1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 80 (trang)
Thông báo trúng thầu Ký kết hợp đồng và triển khai thi công công trình

Thông báo trúng thầu Ký kết hợp đồng và triển khai thi công công trình

Tải bản đầy đủ - 80trang

- Sự hợp lý về tiến độ hoàn thành giữa các hạng mục, các phần việc có liên quan.
- Khả năng rút ngắn thi công. Ngoài các chỉ tiêu trên khi đánh giá sơ bộ hồ sơ dự thầu chủ đầu t có thể
xem xét một số các chỉ tiêu khác nh khuyến khích áp dụng kỹ thuật tiên tiến, sử dụng vật liệu mới...
Để đánh giá hồ sơ dự thầu ngời ta thờng áp dụng hai phơng pháp sau: - Phơng pháp I : phơng pháp theo điểm. Ngời ta cho điểm từng
phần nh kỹ thuật, năng lực, tài chính giá cả, tiến độ thi công của từng hồ sơ dự thầu. Sau đó so sánh các hồ sơ với nhau.
- Phơng pháp II : phơng pháp theo giá đánh giá. ở phơng pháp này, ngời ta cũng cho điểm nhng chỉ cho riêng phần kỹ thuật. Nếu
những gói thầu nào có số diểm vợt quá giới hạn cho phép thì tiếp tục xem xét giá đánh giá. Phơng pháp này có u điểm nên nhà nớc
ta khuyến khích sử dụng phơng pháp này trong thời gian tới trong đấu thầu xây dựng.
+ Đánh giá tổng hợp : tuỳ theo yêu cầu và điều kiện cụ thể của từng công trình, việc đánh giá tổng hợp các tiêu chuẩn có thể áp dụng theo
phơng pháp quy đổi trên cùng một mặt bằng hoặc hệ thống điểm đã đợc phê duyệt. Sau khi dùng phơng pháp đánh giá tren đối với từng hồ sơ dự
thầu, các hồ sơ đợc xếp hạng theo thứ tự để trình duyệtngời có thẩm quyền quyết địnhdtt xem xét phê duyệt, từ đó chọn ra đơn vị trúng thầu.
5.4. Thông báo kết quả trúng thầu, ký hợp đồng và triển khai thi công công trình

a. Thông báo trúng thầu


Sau khi có quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu của cấp có thẩm quyền, bên mời thầu thông báo cho nhà thầu trúng thầu bằng văn bản và
24
gửi kèm theo dự thảo hợp đồng, những điểm cần bổ sung nếu có , các yêu cầu về thời gian thơng thảo, bảo lãnh thực hiện hợp đồng.

b. Ký kết hợp đồng và triển khai thi công công trình


Việc ký kết hợp đồng giữa bên mời thầu và bên trúng thầu là yêu cầu bắt buộc. Hợp đồng giao nhận thầu trong xây dựng là văn bản xác nhận nhiệm
vụ, quyền hạn, mối quan hệ hợp tác giữa chủ đầu t bên A và đơn vị nhận
thầu bên B. Nó là văn bản pháp lý, căn cứ để giải quyết các tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Do đó nó rất quan trọng, các nội dung
bên trong phải đợc xem xét, cân nhắc một cách kỷ lỡng và phải đợc sự đồng ý của hai bên.
Khi ký hợp đồng, đơn vị trúng thầu phải nộp giấy bảo lãnh thực hiện hợp đồng có giá tri từ 10-15 tổng giá trị hợp đồng.
Trên đây, là trình tự tổ chức đấu thầu xây dựng và một số vấn đề cơ bản về hoạt động đấu thầu nói chung. Việc thông thạo các thể thức, thủ tục đấu
thầu một công nghệ mới trong xây dựng, sẽ giúp cho hoạt động đấu thầu đợc tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao hiệu quả đầu t,
đem lại lợi ích cho cả chủ đầu t lẫn nhà thầu.
III. Kinh nghiệm một số nớc trên thế giới
1. Singapo
Trong những năm qua, Singapo đợc đánh là một nớc quản lý công tác đấu thầu rất có hiệu quả. Sở dĩ đợc đánh giá là một quốc gia thực hiện công tác
đấu thầu tốt là vì họ sớm ban hành thành luật đấu thầu. Chính phủ Singapo quản lý rất nghiêm ngặt từ trung ơng cho đến các bộ ngành, địa phơng và cơ
sở. Các cuộc đấu thầu đợc tổ chức một cách nghiêm túc và đều đợc thẩm định kết quả đấu thầu.
25
Mặt khác, Singapo có một đội ngũ cán bộ giỏi. Nói chung, các cán bộ làm công tác đấu thầu đợc đào tạo chính quy nên có chuyên môn, am hiểu
nhiều vấn đề đặc biệt rất am hiểu và nắm chắc luật đấu thầu. Bên cạnh đó, các nhà thầu xây dựng của Singapo cũng tơng đối mạnh.
Họ đợc trang bị phơng tiện kỹ thuật tốt, tin học hoá trong quản lý và hiện đại hoá, cơ giới hoá trong xây dựng.
Một vấn đề khác trong sự thành công của công tác đấu thầu Singapo là phơng thức tổ chức đấu thầu. Hầu hết các cuộc đấu thầu xây dựng đợc tổ chức
dới hình thức đấu thầu rộng rãi, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu và mang lại hiệu quả kinh tế cao nh : tiết kiệm nguồn vốn, chất lợng thi công
công trình đợc nâng cao, tiến độ công trình nhanh lên...
2. Malaysia
So sánh giữa hai nớc Singapo và Malaysia cùng nhóm các nớc ASEAN thì ta thất Singapo luôn thực hiện công tác đấu thầu tốt hơn. Tuy
nhiên, Malaysia vẫn quản lý công tác đấu thầu khá hoàn thiện.
Những nguyên nhân thành công của Malaysia
- Malaysia có chiến lợc phát triển phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nớcvà luôn nổ lực điều chỉnh chính sách trong từng giai
đoạn
- Trên cơ sở rút ra những bài học kinh nghiệm trong nớc. Malaysia cố gắng đợc sự giúp đỡ của WB, ADB đáo tạo các chuyên gia, cũng nh
học hỏi kinh nghiệm. Đồng thời Malaysia luôn kêu gọi các tổ chức
quốc tế viện trợ kinh phí để hoàn thiện công tác đấu thầu. - Khi nền kinh tế thế giới bị suy giảm vào giai đoạn đầu nhnghx năm 90
thì kinh tế Malaysia không hề bị ảnh hởng và có mức tăng GDP cao 8,4, năm 1994 đứng đầu khối ASEAN, thu nhập bình quân GDPđầu
26
ngời là 3280 USD năm 1993, đứng thứ hai khu vực Đông Nam á, chỉ sau Singapo.
