1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 91 (trang)
Thơng qua đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngồi theo hợp động.

Thơng qua đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngồi theo hợp động.

Tải bản đầy đủ - 91trang

nhập với cộng đồng. Nhiều mơ hình tạo việc làm hiệu quả được sự hỗ trợ thiết thực từ Quỹ Quốc gia về việc làm như: mơ hình cho người khiếm thị vay vốn
mở cơ sở vật lý trị liệu, sản xuất hàng thủ cơng mỹ nghệ; các mơ hình kinh tế trang trại: nuôi cá lồng bè, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp…

2.3 Thông qua đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp động.


Lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ngày càng tăng, đến nay lao động Việt Nam đã có mặt trên 40 nước và vùng lãnh thổ, tập
trung chủ yếu ở các nước trong khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia và sẽ tăng một số thị trường khác.Năm 2007, đưa được
85020 nghìn lao động kế hoạch đề ra là 80 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đưa tổng số lao động và chuyên gia Việt Nam đang
làm việc có thời hạn ở nước ngoài lên trên 400.000 người, là một trong những hướng đi quan trọng trong việc tạo việc làm cho lao động, chủ yếu là lao động
thanh niên nông thôn.
3. Mở rộng và hoàn thiện hệ thống bảo trợ xã hội đối với người lao động.
Ở Việt Nam, phát triển hệ thống bảo đảm xã hội được Đảng và Chính phủ quan tâm thực hiện ngay từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà vào năm 1945. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống này đã ngày càng đuợc hoàn thiện. Quan điểm chỉ đạo là thực
hiện tăng trưởng kinh tế đi liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và hội nhập. Tiếp tục mở rộng và hoàn thiện hệ thống
bảo trợ xã hội đối với người lao động là nội dung quan trọng để giải quyết tốt các vấn đề xã hội của đất nước.
Theo tinh thần này, trong những năm qua Việt Nam đã:
Phạm Anh Sơn Kế hoạch 46A
- Xây dựng cơ chế gắn chính sách bảo đảm xã hội với chính sách phát triển kinh tế, nhằm kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội. - Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm thể chế hoá các chủ
trương và quan điểm, giải pháp của Đảng và Nhà nước về bảo trợ xã hội Bộ luật lao động, luật bảo hiểm xã hội, Luật giáo dục, Luật bảo vệ - chăm sóc và
giáo dục trẻ em, Pháp lệnh về chính sách Người có cơng, về người tàn tật, Người cao tuổi….
- Hình thành các chương trình mục tiêu quốc gia và các quỹ về lĩnh vực bảo trợ xã hội chương trình việc làm, Xố đói giảm nghèo và vệ sinh mơi
trường nơng thơn, chương trình phòng chống các tệ nạn xã hội và các quỹ về việc làm, Xố đói giảm nghèo, quỹ tình thương….
- Hoàn thiện hệ thống bảo trợ xã hội bao gồm cả bảo hiểm y tế bắt buộc, từng bước hình thành và phát triển hệ thống bảo trợ xã hội tự nguyện.
Củng cố hệ thống trợ giúp xã hội đối với các nhóm yếu thế, ngưòi có hồn cảnh khó khăn và những người có nhu cầu trợ giúp thường xuyên cũng như
đột xuất do thiên tai, bão lụt…gây ra. - Thực hiện chủ trương xã hội hoá nhằm huy động mọi nguồn lực, đặc
biệt là nguồn lực trong dân và ở đại phương cơ sở; đồng thời thực hiện lồng ghép các chương trình mục tiêu khác nhau nhằm sủ dụng có hiệu quả nguồn
lực cho thực hiện bảo trợ xã hội.

3.1. Trợ giúp đột xuất.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thơng qua đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngồi theo hợp động.

Tải bản đầy đủ ngay(91 tr)

×