1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 91 (trang)
Đánh giá chung về tạo việc làm ở Việt Nam.

Đánh giá chung về tạo việc làm ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ - 91trang

do Sở Lao động – Thương binh – Xã hội chỉ định để chuyển sang làm các công việc khác cho phù hợp. Thông tư số 192004TT-BLĐTBXH ngày
22112004 về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 412002NĐ- CP ngày 1142002 của chính sách đối với lao động dơi dư do sắp xếp lại
doanh nghiệp nhà nước đã được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 1552004NĐ-CP ngày 1082004 của Chính phủ.
+ Dịch vụ việc làm. Với hệ thống hơn 200 Trung tâm giới thiệu việc làm của Nhà nước trong
cả nước, hàng năm tư vấn nghề, tư vấn việc làm cho trên 60 vạn lượt người lao động, giới thiệu cung ứng lao động cho gần 50 vạn lao động, trong đó có
cả người thất nghiệp. Kể từ năm 2000, hàng trăm trung tâm dịch vụ việc làm tư nhân đã được thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp đã tham gia
cung cấp các dịch vụ việc làm cho người lao động. + Hỗ trợ cho vay vốn để giải quyết việc làm.
Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cung cấp các khoản vay lãi suất ưu đãi để người lao động tự tạo việc làm và hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp. Hàng năm, Quỹ
này đã tạo việc làm cho từ 30-35 vạn lao động, trong đó có người thất nghiệp, người mất việc làm.
Ngoài ra người thất nghiệp có thể tham gia vào các chương trình tín dụng, hỗ trợ việc làm của các tổ chức phi chính phủ, của các tổ chức chính trị
- xã hội.

3. Đánh giá chung về tạo việc làm ở Việt Nam.