Trên đây là những kinh nghiệm về thực hiện công tác đấu thầu xây dựng của hai nớc ®iĨn h×nh trong khu vùc ASEAN. Do ®ã chóng ta cần
tham khảo và rút ra những bài học kinh nghiệm cho đất nớc mình. Từ đó
tạo điều kiện cho công tác đấu thầu xây dựng của nớc nhà ngày càng hoàn thiện.
27
Chơng II
Thực trạng tình hình đấu thầu xây dựng ở nớc ta trong giai đoạn
vừa qua
i. Vài nét chung về sự phát triển ngành xây dựng nớc ta
1. Một số đặc điểm lịch sử phát triển xây dựng qua các chế độ xã hội
Xây dựng vừa là hoạt động sản xuất, vừa là một loại hoạt động nghệ thuật, nên quá trình phát triển của nó vừa chịu ảnh hởng của phơng thức sản
xuất vừa chịu ảnh hởng của các nhân tố thuộc kiến trúc thợng tầng của một hình thái xã hội nhất định
Dới chế độ chiếm hữu nô lệ, trong xây dựng đã phát triển hình thức hiệp tác lao động giản đơn và đôi khi cả hiệp tác lao động phức tạp. Sự phân công
lao động lần thứ hai, tức là tách ngành thủ công nghiệp, trong đó ngành thủ công nghiệp xây dựng ra khỏi nông nghiệp và công việc gia đình, đã thực hiện
giai đoạn này. Giai đoạn này đợc đặc trng bởi các kiÕn tróc nỉi tiÕng nh kiÕn tróc cỉ Ai CËp, kiến trúc cổ đại Lỡng Hà và Ba T, kiến trúc cổ HY Lạp và cổ
La Mã. Dới chế độ phong kiến, ở giai đầu của nó, đã xảy ra mét sù ngõng trƯ,
thËm chÝ thơt lïi cđa x©y dùng so với thời kỳ chiếm hữu nô lệ, vì bản chất kìm hãm của chế độ phong kiến gây nên. Về mặt quan hệ sản xuất trong xây dựng,
việc xây dựng các công trình cho giai cấp phong kiến là một nghĩa vụ cỡng bức đối với giai cấp nông nô. Để chống lại sự bóc lột này, đã xuất hiện phờng
hội nghề nghiệp. Xây dựng đầu tiên ở các thành thị Tây Âu vào thế kỷ IX và thế kỷ X. Kiến trúc chế độ phong kiến đợc đặc trng bởi nền kiến trúc Bi-Dăng-
Tin, kiến trúc phong kiến ch©u ©u trong thÕ kû, kiÕn tróc cđa thêi Phơc Hng,
28
kiến trúc Barốc và kiến trúc cổ điển Pháp, trong ®ã ®Ønh cao lµ kiÕn tróc cđa thêi kú Phơc Hng ở giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chế độ
Chủ nghĩa T Bản. ở chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nền kiến trúc châu á cũng đạt
đợc những thành tựu rạng rỡ, nhất là kiến trúc ấn Độ và Trung Quốc. ở Trung Quốc đã biết áp dụng kết cấu mộng gỗ từ 200 năm trớc công nguyên, áp dụng
ngói ở thế kỷ X đến thế kỷ VIII trớc công nguyên. Kinh nghiệm xây dựng ở
đời Tống đã đợc Lý Giới biên soạn trong cuốn sách Doanh tạo pháp thức. Bớc sang giai đoạn T bản chủ nghĩa ngành xây dựng đã có bớc nhảy
vọt. ở thế kỷ XIX đã bắt đầu áp dụng xi măng Poóc- Lăng và bê tông cốt thép. ở cuối thế kỷ XIX và bắt đầu thế kỷ XX, việc sản xuất vật liệu Silicát, phi
brôximăng, bêtông xi-lô cao, vật liệu chống thấm và cách nhiệt phát triển. Tiếp đó là sự phát triển chất dẻo, các loại hợp kim, các sản phẩm vô cơ nh sợi
thuỷ tinh, sợi bông khoáng, bê tông ứng xuất trớc, các vật liệu nhẹ... Máy đào đất đã đợc sử dụng ở nửa sau thế kỷ XIX. Bên cạnh các loại kết cấu thông th-
ờng đã áp dụng kết cấu vỏ nung, kết cấu bản gấp, kết cấu dây treo các loại nhà cao tầng. Năm 1903, đã áp dụng phơng pháp cốp pha trợt. Năm 1950 đã xuất
hiện biện pháp nâng tầng cho nhà ở. ở Tây Âu, hình thức công trờng thủ công đã ngự trị từ sau thế kỷ XVI
đến gần một phần ba thế kỷ XVIII. Sau đó, nền đại công nghiệp cơ khí hoá ra đời. Bớc chuyển biến này trong xây dựng xảy ra muộn hơn vào thế kỷ xét xử.
Việc xuất hiện ngành xây dựng thành một ngành sản xuất độc lập, gắn liền với sự phát triển sản xuất hàng hoá và với việc áp dụng hình thức xây
dựng theo kiểu giao nhận thầu giữa chủ đầu t và chủ xây dựng. Hoạt động của
ngành xây dựng ở chủ nghĩa T bản tuân theo quy các luật của nền kinh tế thị trờng và đạt đợc những thành tựu rực rỡ.
29
ở các nớc Liên Xô cũ và Đông Âu ngành xây dựng đợc phát triển. ở giai đoạn đầu, nhất là sau chiÕn tranh kÕt thóc, nhê nỊn kinh tÕ ph¸t triĨn theo
kế hoạch hoá tập trung, mà ngành xây dựng ở các nớc này có sự phát triển rực
rỡ và hiện nay còn lại những công trình tiêu biểu, là niềm tự hào cho bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, do duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập
trung bao cấp, nền kinh tế dần dần tỏ ra yếu kém và bộc lộ nhiều nhợc điểm nói chung và trong ngành xây dựng nói riêng. Ngày nay, những nhợc điểm đó
đang đợc khắc phục.
