1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
Sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu qủa.

Sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu qủa.

Tải bản đầy đủ - 72trang

Hiện nay Nhà nước đã cho phép các doanh nghiệp nhà nước được quyền huy động vốn thơng qua hình thức phát hành cổ phiếu và bỏ mức khống chế vốn
huy động tại điều 11 của Nghị số 59CP. Đây là một bước tiến không chỉ trong việc giải quyết nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn nâng cao
hiệu quả cơng tác quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước. Đối với Cơng ty, việc cổ phần hố sẽ khắc phục được tình trạng cơ cấu vốn
bất hợp lý hiện nay. Thêm vào đó, khi chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước sang Cơng ty cổ phần, người lao động khi có cổ phần trở thành những người chủ đích
thực, có quyền hạn, trách nhiệm, lợi ích cụ thể, từ đó họ gắn bó với Cơng ty hơn. Chính điều này sẽ tạo điều kiện cho Cơng ty khắc phục được khó khăn về vốn,
về cải tiến kỹ thuật, việc làm, năng suất chất lượng và hiệu quả kinh doanh. Có nhiều hình thức cổ phần hố mà doanh nghiệp có thể áp dụng như cổ
phần hố 100 hoặc chuyển tồn bộ vốn tài sản bán cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị và ngoài doanh nghiệp, bán cho người nước ngồi như là hình thức
đầu tư trực tiếp 100 vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam… Với đặc điểm kinh doanh và tình hình tài chính như hiện nay, Cơng ty có thể lựa chọn hình
thức cổ phần hố trong đó Nhà nước giữ lại một tỷ lệ cổ phần nhất định, còn đại bộ phận cổ phần sẽ bán cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp bằng
một phần nguồn quỹ phúc lợi được chia theo thời gian đóng góp của từng người cùng với nguồn tiền đóng góp thêm của họ. Số còn lại bán cho các đối tượng
bên ngoài. Tuy nhiên, để tiến trình cổ phần hố tiến hành được thuận lợi, Cơng ty cần
phải nghiên cứu các quy định cụ thể có liên quan đến cổ phần hoá như: mức khống chế mua cổ phần đối với lãnh đạo doanh nghiệp, chế độ ưu đãi đối với
người lao động, chế độ xử lý các khoản nợ dây dưa… hiện vẫn còn là những cản trở đối với quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp.

