1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 91 (trang)
Đại học, cao

Đại học, cao

Tải bản đầy đủ - 91trang

Biểu 2.3: Quy mô tuyển mới ở tất cả các cấp giai đoạn 2001-2007 nghìn người.
2001 2002
2003 2004
2005 2006
2007 I.Quy mô
tuyển mới
1. Tuyển
mới dạy nghề
887,3 1.005,0
1.074,1 1.153,0
1.181,0 1.375,8
1.602.8

2. Tuyển mới


THCN 148
166 194
250 267
320 384

3. Tuyển mới ĐH


và CĐ 250
282 300
320 346
387 434

4. Tuyển mới sau


đại học 5,9
8,8 11,5
14,5 15,6

16.8 18.2


II.Quy mô sinh
viên 1. Trung
học, chuyên
nghiệp 271,2
389,3 360,4
465,3 535,5
855,5 1.239,5

2. Đại học, cao


đẳng 974,1
1.020,7 1.131,0
1.319,8 1.430,6
1.817,6 2.251,6
Nguồn: Bộ KH và ĐT , Niên giám thống kê Bên cạnh tăng nhanh số lượng, để đáp ững yêu cầu tìm kiếm việc làm
của người lao động và nhu cầu thực tế phát triển kinh tế, xã hội, cơ cấu đào tạo theo trình độ đào tạo và theo ngành nghề đào tạo được đổi mới theo
hướng tăng nhanh hơn quy mô dạy nghề và từng bước điều chỉnh tăng quy
Phạm Anh Sơn Kế hoạch 46A
mô đào tạo các ngành nghề công nghệ, kỹ thuật và nông nghiệp. Đáng chú ý là sự chuyển biến có tính nhảy vọt trong đào tạo nghề:
Về quy mô và cơ cấu đào tạo nghề.
- Ngày càng có nhiều người học nghề, tốc độ tăng hàng năm là 6.5.Với kết quả này, đến cuối năm 2007, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề khoảng 25.
Năm 2002, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 482002QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường dạy nghề đến năm 2010. Trên cơ sở
đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương kiện toàn hệ thống dạy nghề, thành lập thêm nhiều cơ sở dạy
nghề, đặc biệt là cơ sở dạy nghề gắn với địa bàn dân cư, đào tạo theo các ngành nghề phù hợp với nhu cầu lao động của địa phương; phát triển cơ sở
dạy nghề tư nhân, dạy nghề tại các doanh nghiệp, kèm cặp, truyền nghề tại làng nghề. Cho đến cuối năm 2007 đã thành lập mới hơn 100 trường dạy
nghề, trong đó có 20 trường thuộc Bộ, ngành, 10 trường thuộc Tổng công ty, 40 trường công lập địa phương và còn lại là ngồi cơng lập. Xố tình trạng
các tỉnh trắng trường nghề ở các địa phương. - Củng cố và đầu tư nâng cao năng lực các trung tâm dạy nghề: thành
lập mới 288 trung tâm dạy nghề, cho đến nay số lượng trung tâm dạy nghề trên cả nước là trên 400 trung tâm.
- Phát triển các lớp dạy nghề trong các trường cao đẳng – trung học chuyên nghiệp, doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân và các
làng nghề. Hiện nay có trên 200 trường cao đẳng và THCN tham gia đào tạo nghề và hàng trăm cơ sở dạy nghề khác.
Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển đa dạng, từng bước dáp ứng nhu cầu lao động có nghề cho thị trường lao động, nhất là lao động có kỹ thuật
cao cung cấp cho các ngành kinh tế mũi nhọn. Đồng thời, mở rộng quy mô dạy nghề ngắn hạn cho người lao động, nhất là lao động nông nghiệp, nông
Phạm Anh Sơn Kế hoạch 46A
thôn, người dân tộc thiểu số, bộ đội xuất ngũ, góp phần thúc đẩy chuyển dich cơ cấu lao động, thực hiện công bằng xã hội trong dạy nghề.
Như vậy, đến nay tất cả các địa phương đều đã có trường dạy nghề; hệ thống các truờng dạy nghề quân đội và ở một số ngành kinh tế như đóng tàu,
gốm sử, xi măng phát triển mạnh; số lượng cơ sở dạy nghê ngồi cơng lập tăng mạnh; mạng lưới trung tâm dạy nghề cấp huyện từng bước đáp ứng được
nhu cầu học nghề của lao động nơng thơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm và xoá đói giảm nghèo.
Về nâng cao chất lượng và hiệu quả.
Chất lượng dạy nghề trong những năm qua đã có bước chuyển dịch tích cực nhằm gắn kết hiệu quả hơn với quá trình giải quyết việc làm. Tuy nhiên
nhìn chung chất lượng dạy nghề còn chưa sát với nhu cầu thực tế và chưa thể dáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.

2.2. Chính sách về phát triển thị trường lao động.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đại học, cao

Tải bản đầy đủ ngay(91 tr)

×