2. Một số đặc điểm của lịch sử phát triển ngành xây dựng ở Việt Nam
Căn cứ vào tài liệu cổ Việt Nam có thể coi thời kỳ đồ đá mới là thời kỳ đồ đá mới là thời kỳ quá độ của ngời nguyên thuỷ Việt Nam chuyển chổ từ
hang động sang lối sống hàng xóm, cách đây1000 năm, ngời Việt Nam có thể
xây dựng những ngôi nhà sàn mái cong đuôi én. Thành Cổ Loa đợc xây dựng ở nữa sau của thế kỷ III trớc công nguyên.
Từ thế kỷ I đến thế kỷVI các công trình kiến trúc chủ yếulà các thành luỹ.
Từ thế kỷ VII đến thế kỷ X là thời kỳ chấm dứt sự đô hộ của phong kiến phơng Bắc. Kiến trúc thời kỳ này mang ®Ëm tÝnh chÊt PhËt Gi¸o.
Tõ thÕ kû X ®Õn XIII, ben cạnh kiến trúc có tính chất tôn giáo còn có các thành luỹ và các cung điện, khoảng năm 984 Thành Cổ Loa đợc xây dựng,
khoảng 995 chùa Mét Cét xt hiƯn. Tõ thÕ kû XI, ®êi Lý, nền kiến trúc phát triển mạnh nhất với các công
trình tiêu biểu nh Thăng Long, Chùa Giám, Tháp Bảo Thiên cao 66 m, Văn Miếu và Quốc Tự Giám...
30
Từ thế kỷVIII đến XIV, đời Trần và Hồ, các công trình chủ yếu là các thành quách, cung điện, chùa tháp. Tiêu biểu là chùa Phổ Minh, Tháp Bình
Sơn cao 13 tầng, thành nhà Hồ. Từ thế kỷ XV đến XVII, đời hậu Lê, kiến trúc chủ yếu bao gồm các
cung điện, lăng Mộ, đình làng, chùa tháp. Trong thời nhà Nguyễn Khuê Văn Các, những công trình kiến trúc đợc phỏng theo kiến trúc nhà Thanh và kiến
trúc Pháp. Dới thời Pháp thuộc, ngành xây dựng đã có những yếu tố mới về kiến
trúc và kinh doanh xây dựng. Tuy nhiên nhịp độ phát triển không đáng kể, thực dân Pháp chỉ chú ý xây dựng một số ngành cần thiết cho kinh doanh nh
hầm mỏ, đờng sắt cầu cống, nhà máy cơ khí, sửa chữa một số công trình công nghiệp nhẹ và các loại nhà phục vụ cho bộ máy cai trị.
Từ sau khi cách mạng tháng tám thành công đến nay, lịch sử phát triển xây dựng có thể chia ra thành các thời kỳ sau:
Thời kỳ từ 1945 đến 1954, xuất hiện một số công trình công nghiệp chế tạo vũ khí, công nghiệp mỏ và một số ngành sản xuất phục vụ kháng chiến.
Thời kỳ tháng 10 năm 1954 đến 1957, là thời kỳ khôi phục kinh tế, trong đó các công trình cũ hiện có đợc phục hồi.
ở thời kỳ từ 1958 đến 1960, thời kỳ cải tạo kinh tế, đã xây dựng đợc 65 công trình mới.
Thời kỳ 1961 đến 1965 kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã tiếp tục xây dựng hay bắt đầu xây dựng nhà máy gang thép Thái Nguên, nhà máy phân
đạm Hà Bắc, nhà máy điện Uông Bí...
Bớc sang giai đoạn kháng chiến chống Mỷ cøu níc 1966-1975 ngµnh cã nhiƯm vơ chđ u lµ di chuyển các nhà máy công nghiệp về nơi an toàn,
bảo đảm giao thông thời chiến, sửa chữa các công trình bị bắn phá, xây dựng công nghiệp địa phơng và phục vụ nông nghiệp. Công trình thuỷ điện Thác Bà
31
và nhà máy Ninh Bình cũng đợc xây dựng trong thời gian này. Trong giai đoạn nàycũng tiến hành chuẩn bị cho việc xây dựng một số công trình lớn sau nµy.
ë miỊn Nam díi thêi kú chèng Mü chiÕm đóng, ngành xây dựng đã có một số yếu tố kỹ thuật mới và màu sắc kinh doanh theo cơ chế thị trờng của
chủ nghĩa t bản.
Từ năm 1975 đến nay, ngành xây dựng bớc sang một giai đoạn mới. Tuy nhiên sự biến chuyển trong cách quản lý xây dựng mới thật bắt đầu từ đại
hội lần thứ VI. Những công trình xây dựng tiêu biểu cho trình độ xây dựng và nghệ
thuật kiến trúc của Việt Nam trong thời gian qua đó là: Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, viện bảo tàng Hồ Chí Minh, cung văn hoá
hữu nghị Việt Xô, một số công trình khách sạn và trụ sở làm việc, nhà cao tầng, nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, cầu Thăng Long... có một số yêu cầu kỹ
thuật đã có thể đáp ứng các yêu cầu của xây dựng nớc ngoài.
II. Tình hình thực hiện đầu t xây dựng trong thời gian vừa qua
1. Tình hình thực hiện đầu t xây dựng thời kỳ 1986-1990 và 1991-1995
Sau Đại Hội Đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới đã đạt đợc những thành tựu bớc đầu rất quan trọng nhất là từ năm 1989. Đây là những thời kỳ
đánh dấu bớc ngoặc trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc ta, đó
là từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nến kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc. Thực hiện đờng lối mới do
Đảng đề ra với chủ trơng sắp xếp lại sản xuất, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu vốn đầu t xây dựng. Nguồn vốn đầu t của nhà nớc tập trung thoả đáng cho
công trình trọng điểm, công trình quan trọng, đặc biệt tập trung cho đầu t xây dựng.
32
Cơ cấu nguồn vốn có sự thay đổi, nếu nh trớc năm 1990, nguồn vốn đầu t xây dựng chủ yếu từ vốn ngân sách nhµ níc vµ vèn tù cã cđa doanh nghiƯp
nhµ níc. Đến năm 1995 vốn đầu t nhà nớc chiếm 36 so víi tỉng ngn vèn toµn x· héi. xÐt vỊ tỷ trọng thì vốn đầu t nhà nớc giảm khá lớn nhng giá trị
tuyệt đối của lợng vốn huy động thì tăng gấp 2,25 lần so với thời kỳ 1986- 1990.