Lao động, việc làm là một trong những lĩnh vực quan trọng đối với mỗi quốc gia bởi con người vừa là nguồn lực, vừa là mục tiêu của phát triển kinh
tế - xã hội. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam, giải quyết việc làm cho ngưòi lao động và phát triển thị
trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,
Phạm Anh Sơn Kế hoạch 46A
góp phần tích cức vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới.
- Các cơ chế, chính sách về lao động-việc làm được kịp thời đánh giá, bổ sung và sửa đổi đảm bảo ngày càng thơng thống, phù hợp với cơ chế thị
trường và hội nhập, đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và tuân thủ các quy luật kinh tế thị trường.
- Vai trò của Nhà nước chuyển từ tạo việc làm trực tiếp sang gián tiếp thông qua các chính sách, nguồn lực hỗ trợ, đặc biệt thơng qua Chương trình
mục tiêu Quốc gia về việc làm. Trong những năm qua, Chương trình đã có sự lồng ghép hiệu quả với các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác, thực
hiện các dự án về tín dụng việc làm với lãi suất ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, gắn
dạy nghề với tạo việc làm, thúc đẩy thị trường lao động phát triển. - Không chỉ thúc đẩy phát triển cung, cầu lao động,thực hiện chủ trương
của Đảng về phát triển thị trường lao động, Nhà nước ban hành nhiều chính sách khuyến khích tạo thuận lợi phát triển các hoạt động giao dịch trên thị
trường. Đến nay đã có hơn 200 Trung tâm giới thiệu việc làm và hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, giới thiệu việc làm cho hàng
triệu lượt người. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vấn đề lao động, việc
làm vẫn là một vấn đề bức xúc, còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục: - Các văn bản, chính sách về lao động, việc làm ra đời nhưng việc ban
hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chậm, chưa đầy đủ, chưa thực sự theo sát thực tiễn, hiệu quả triển khai thực hiện chính sách còn chậm, lúng túng và
thấp; một số địa phương còn lúng túng trong việc triển khai và chấp hành các văn bản của cơ quan quản lý cấp trên. Nhìn chung cơng tác thanh tra, kiểm tra
thực hiện chính sách chưa được thường xun, chỉ mang tính hình thức ảnh
Phạm Anh Sơn Kế hoạch 46A
hưởng không tốt đến việc giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động.
- Chất lượng việc làm chưa cao tính ổn định, bền vững trong việc làm thấp, hiệu quả tạo việc làm chưa cao; mặc dù cơ cấu lao động ngày càng
chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng lao động chủ yếu vẫn trong lĩnh viực nơng nghiệp, có đến 75 lực lượng lao động tập trung chủ yếu ở khu vực
nông thôn gây sức ép lớn về giải quyết việc làm, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập. Với tốc độ này thì để đạt mục tiêu đặt ra là đến năm 2020 Việt Nam cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của tất cả các cấp, các ngành. Nhu cầu việc làm vẫn là một vấn đề bức
xúc của xã hội do cung vẫn lớn hơn cầu rất nhiều, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn cao, ở nơng thơn dư thùa lao động còn lớn.
- Lao động Việt Nam tuy đông nhưng chất lượng chưa cao, nhìn chung, trình độ chun mơn kỹ thuật của lực lượng lao động Việt Nam vẫn còn yếu
về chất lượng, thiếu về số lượng, chưa thực sự đáp ứng u cầu của sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Có tới
gần 70 lao động Việt Nam chưa qua đào tạo, còn có một bộ phận lao động đã qua đào tạo hoặc sủ dụng không đúng ngành nghề đào tạo hoặc phải đào
tạo lại mới có thể làm việc trong các doanh nghiệp, thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động dịch vụ cao cấp tài chính, ngân hàng, du
lịch, bán hàng…; giữa thành thị và nông thơn vẫn còn một khoảng cách nhất định. Mặt khác, hầu hết người lao động của nước ta hiện nay còn mang thói
quen, tập qn sản xuất nhỏ, thiếu năng động và sáng tạo, chưa được đào tạo về kỷ luật tác phong lao động công nghiệp; chưa được trang bị kiến thức và
kỹ năng làm việc theo nhóm.
Phạm Anh Sơn Kế hoạch 46A
Với những khó khăn như vây, Nhà nước cần có những chính sách quyết liệt hơn nhằm tạo việc làm cho người lao động trong bối cảnh nền kinh tế
ngày càng hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới.
III THỰC TRẠNG VỀ TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM. 1. Khuyến khích các quyền cơ bản tại nơi làm việc.
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã khẳng định lao động là một quyền cơ bản và mọi cơng dân đều có quyền có việc làm. Quyền này được
xác định một cách cụ thể hơn trong Bộ luật lao động. Điều 5 quy định “ mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn
việc làm và nghề nghiệp, không bị phân biệt bởi về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tơn giáo. Cấm ngược đãi người lao động; cấm cưỡng
bức lao động dưới bất kỳ hình thức nào”. - Quyền lập hội.
Hiến pháp 1992 điều 69 nêu rõ: “mọi cơng dân có quyền tự do thể hiện ý kiến, thơng tin, lập hội và biểu tình theo quy định của luật pháp”.
Bộ luật lao động 1995 điều 7, khoản 2 nêu rõ “Mọi người lao động có quyền thành lập, tham gia cơng đồn theo quy định của luật cơng đồn để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”. Hiện tại luật về hội đang trong q trình hồn thiện để trình Quốc hội
thơng qua. - Quyền ký thoả ước lao động tập thể.
Luật pháp Việt Nam quy định việc ký kết thoả ước lao động tập thể phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai và tuân theo luật
pháp. Một số kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy 100 doanh nghiệp nhà
nước có tổ chức cơng đồn, song chỉ 80 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và 20 doanh nghiệp tư nhân có tổ chức cơng đồn. Trong khu vực
Phạm Anh Sơn Kế hoạch 46A
ngồi quốc doanh, vai trò và tác dụng của tổ chức cơng đồn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc thực hiện vai trò đại diện và bảo vệ các quyền và
lợi ích của ngưòi lao động. Tương tự, việc ký kết thoả ước lao động tập thể còn mang nặng tính
hình thức, vai trò của cơng đồn và tiếng nói của người lao động còn hạn chế và thực tế, thoả ước lao động tập thể chưa thực sự là cơ sở cho việc giải quyết
các vấn đề về quan hệ lao động trong doanh nghiệp. - Không sử dụng lao động trẻ em.
Luật lao động Việt Nam tại điều 120 quy định “cấm nhận trẻ em dưới 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do MOLISA quy định”.
Trong trường hợp được nhận trẻ em vào làm việc thì cũng phải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu. Việt Nam đã phê chuẩn công ước
của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và công ước 182 về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xố bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.
Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức cơng bố về lao động trẻ em ở Việt Nam theo đúng khái niệm lao động trẻ em. Tuy nhiên, một số nghiên
cứu dựa trên kết quả cuộc các cuộc điều tra mẫu hoặc tổng điều tra dân số đã đưa ra số liệu ước tính về lao động trẻ em ở Việt Nam. Dựa theo kết quả điều
tra mức sống dân cư Việt Nam năm 1997-1998, người ta ước tính số lao động trẻ em ở Việt Nam là 1.645 triệu người, một sự giảm xuống khá mạnh so với
hơn 4 triệu vào năm 1992-1993 Nghiên cứu lao động trẻ em Việt Nam 1992-1998.Nhà xuất bản Lao động xã hội năm 2000.
Một số kết quả nghiên cứư cho thấy, tuyệt đại bộ phận lao động trẻ em là làm các cơng việc chân tay khơng có kỹ năng chiếm 93 và tập trung vào
các ngành nông nghiệp chiếm 97. Đa số lao động trẻ em làm việc trong kinh tế hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ ngoài quốc doanh. Số trẻ em làm
Phạm Anh Sơn Kế hoạch 46A
thuê chiếm tỷ lệ rất nhỏ 5.7. Không có bằng chứng nào về lao động trẻ em trong các doanh nghiệp nhà nước, trong các ngành sản xuất hàng xuất khẩu.

2. Tạo việc làm.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá chung về tạo việc làm ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ ngay(91 tr)

×