng lên
là 5.055 vòng và năm 2000, chỉ tiêu này đạt 5.199 vòng. Đây là một dấu hiệu rất khả quan về tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty, thể hiện khả năng thu
hồi vốn kinh doanh và đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ trên cơ sở mở rộng được ngành nghề kinh doanh và nắm bắt được cơ hội thị trường.
50
Song song với việc giảm tỷ lệ bị chiếm dụng vốn, Công ty còn tăng được tỷ lệ chiếm dụng vốn do sự gia tăng của các khoản phải trả người bán và người
mua ứng trước. Đây là những ưu điểm mà Công ty cần tiếp tục phát huy trong những năm tới.
Công ty đạt được những kết quả này là do một số nguyên nhân sau: Trong thời gian qua, thị trường có nhiều biến động phức tạp, cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ ở các nước Đông-Nam Á làm đồng tiền mất giá… ảnh hưởng khơng nhỏ đến tình hình kinh doanh của những doanh nghiệp, đặc biệt là
những doanh nghiệp thương mại như Công ty xuất nhập khẩu Hai Bà Trưng. Song do Nhà nước đã tiến hành các giải pháp hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực
của khủng hoảng … nên tỷ giá hối đoái của Việt Nam dao động khơng đáng kể, có tác động tích cực đến xuất nhập khẩu. Thêm vào đó việc Việt Nam tham gia
vào APEC và trở thành thành viên chính thức của ASEAN đã tạo điều kiện cho Công ty mở rộng thị trường của mình sang nhiều nước trong khu vực, đẩy mạnh
hoạt động kinh doanh, có thêm nhiều bạn hàng nước ngồi hợp tác kinh doanh. Về phía Cơng ty, trong những năm qua, nhờ sự năng động trong quản lý và
sự nhạy bén trong kinh doanh, đã khai thác được nhiều mặt hàng mới phù hợp với nhu cầu của thị trường, mở rộng quan hệ với những bạn hàng mới … nên
tình hình kinh doanh khá ổn định và phát triển. Trên cơ sở đó, ngày càng có nhiều bạn hàng trong và ngoài nước tin tưởng, ký kết các hợp đồng giao dịch và
tạo điều kiện cung ứng vốn cho Công ty. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, Cơng ty vẫn gặp rất nhiều khó khăn
dẫn đến khả năng huy động vốn có nhiều hạn chế.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân. 2.3.2.1. Chưa đa dạng hố các hình thức huy động.
Như đã phân tích ở trên, hiện nay nguồn vốn của Cơng ty hình thành từ bốn nguồn chính là vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng, các khoản phải trả
người bán và người mua ứng trước, trong đó nguồn vốn vay ngân hàng có tỷ trọng ngày càng giảm còn các khoản phải trả người bán và người mua ứng trước
51
có xu hướng ngày càng tăng. Một cơ cấu vốn như vậy có ưu điểm là chi phí sử dụng tương đối thấp, trên cơ sở đó tiết kiệm được chi phí kinh doanh, góp phần
nâng cao lợi nhuận của Cơng ty.Tuy nhiên, ngồi những nguồn này, Cơng ty có thể sử dụng thêm những hình thức huy động khác như phát hành trái phiếu, sử
dụng các hình thức tín dụng th mua, liên doanh liên kết… để làm dồi dào hơn nguồn vốn của mình. Việc sử dụng cơ cấu vốn như hiện nay tuy tiết kiệm được
chi phí kinh doanh song lại đẩy Cơng ty vào tình trạng bị động, phụ thuộc nhiều vào các đối tác kinh doanh. Trong trường hợp họ làm ăn tốt, tin tưởng hợp tác
với Cơng ty thì khơng có vấn đề gì xảy ra và Công ty vẫn đủ vốn để hoạt động. Song nếu họ gặp rủi ro trong kinh doanh, hoặc được mời chào bởi những mối
làm ăn béo bở hơn và rút vốn thì kế hoạch tài trợ của Cơng ty sẽ bị khủng hoảng. Do đó, việc đa dạng hố các hình thức huy động là một trong những giải
pháp tối ưu đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của Cơng ty trong mọi tình huống phức tạp của thị trường, giúp Công ty chủ động hơn và khơng bỏ
lỡ các cơ hội đầu tư. Cơng ty có thể đa dạng hố nguồn tài trợ của mình bằng cách tăng nguồn
vốn kinh doanh thông qua việc liên doanh liên kết, hợp tác kinh doanh hoặc sử dụng các hình thức tín dụng th mua. Hiện nay ở nước ta đã có một số doanh
nghiệp quốc doanh triển khai hình thức tín dụng th mua và coi đây là hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn rất hiệu quả. Thực hiện liên doanh liên kết cũng
là một phương thức tốt để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của Cơng ty. Khi sử dụng hình thức này Cơng ty có thể tận dụng được lợi thế của bên liên doanh
trong một số lĩnh vực cụ thể. Ví dụ như Cơng ty có thể liên doanh với một doanh nghiệp nước ngồi trong đó phía nước ngồi sẽ chịu trách nhiệm khai
thác và tiêu thụ hàng hoá tại lãnh thổ nước đó hoặc khu vực đó. Như vậy, Cơng ty khơng những tăng thêm vốn mà còn tận dụng được lợi thế về mặt thị trường
lãnh thổ. Công ty cũng có thể kêu gọi vốn từ cơng nhân viên trong chính Cơng ty vì
nguồn vốn này là hồn tồn khơng có rủi ro. Từ trước đến nay Cơng ty đã thực
52
hiện phương thức này tuy nhiên ở mức độ thấp và cũng mới chỉ thực hiện được từ năm 1999. Việc sử dụng nguồn vốn này giúp Công ty chủ động hơn trong
kinh doanh đồng thời do có một phần vốn-phần lợi ích cụ thể của mình trong Công ty nên các cán bộ công nhân viên làm việc có trách nhiệm và gắn bó với
Cơng ty hơn. Ngồi ra, Cơng ty có thể tìm kiếm nguồn vốn vay nước ngoài khi cần
những nguồn tài trợ cho những thương vụ cực lớn mà hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp khác sử dụng như vốn ODA hay WB…

2.3.2.2. Cơ cấu vốn mất cân đối.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tỷ lệ bị chiếm dụng vốn ngày càng giảm.

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×