Tình hình thực hiện đầu t xây dựng của 2 thời kỳ này nh sau:
33
Biểu 1: Vốn đầu t và cơ cấu vốn đầu t xây dựng thời kỳ 1986-1990 và 1991-1995
Đơn vị: Tỷ đồng
Thời kỳ 1986-1990 Thời kỳ 1991-1995
Vốn đầu t thực hiện giá
hiện hành Cơ cấu
vốn Vốn đầu t
thực hiện giá
hiện hành Cơ cấu
vốn
Tổng cộng 13407,9
100 193537,6
100 I.Vốn trong níc
11733,9 87,5
137305,6 70,9
A.Theo ngn vèn 1.Vèn nhµ níc
5441 40,5
70011,6 36,2
-Vốn ngân sách 3624,6
27 41376,8
21,3 Trong đó ODA
- -
12755 7,7
-Vốn tÝn dơng -
- 10920
5,6 -Vèn cđa DN
1816,4 13,5
4959 2,5
-Vèn kh¸c -
- 12755.8
6,6 2.Vốn ngoài quốc doanh
6292,9 46,9
67294 34,7
B.Theo cấp quản lý 1.Trung ơng
3559,6 26,5
46390,4 23,9
-Trong đó vốn ngân sách 2584,8
19,2 27316,5
14,1 2.Địa phơng
8174,3 60,9
90915.2 46,9
-Trong đó vốn ngân sách 1039,8
7,7 14060,3
7,2 II.Vốn nớc ngoài đầu t
trực tiếp FDI 1674
12,5 56232
29,1
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu t Qua biểu trên cho thấy, việc thực hiện vốn đầu t thời kỳ 5 năm
1986-1990 vốn đầu t ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất 46,9, đối với vốn đầu t từ khu vực nhà nớc thì vốn ngân sách nhà nớc đóng vai trò chủ
đạo. Vì thời kỳ này các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào nớc ta cha nhiều năm
1988 mới bắt đầu nên vốn đầu t xây dựng từ khu vực này chỉ có 1674 tỷ đồng vµ chiÕm tû träng lµ 12,5, nhng tíi thêi kú 1991-1995 vốn đầu t xây dựng n-
34
ớc ngoài đã lên tới từ 12,5-29,1 tổng số vốn đầu t thực hiện toàn xã hội của nớc ta. Và sự tăng lên của vốn đầu t xây dựng trong thời kỳ này cũng có sự
đóng góp đáng kể của vốn ODA, từ chỗ không có gì trong thời kỳ 1986-1990 lên 12755 tỷ đồng chiếm 8,69 trong tổng số. Sự tăng lên này thể hiện chủ tr-
ơng cải tổ và hội nhập của Việt Nam đã đợc sự hởng ứng của cộng đồng quốc tế và kết quả là Việt Nam đã nhận đợc sự tài trợ của quốc tế trong công cuộc
xây dựng và phát triển kinh tế. Trong thời kỳ này 1991-1995 chúng ta đã huy động vốn toàn xã hội để đa vào xây dựng khoảng 165578 tỷ đồng, trong đó
phần đóng góp của khu vực nhà nớc là 70408 tỷ đồng chiếm 42,52, vốn ngoài quốc doanh 502550 tỷ đồng chiếm 30,35 và còn lại vốn nớc ngoài
44920 tỷ. Các nguồn vốn khác cũng đợc thực hiện tăng lên đáng kể nhất là vốn nhà nớc để đầu t vào những công trình lớn quan trọng của cả nớc nh
những công trình thuộc ngành điện, giao thông, bu điện nhằm thực hiện mục tiêu chiến lợc.
2. Tình hình thực hiện đầu t xây dựng thời kỳ 1995-1999
Thời kỳ 1995-1999, đặc biệt là những năm 1996-1999 bớc đầu thực hiện chơng trình mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đợc đặt ra trong kế hoạch
1996-2000. Tình hình kinh tÕ x· héi cđa ®Êt níc cã nhiỊu chun biến tích cực, đạt mức tăng tởng kinh tế khá cao, liên tục và khá toàn diện. Nhng từ giữa
năm 1997 đến nay nền kinh tế phải đối mặt với những khó khăn mới rất gay gắt. Trong khi bản thân nền kinh tế còn nhiều yếu kém về hiệu quả và sức
cạnh tranh, lại chịu sự tác động xấu cảu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lây lan và sự thiệt hại nặng nề của khí hậu toàn cầu đã làm chậm lại quá trình phát
triển. Từ những đánh giá, nhận xét, những tồn tại trong lĩnh vực đầu t, xây dựng những năm trớc đây đã rút ra những vấn đề cần khắc phục, đợc thể hiện
trong kế hoạch đầu t xây dựng thời kỳ này, trớc hết chúng ta nghiên cứu tình hình thực hiện các nguồn vốn đầu t xây dựng trong nền kinh tế quốc dân.
35
Từ năm 1995 đến nay chúng ta có nhiều chủ trơng, chính sách mới nhằm huy động tối đa các nguồn vốn đầu t thuộc các thành phần kinh tế trong
và ngoài nớc để phát triển kinh tế đất nớc. Do vậy, tổng nguồn vốn đầu t thực hiện hàng năm đều tăng, nguồn vốn huy động đợc mở rộng. Vấn đề này đợc
thể hiện rõ ở bảng biểu sau:
36
Biểu 2: Các nguồn vốn đầu t xây dựng thời kỳ 1995-1999 Giá so sánh năm 1995
Đơn vị tỷ đồng
Vốn đầu t tỷ đồng Tốc độ phát triển định gốc
1995 1996
1997 1998
Tæng sè 1995
1996
1995
1997
1995
1998
1995
Tæng sè 64.950 70.457 87.650 99.440 322.525 100
108,47 135,00
153,10 1.Vốn ngân sách NN
13.530 13550 16920 20.816 64.816 100
100,15 125,06
153,85 -Trong ®ã ODA
2200 4011
4498 5.660
16.369 100
182,32 204,45
257,27 2.Vèn tÝn dơng NN
3000 3100
3946 10.280 20.326
100 103,33
131,53 342,67
3.Vèn c¸c DN NN 6030
10814 15424 23.300 55.568 100
179,34 255,79
386,40 4.Vèn cña TN và dân c
20000 18900 20192 23.364 82.456 100
94,5 100,96
116,82 5.FDI
22390 24086 31203 21680 99.482 100
107,57 139,36
96,83 Nguån Bé kÕ hoạch và đầu t
37
Qua biểu 2 ta thấy rằng cùng với sự phát triển của đất nớc, vốn đầu t xây dựng của toàn xã hội tăng liên tục trong những năm qua từ 64950 tỷ đồng
năm 1995 lên 70450 tỷ năm 1996, 87685 tỷ năm 1997, và đạt 99440 tỷ năm 1998, nhờ đó tốc độ phát triển định gốc tăng từ 108,47 năm 1996 lên 135
năm 1997, 153,10 năm 1998. Trong đó đặc biệt tăng mạnh nhất là vốn đầu t xây dựng tự có của các doanh nghiệp nhà nớc 6030 tỷ đồng năm 1995 tăng lên
10818 tỷ năm 1996, 15424 tỷ đồng năm 1997, 23300 tỷ đồng năm 1998, do đó nó là nguồn vốn có tốc độ phát triển định gốc vốn đầu t xây dựng tăng
nhanh nhất trong số các vốn đầu t 179,34 năm 1996 và tăng vọt lên 386,40 năm 1998. Điều này đã phản ánh chính xác chủ trơng của Đảng và nhà nớc đó
là giảm bao cấp trong đầu t xây dựng nhất là đầu t từ ngân sách nhà nớc, khuyến khích các doanh nghiệp nhà nớc tự bỏ vốn đầu t.