3.2.4. Sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu qủa.


Bên cạnh mục tiêu huy động đủ vốn cho hoạt động kinh doanh, Công ty cũng cần phải sử dụng nguồn vốn hiện có tiết kiệm và có hiệu quả. Trong đó,
62
quan trọng nhất là sử dụng vốn lưu động một cách triệt để và có hiệu quả. Trong những năm vừa qua, mặc dù Công ty đã đạt được tốc độ lưu chuyển vốn lưu
động, song để tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, làm lượng vốn tăng lên, Công ty cần tiếp tục thực hiện các biện pháp như: tổ chưc tốt công tác
vận chuyển và tiêu thụ để giảm số lượng hàng tồn kho, nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu khách hàng, tránh để tình trạng nợ đọng dây dưa…
Ngồi ra, Cơng ty cần quan tâm đến việc tiết kiệm đến mức có thể các chi phí phát sinh trong q trình kinh doanh như chi phí mua hàng, chi phí dự trữ,
chi phí bán hàng… Chẳng hạn như khi mua hàng, Cơng ty nên tham khảo tồn diện giá cũng như điều kiện mua hàng từ nhiều nhà cung cấp khác nhau để chọn
được nhà cung cấp có nhiều ưu đãi nhất. Cơng ty cũng nên chịu khó tìm kiếm những nguồn hàng mới, rẻ, mua tận gốc bán tận ngon để kiết kiệm được chi phí
trung gian, nhờ đó giảm được chi phí kinh doanh. Nói chung, vấn đề cốt lõi để quản lý và sử dụng tốt nguồn vốn là hoạt động
kinh doanh của Công ty phải thực sự hiệu quả, có lợi nhuận, có tích luỹ. Muốn vậy, Cơng ty phải tự đành giá mình về khả năng cạnh tranh, nguồn lực của
doanh nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch kinh doanh cho phù hợp. Song song với việc thực hiện các kế hoạch đề ra một cách chính xác, hiệu quả, Cơng ty cũng
nên nhanh chóng hình thành ban kiểm sốt, kiểm toán nội bộ để giúp doanh nghiệp kịp thời phát hiện những sai sót về sử dụng vốn trong qua trình hoạt
động; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể trong việc đi vay, sử dụng vốn vay và trả nợ quy định cả về vật chất lẫn hành chính.
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.
3.3.1. Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn thông qua tín dụng xuất nhập khẩu.
Vốn bỏ ra cho việc sản xuất và thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu là rất lớn. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu với khả năng tài chính có hạn, vì thế
khơng phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh tốn hàng nhập khẩu hoặc đủ vốn để thu mua chế biến hàng hàng xuất khẩu. Thêm vào đó, quan hệ giao thương
63
quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, đôi khi phức tạp, nên những nghiệp vụ thương mại đòi hỏi nhất thiết phải có sự tham gia của ngân hàng. Sự trợ giúp
của ngân hàng lúc này không chỉ đem lại cho các nhà hoạt động ngoại thương sự hiểu biết về kỹ thuật mà còn là chỗ dựa tài chính trong hoạt động kinh doanh.
Thơng thường Nhà nước có thể giúp đỡ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu dưới hai hình thức:
- Nhà nước trực tiếp cho nước ngoài vay tiền với lãi suất ưu đãi để nước vay sử dụng số tiền đó mua hàng của các doanh nghiệp nước mình. Nguồn vốn
vay thường lấy từ ngân sách Nhà nước và kèm theo các điều kiện kinh tế và chính trị có lợi.
- Nhà nước cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước. Đây là hình thức tài trợ vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện
được những thương vụ lớn, tạo được lợi thế trong quá trình đàm phán, giao dịch với các bạn hàng nước ngoài và nhờ đó tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị
trường quốc tế. Nhà nước thường hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu bằng cách cấp tín dụng ngắn hạn trong giai đoạn trước hoặc sau khi giao nhận
hàng hoặc thực hiện các hình thức bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh để các doanh nghiệp này vay vốn của các tổ chức, các ngân hàng nước ngoài.
Đối với điều kiện của nước ta hiện nay, Nhà nước cấp tín dụng cho người xuất khẩu trong nước là hợp lý hơn, khắc phục được tình trạng thiếu vốn của các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Nói chung nguồn vốn ngân hàng là nguồn vốn được các doanh nghiệp rất
quan tâm, đặc biệt là các doanh nghiệp thương mại có nhu cầu vốn trong thời gian ngắn và khá linh động như Cơng ty xuất nhập khẩu Hai Bà Trưng. Do đó,
Nhà nước phải tạo môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi để các ngân hàng thực hiện nhiệm vụ là cầu nối – cung tiền tệ cho các doanh nghiệp. Để làm được
điều này, cần phải tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của ngân hàng, vừa hạn chế thủ tục phiền hà, chồng chéo tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn
được nhanh chóng, kịp thời kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn đồng vốn khi cho
64
vay. Ngân hàng cũng nên xem xét tính hợp lý về thời gian và mức lãi suất cho vay cho phù hợp với từng mặt hàng, ngành hàng và vòng chu chuyển của từng
loại hàng hoá đồng thời cũng nên nâng tỷ lệ khoản vay vốn trung và dài hạn, nhất là đối với một số mặt hàng xuất khẩu chiến lược, có thời gian chu chuyển
dài.

3.3.2. Nhà nước đảm bảo tín dụng xuất khẩu.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu qủa.

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×