1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
Cơ cấu vốn mất cân đối.

Cơ cấu vốn mất cân đối.

Tải bản đầy đủ - 72trang

hiện phương thức này tuy nhiên ở mức độ thấp và cũng mới chỉ thực hiện được từ năm 1999. Việc sử dụng nguồn vốn này giúp Công ty chủ động hơn trong
kinh doanh đồng thời do có một phần vốn-phần lợi ích cụ thể của mình trong Cơng ty nên các cán bộ cơng nhân viên làm việc có trách nhiệm và gắn bó với
Cơng ty hơn. Ngồi ra, Cơng ty có thể tìm kiếm nguồn vốn vay nước ngoài khi cần
những nguồn tài trợ cho những thương vụ cực lớn mà hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp khác sử dụng như vốn ODA hay WB…

2.3.2.2. Cơ cấu vốn mất cân đối.


Khi xây dựng các kế hoạch tài trợ cho hoạt động kinh doanh, mỗi một doanh nghiệp đều muốn đạt được một cơ cấu vốn tối ưu - tức là một tỷ lệ hợp lý
giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm hướng tới sự cân bằng giữa rủi ro và lãi suất, và nhờ đó tối đa hố giá trị chủ sở hữu.
Thơng thường khi doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ, rủi ro kinh doanh cao hơn song tỷ lệ lợi tức mong đợi cũng cao hơn. Ngược lại, việc sử dụng nhiều
vốn chủ sở hữu đem lại lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn nhưng đổi lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lại an toàn hơn.
Tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau: như rủi ro kinh doanh của Công ty, thuế thu nhập doanh nghiệp, khả năng linh hoạt tài chính và ý kiến chủ quan
của các nhà quản lý mà mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn một cơ cấu vốn khác nhau. Nói chung các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích một tỷ lệ nợ cao vì họ
muốn lợi nhuận tăng nhanh và khơng phải chia sẻ quyền kiểm sốt Cơng ty mà vẫn đảm bảo được nguồn vốn cho nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của
mình. Song , nếu tỷ lệ nợ quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh tốn.
Quay lại trường hợp của Công ty xuất nhập khẩu Hai Bà Trưng chúng ta thấy, nguồn vốn được hình thành từ nợ chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng
nguồn. Năm 1998, nguồn vốn có nguồn gốc từ nợ chiếm 85.984 tổng nguồn, tương đương 27086.965 triệu đồng trong khi nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm
53
14.016 bằng 4415.436 triệu. Năm 1999 con số này là 84.693 nợ và 15.36 vốn chủ sở hữu. Năm 2000 là năm tỷ lệ nợ trong tổng nguồn chiếm tỷ trọng cao
nhất, chiếm tới 86.566.
10 20
30 40
50 60
70 80
90 100
Tỷ trọng
Năm 1998 Năm 1999
Năm 2000
Năm
Cơ cÊu ngn vèn
Vèn CSH Nỵ
Như đã phân tích ở trên, rõ ràng là với một tỷ lệ nợ khá cao như hiện nay, hoạt động kinh doanh của Công ty chứa đựng nhiều rủi ro hơn, Công ty dễ rơi vào
tình trạng mất khả năng thanh tốn khi có những biến động bất lợi của thị trường hay vì một lý do nào đó mà các chủ nợ đồng thời muốn rút vốn kinh doanh.
Thêm vào đó, với một tỷ lệ nợ q cao, Cơng ty khó có thể huy động tiền vay để tiến hành sản xuất kinh doanh trong thời gian tới. Đây là một vấn đề mà Cơng ty
cần phải xem xét và tìm biện pháp điều chỉnh để đảm bảo giữ vững khả năng thanh toán và củng cố uy tín của mình.
Ngun nhân của tình hình trên bắt nguồn từ cả nhân tố chủ quan và khách quan.
Về phía Cơng ty, trong một vài năm trở lại đây do nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh, Cơng ty đã thực hiện tìm hiểu, xâm nhập vào những thị trường
mới, xây dựng những mối quan hệ làm ăn mới với các bạn hàng trong và ngồi nước. Đây là cơng việc tốn rất nhiều chi phí. Thêm vào đó, Cơng ty lại mới xây
thêm trụ sở tại 142 Phố Huế để đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng tăng cho nên mặc dù hoạt động kinh doanh tiến hành khá thuận lợi, nguồn vốn chủ sở
54
hữu của Công ty không những không được bổ sung mà Cơng ty còn phải vay thêm vốn ngân hàng, đặc biệt là trong năm 1998.
Nếu xét một cách khách quan, nguồn vốn ngân sách mà Công ty được nhà nước cấp quá nhỏ so với nhu cầu vốn lưu động, đặc biệt là khi hoạt động kinh
doanh ngày càng phát triển, nhà nước không thực hiện cấp vốn bổ sung mà doanh nghiệp phải tự tìm kiếm các nguồn tài trợ. Để duy trì hoạt động kinh
doanh của mình, Cơng ty phải trơng chờ vào các nguồn vốn vay, do đó dẫn đến một thực tế là vốn tín dụng khơng còn là vốn bổ sung mà chiếm một tỷ trọng lớn
trong tổng nguồn. Ngồi ra, Cơng ty còn chịu ảnh hưởng từ các chính sách của nhà nước, giới
hạn về nguồn vốn được phép huy động, các mặt hàng được phép kinh doanh…, thủ tục vay vốn từ ngân hàng cũng như từ nội bộ nền kinh tế như các quy định
để được phép phát hành trái phiếu, cổ phiếu…và nhiều những nhân tố khách quan khác nữa mà Cơng ty đã gặp khó khăn trong vấn đề huy động vốn.
55

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI


CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU HAI BÀ TRƯNG.
3.1. NHU CẦU VỐN CỦA CÔNG TY XNK HBT TRONG THỜI GIAN TỚI.

3.1.1. Định hướng hoạt động kinh doanh của Công ty.


Căn cứ vào mục tiêu chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội của nước ta và xu hướng tồn cầu hố nền kinh tế thế giới như hiện nay, Đảng và
Nhà nước ta đã chỉ rõ: phương hướng phát triển kinh tế đối ngoại thời kỳ 1996 – 2010 của Việt Nam là tiếp tục mở rộng hoạt động ngoại thương theo hướng đa
dạng hoá, đa phương hố, tích cực hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Tuy nhiên, khi chấp nhận hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới
là chấp nhận xu hướng hợp tác trong cạnh tranh gay gắt. Đây vừa là thời cơ vừa là thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu phải tìm kiếm các giải pháp thích hợp nhằm hồn thiện, tăng cường hoạt động kinh doanh của mình.
Nhận thức được điều đó, để hội nhập với xu hướng phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao khả năng cạnh tranh và không ngừng phát triển, Công ty xuất
nhập khẩu Hai Bà Trưng đã xây dựng cho mình một số phương hướng hoạt động như sau:

3.1.1.1. Mục tiêu hoạt động của Công ty trong những năm sắp tới:


- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước xu hướng ngày càng gia
tăng nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
56

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ cấu vốn mất cân đối.

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×