Mặc dù có chủ trơng nêu trên, nhng do đóng vai trò quan trọng việc định hớng phát triển nền kinh tế nên vốn đầu t xây dựng từ ngân sách nhà nớc
chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong khu vực nhà nớc và tăng liên tục trong những năm qua từ 13530 tỷ đồng năm 1995 lên 20816 tỷ đồng năm 1998 với
tốc độ phát triển định gốc tăng từ 100,15 năm 1996 lên 153,85 năm 1998. Sự tăng lên này của vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc có sự đóng góp rất lớn của
ODA. Vốn ODA tăng từ 2200 tỷ đồng năm 1995 lên 5660 tỷ đồng năm 1998, do đó nó có tốc độ phát triển định gốc khá cao từ 182,32 năm 1996 lên
257,27 năm 1998. Vốn tín dụng tuy có quy mô nhỏ nhất trong số các nguồn vốn đầu t xây
dựng của khu vực nhà nớc cũng nh toàn xã hội, nhng trong những năm gần đây nhà nớc cũng bắt đầu chú trọng đến nguồn vốn này với một lợng vốn tín
dụng đầu t tăng từ 3000 tỷ đồng năm 1995 lên 3100 tỷ đồng năm 1996 và tăng vợt bậc lên 10280 tỷ đồng năm 1998. Sở dĩ có sự tăng đột biến năm 1998 là do
có sự suy giảm đầu t trực tiếp của nớc ngoài nên nhà nớc phải tăng nguồn vốn
38
này để đảm bảo giữ vững đợc tốc độ phát triển kinh tế. Nhờ đó nguồn vốn này có tốc độ phát triển định gốc vốn đầu t rất cao trong năm 1998 là 342,67.
Do những năm trớc đây, mặc dù có luật khuyến khích đầu t trong nớc và luật đầu t nớc ngoài nhng vì chúng có một số điểm còn hạn chế nh: thủ tục
hành chính, biểu giá thuê đất, thuế... nên vẫn cha thu hút đợc những nhà đầu t trong và ngoài nớc. Do đó vốn đầu t xây dựng từ khu vực ngoài quốc doanh
tăng rất chậm. Nh vốn đầu t của t nhân và dân c từ 20000 tỷ đồng năm 1995 giảm xuống 18900 tỷ đồng năm 1996, sau đó tăng lên 20192 tỷ năm 1997 và
23364 tỷ đồng năm 1998 với tốc độ phát triển định gốc là 94,50 năm 1996; 100,96 năm 1997 và 116,82 năm 1998 so với năm 1995. Còn với vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài FDI thì tuy có tăng liên tục trong 3 năm 1995-1997 với các con số tơng ứng là: 22390 tỷ, 24086 tỷ và 31203 tỷ, do đó có tốc độ phát
triển định gốc 2 năm 1996-1997 là 107,57 và 139,36. Nhng do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực châu á, cũng nh sự tăng
trởng chậm của các nớc khác mà trong năm 1998 nguồn vốn này có hiện tợng sút giảm xuống 21680 tỷ đồng với tốc độ phát triển định gốc là 96,83 tức là
đầu t thấp hơn năm 1995. Một chỉ tiêu khác phản ánh sự biến động của các nguồn đầu t xây dựng
thời kỳ này đó là tốc độ phát triển liên hoàn vốn đầu t xây dựng thời kỳ 1995-1998.
39
Biểu 3: Tốc độ phát triển liên hoàn các nguồn vốn đầu t xây dựng thời kỳ 1995-1998.
1995 19961995 19971996 19981997
Tổng số 100
108,47 124,46
113,41 1.Vốn ngân sách nhà nớc
100 100,15
124,87 123,03
-Trong ®ã ODA 100
182,32 112,14
125,83 2.Vèn tÝn dơng nhµ níc
100 103,32
127,19 206,52
3.Vèn c¸c doanh nghiƯp NN 100 179,34
142,63 151,06
4.Vèn cđa t nhân và dân c 100
94,50 106,84
115,71 5.FDI
100 107,57
129,55 69,48
Nguồn Bộ kế hoạch và đầu t.
Qua việc xem xét biểu trên ta nhận thấy, tuy vốn đầu t tự có của các doanh nghiệp nhà nớc có tốc độ phát triển định gốc nhanh nhất nhng nó lại có
sự suy giảm trong tốc độ phát triển liên hoàn: từ 179,34 năm 1996 xuống
còn 142,63 năm 1997 và 151,06 năm 1998. Điều này đã phản ánh đợc hiện tợng thiếu vốn tự có để đầu t xây dựng là tình trạng vẫn đang tồn tại ở các
doanh nghiệp nhà nớc. Do bị ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính nên tốc độ phát triển liên hoàn vốn FDI giảm mạnh trong năm 1998 từ 107,57
năm 1996; 129,55 năm 1997 xuống còn 69,48 năm 1998. Hai nguồn vốn có tốc độ phát triển liên hoàn tăng qua các năm: đó là vốn tín dụng nhà nớc từ
103,33 năm 1996 lên 260,52 năm 1996 và vốn t nhân tăng từ 94,5 năm 1996 lên 106,84 năm 1997 và 115,71 năm 1998. Vốn ngân sách nhà nớc
tuy có tăng trong năm 1997 nhng sang năm 1998 lại giảm. Cơ cấu vốn đầu t xây dựng theo nguồn vốn trong thời kỳ này thay đổi
lớn, nếu trớc năm 1990 vốn đầu t xây dựng chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân sách nhà nớc, đến năm 1995 vốn đầu t ngân sách nhà nớc chiếm 21,9, năm
40
1998 là 20,13. Vốn đầu t của dân c và t nhân cũng tăng nhanh hơn nhiều so với vốn ngân sách nhà nớc.
Biểu 4: Cơ cấu các nguồn vốn đầu t xây dựng thời kỳ 1995-1998 Đơn vị
Tổng số 1995
19961995 19971996 19981997 100
100 100
100 1.Vốn ngân sách nhà nớc
20,83 19,23
19,30 20,93
-Trong đó ODA 3,39
5,69 5,13
5,69 2.Vốn tín dụng nhà nớc
4,62 4,40
4,50 10,34
3.Vốn của các DN nhà nớc 9,28
15,35 17,59
23,43 4.Vốn t nhân và dân c
30,79 26,83
23,03 23,50
5.FDI 34,47
34,19 35,59
21,80 Nguồn Bộ kế hoạch và đầu t.
Qua biểu trên ta thấy vì có tốc độ phát triển vốn đầu t cao nên tỷ trọng vốn tự có của các doanh nghiệp nhà nớc trong tổng số vốn đầu t toàn xã hội
tăng lên đáng kể, từ mức chỉ có 9,25 năm 1995 lên 23,43 năm 1998. Đối với vốn ngân sách nhà nớc, mặc dù xét về quy mô thì vốn đầu t vẫn tăng liên
tục qua các năm nhng tỷ trọng của nó giảm trong 3 năm từ 20,83 năm 1995 xuống 19,30 năm 1997, sau đó lại tăng lên 20,93 năm 1998. Sự tăng giảm
thất thờng này phản ánh những khó khăn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu đầu t đã tác động lên ngân sách nhà nớc dành cho xây dựng. Mặc dù vậy,
trong thời gian này vốn ngân sách nhà nớc vẫn dành một tỷ lệ lớn cho giao thông vận tải-bu điện 32-38, thuỷ lợi 12-14, giáo dục, đào tạo và y tế
mỗi ngành cũng chiếm khoảng 5-7. Ngân sách tập trung của nhà nớc và tỷ lệ các ngành này vẫn tăng lên. Sự tác động này cũng ảnh hởng đến vốn ODA
làm cho tỷ trọng của nó trong cơ cấu vốn đầu t xây dựng cũng thay đổi từ
41
3,39 năm 1995 tăng lên 5,69 năm 1996 sau đó giảm xuống còn 5,13 năm 1997, tăng lên 5,69 năm 1998. Nguồn vốn tăng tỷ trọng nhanh nhất là
vốn tín dụng nhà nớc, từ 4,62 năm 1995 lên 10,34 năm 1998. Sự gia tăng của các nguồn vốn này cho thấy quyết tâm chuyển đổi cơ cấu đầu t của nhà n-
ớc đó là do tình hình ngân sách khó khăn, nhà nớc không thể bao cấp cho các công trình đầu t xây dựng mà chỉ có thể tập trung vào các công trình cơ sở hạ
tầng, các công trình công cộng có khả năng thu hồi vốn nhanh. Tỷ trọng vốn FDI năm 1998 giảm rõ rệt so với những năm trớc chỉ còn 21,8 so với
34,48 năm 1995. Tỷ trọng vốn đầu t xây dựng của t nhân và dân c giảm từ 30,79 năm 1995 xuống còn 23,5 năm 1998. Sự suy giảm này chứng tỏ lĩnh
vực đầu t xây dựng cha có những nét mới để thực sự thu hút vốn đầu t. Do đó trong thời gian tới chúng ta cần có những biện pháp thích hợp để thu hút đợc
nhiều vốn cho đầu t xây dựng.
III.Tình hình đấu thầu trong đầu t xây dựng trong thời gian vừa qua
1. Tình hình vận dụng quy chế đấu thầu
Sau khi quy chế đấu thầu đợc chính phủ ban hành ngày 1671996, trên cơ sở phối hợp với các bộ ngành hữu quan. Bộ kế hoạch và đầu t đã triển khai
việc hớng dẫn thực hiện quy chế đấu thầu nh:
Ban hành các tài liệu hớng dẫn: thông t liên bộ kế hoạch và đầu t - xây
dựng - thơng mại số 02TTLB ngày 25021997. Thông t hớng dẫn bổ sung 07 BKHVPXT ngày 29041997của Bộ kế hoạch và đầu t đối với
các dự án có sử dụng vốn đầu t của nớc ngoài.
Tổ chức các hội nghị tập huấn về công tác đấu thầu trên cơ sở phối hợp với các bộ ngành, địa phơng và cơ sở cũng nh các tổ chức quốc tế nh:
WB, ADB...
42
Nhiều bộ ngành và địa phơng cũng đã tiến hành việc soạn thảo và ban hành các văn bản hớng dẫn theo quy chế đấu thầu trong phạm vi ngành và địa
phơng mình. Tuy nhiên, có một số văn bản hớng dẫn cha phản ánh đợc đặc thù của ngành hoặc địa phơng, hoặc cha bám sát đợc yêu cầu của quy chế đấu
thầu và thờng có cách làm cũ là chờ có hớng dẫn mới triển khai thực hiện. Do vậy, tình trạng phổ biến hiện nay là nhiều cán bộ có liên quan về đấu thầu đặc
biệt là ở một só địa phơng cha hiểu đúng và đầy đủ về quy chế đấu thầu cũng nh các tài liệu hớng dẫn có liên quan. Do đó, khi triển khai các công việc nh
chuẩn bị đấu thầu và xét thầu...ở nhiều nơi còn lúng túng, gây cản trở và làm chậm trễ tiến độ thực hiện của dự án.
Nói chung sau khi quy chế đấu thầu đợc ban hành, do xác định rõ tầm quan trọng cũng nh hiệu quả áp dụng quy chế đấu thầu nên nhiều bộ ngành địa
phơng và cơ sở đã nghiêm chỉnh thực hiện và thật sự quan tâm đến công tác đấu thầu. Điển hình là năm 1997 có 46 đơn vị đã nghiêm chỉnh chấp hành và
đã viết báo cáo cho Bộ kế hoạch và đầu t về tình hình thực hiện công tác đấu thầu của đơn vị mình. Trong đó bao gồm 9 bộ và 8 tổng cục, 14 tổng công ty
và 15 địa phơng. Năm 1998 cã 65 b¸o c¸o gưi vỊ cđa 20 bé và tổng cục, 45 tổng công ty và địa phơng. Trong đó điển hình là tỉnh Phú Thọ, Đà Nẵng, tỉng
c«ng ty than ViƯt Nam, Tỉng c«ng ty thÐp ViƯt Nam, tổng cục Hải Quan, Bộ xây dựng, cục hậu cần Việt Nam, Hà Nội, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh
đã vận dụng quy chế đấu thầu một cách nghiêm túc. Tuy nhiên còn một số tỉnh, bộ ngành, địa phơng và cơ sở cha vận dụng quy chế đấu thầu một cách
nghiêm túc, còn nhiều hạn chế nh: tại tỉnh Đắc Lắc đa số các dự án đợc thực hiện theo chỉ định thầu.
Mặt khác ta thấy qua quá trình vận dụng của một số bộ ngành, địa ph- ơng và cơ sở trong một số trờng hợp cha thật phù hợp với các quy định hiện
hành do trong một số văn bản pháp quy hiện còn những điểm cha hợp lý.
43
2. Tình hình đấu thầu trong đầu t x©y dùng ë ViƯt Nam trong thêi gian võa qua
§Êt níc ta chun tõ nỊn kinh tÕ bao cÊp sang nền kinh tế thị trờng nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc. Đây là một bớc ngoặt trong quá
trình phát triển. Nhiều dự án có rất nhiều phơng án thực hiện. Trên thị trờng có
rất nhiều đơn vị đủ năng lực để thực hiện một cách tốt nhất dự án đó. Vấn đề là chủ đầu t chän ai lµ ngêi cã thĨ tháa m·n tèi đa các yêu cầu của mình.
Với nhu cầu đó của thị trờng mà quy chế đấu thầu ra đời để hớng dẫn các bộ ngành, địa phơng và cơ sở thực hiện công tác đấu thầu. Công tác đấu
thầu tuy mới triển khai trong thời gian ngắn, nhng đạt đợc những thành tựu đáng khích lệ. Việc vận dụng các nguyên tắc và trình tự theo quy chế đấu thầu
ban hành đã và đang đợc các bộ, ngành, địa phơng và cơ sở hết sức quan tâm và quán triệt thực hiện. Nhờ vậy mà số gói thầu đợc thực hiện đấu thầu trong
những năm qua có tăng. Vấn đề này đợc thể hiện rõ qua bảng số liệu sau:
44
Biểu 5: Tình hình đấu thầu thời kỳ 1996-1997 phân theo lĩnh vực đấu thầu
Đơn vị tỷ đồng
Thời gian
Năm 1996 Năm 1997
Năm 1998
Theo lĩnh
vực đấu
thầu Số
gói thầu
Ước tính
ban đầu
Giá trị
trúng thầu
Chênh lệch
tuyệt đối
Chênh lệch t-
ơng đối Số gói
thầu Ước
tính ban
đầu Giá
trị trúng
thầu Chênh
lệch tuyệt
đối Chênh
lệch t- ơng đối
Số gói thầu
Ước tính
ban đầu
Giá trị
trúng thầu
Chênh lệch
tuyệt đối
Chênh lệch t-
ơng đối
Tổng số
2476 9292
8068 1244
13,38 2508
9446 8202
1244 13,12
2528 9522
8268 1254
13,17 Đấu
thầu t vấn
164 615
535 80
13,00 167
620 546
75 12,1
168 632,8
2549, 5
83,3 13,16
Đấu thầu
xây lắp
1826 6852
5950 902
13,16 1850
6970 6040
930 13,34
1865 7024,
73 6099,
6 925,1
3 13,17
Đấu thầu
mua sắm
thiết bÞ
486 1825
1580 626
14,35 491
1858 1616
230 12,38
495 1864,
5 1681,
9 245,5
8 13,17
Nguån Bộ kế hoạch và đầu t.
45
Qua bảng số liệu ta thấy, số gói thầu năm 1997 tăng 32 gói thầu so với năm 1996 và năm 1998 có số gói thầu tăng 20 gói so với năm 1997. Sở dĩ các
gói thầu tăng là vì các bộ ngành, địa phơng thấy rõ đợc hiệu quả của công tác đấu thầu đem lại. Trớc đây chuyện thờng ngày ở các công trình xây dựng cơ
bản là giá quyết toán vợt dự toán. Vợt mức đầu t đợc duyệt ban đầu. Nhng qua đấu thầu, nhờ tính toán kỹ lỡng trong bớc lập hồ sơ và có giá xét thầu khống
chế, có sự cạnh tranh của các bên dự thầu nên giá trúng thầu chỉ bằng hoặc thấp hơn giá xét thầu. Qua mấy năm thực hiện đấu thầu ở nớc ta, bình quân
mỗi công trình tiết kiệm đợc cho ngân sách nhà nớc khoảng 13 vốn ớc tính ban đầu. Chỉ riêng năm 1997 con số này đã tới 1244 tỷ đồng, năm 1998 tiết
kiệm đợc 1254 tỷ đồng. Đây là chØ tiªu thĨ hiƯn râ nhÊt cđa viƯc xem xÐt công tác đấu thầu.
Nói chung trong thời gian nói qua, đặc biệt là từ khi Chính phủ ban hành nghị định 43CP ngày 16071996 về quy chế đấu thầu, hoạt động này
diễn ra tơng đối thuận lợi đảm bảo tính công bằng, khoa học và đạt đợc những yêu cầu vỊ thĨ thøc thđ tơc, thêi gian. Trªn thùc tÕ, hoạt động đấu thầu đã
chứng tỏ sự cần thiết trong nền kinh tế thị trờng, mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho các chủ đầu t cũng nh các nhà thầu thắng cuộc. Đồng thời cũng tiết
kiệm đợc nguồn vốn cho xã hội. Điển hình là công trình xây dựng đờng cao tốc Láng-Hoà Lạc, với sự tham gia của các nhà thầu trong nớc, thực tế đã cho
thấy tỷ lệ giảm chi phí đáng kể. Ví dụ: nh gói thầu số 10 km27-km30 cho kết quả cuối cùng với giá trúng thầu là 6,94 tỷ đồng trong khi giá ớc tính ban đầu
là 17,1 tỷ đồng. Nhìn chung những năm qua hoạt động đấu thầu tiết kiệm đợc nguồn vốn khá lớn.
Mặt khác ta cũng thấy rằng công tác đấu thầu xây lắp chiếm một vai trò rất quan trọng trong công tác đấu thầu nói chung. Vai trò này đợc thể hiện rõ
qua bảng số liệu sau:
46
Bảng 6: Cơ cấu các lĩnh vực đấu thầu thời 1996-1998
Năm 1996 Năm 1997
Năm 1998
Số gói thầu
Tỷ trọng Số gói
thầu Tỷ trọng
Số gói thầu
Tỷ trọng Tổng số
2476 100
2508 100
2528 100
Đấu thầu xây lắp
1826 73,74
1850 73,76
1865 73,77
Đấu thầu t vấn
164 6,62
167 6,66
168 6,45
Đấu thầu mua sắm
thiết bị 486
19,64 491
19,58 498
19,78
Nguồn Bộ kế hoạch và đầu t
47
Qua bảng số liệu ta thấy rằng cơ cấu của các lĩnh vực đấu thầu trong những năm qua tơng đối ổn định.Đấu thầu t vấn năm 1996 chiếm 6,62 thì
năm 1998 tỷ lệ này vẫn chiếm 6,45 so với tổng số gói thầu. Đấu thầu mua sắm thiết bị năm 1996 chiếm 19,64, năm 1997 chiếm 19,58 và năm 1998
chiếm 19,78. Đấu thầu xây lắp năm 1996 chiếm 73,74, năm 1997 chiếm 73,76 và năm 1998 chiếm 73,77. Nh vậy đấu thầu xây lắp chiếm vai trò rất
quan trọng trong công tác đấu thầu nói chung. Hàng năm số gói thầu xây lắp chiếm khoảng 73-74 so với tổng số gói thầu. Mặc dù số gói thầu trong
những năm qua tăng không đáng kể nhng hàng năm tỷ lệ này liên tục tăng và có thể nói đây là một tỷ trọng khá lớn.
Trong những năm qua số gói thầu xây lắp đợc đấu thầu ngày càng lớn. Chỉ riêng năm 1997 có 6024 công trình thì có 2508 gói thầu đợc tổ chức đấu
thầu. Và thông qua đấu thầu xây lắp mà chúng ta đã tiết kiệm đợc một nguồn vốn khá lớn. Nh năm 1996 tiết kiệm đợc 902 tỷ đồng. Năm 1997 tiết kiệm đợc
930 tỷ đồng. Năm 1998 tiết kiệm đợc 925,13 tû ®ång. Qua ®ã ta thÊy sè tiỊn tiÕt kiệm đợc của năm 1997 tăng 28 tỷ đồng so với năm 1996 và năm 1998 lại
giảm 4,87 tỷ đồng so với năm 1997. Sở dĩ năm 1998 có số gói thầu xây lắp lớn hơn năm 1997 là 15 gói thầu nhng lợng vốn tiết kiệm đợc lại ít hơn năm 1997
là vì do quy mô của từng gói thầu và giá trị của từng gói thầu năm 1998 nhỏ hơn năm 1997.
Nói chung, từ khi có quy chế đấu thầu ra đời thì công tác đấu thầu triển khai khá tích cực và nghiêm túc, đặc biệt là những dự án xây dựng thì công tác
đấu thầu đợc điển hình về mặt thực hiện. Tuy nhiên trong quản lý đầu t xây dựng cơ bản, ngoài các yếu tố tiến bộ còn ẩn dấu những tiêu cực, phổ biến
nhất là trờng hợp bên A và bên B móc ngoặc với nhau. Công tác chuẩn bị đấu thầu thờng mất nhiều thời gian. Công việc này nhiều đơn vị chuẩn bị cha tốt
nhiều ban quản lý dự án cha đủ trình độ đảm bảo cho đấu thầu diễn ra khách quan. Đặc biệt khi bên A thuộc ngành quản lý văn hoá, giáo dục, xã hội. Đây
48
là nguyên nhân dẫn đến một số dự án xây dựng đợc đấu thầu còn bé so với dự án xây dựng đợc đầu t và số gói thầu xây dựng tăng chậm trong những năm
qua. Hiện nay ở Việt Nam có ba hình thức đấu thầu . Đó là:
Đấu thầu rộng rãi: hình thức này thờng đợc áp dụng đối với những gói
thầu lớn, ít phức tạp về công nghệ, kỹ thuật.
Đấu thầu hạn chế : hình thức này thờng đợc áp dụng đối với những gói thầu đồi hỏi tính chuyên môn, nghiệp vụ cao. Bên mời thầu chỉ mời đối
với một số nhà thầu cảm thấy có đủ năng lực.
Chỉ định thầu: đây là hình thức đặc biệt. Hình thức này chỉ đợc áp dụng đối víi mét sè dù ¸n sau:
- Dù ¸n cã tÝnh chất nghiên cứu thử nghiệm. - Dự án có tính cấp bách do thiên tai, dịch hoạ.
- Dự án cã tÝnh chÊt bÝ mËt quèc gia, an ninh quèc phòng. - Dự án có giá trị dới 5000 triệu đồng.
- Dự án đặc biệt đợc thủ tớng chính phủ cho phép. Bên cạnh 3 hình thức đấu thầu, hiện nay có 2 phơng thức đấu thầu đó là:
phơng thức đấu thầu một túi hồ sơ và phơng thức đấu thầu hai giai đoạn. Trong những năm qua, việc vận dụng các hình thức và phơng thức đấu
thầu một cách khá hợp lý. Căn cứ vào tình hình thực tế của từng dự án mà trong thời gian vừa qua , việc vận dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu cũng
nh phơng thức đấu thầu một cách hợp lý mà đợc nhiều bộ ngành và địa phơng
quan tâm thực hiện. Hầu hết các dự án xây dựng điều vận dụng hình thức đấu thầu rộng rãi và hình thức đấu thầu hạn chế. Rất ít dự án áp dụng hình thức chỉ
định thầu. Vấn đề này đợc thể hiện rõ ở một số bộ ngành, địa phơng. Điển hình là năm 1998:
49
- Bộ lao động thơng binh xã hội thực hiện 12 gói thầu thì có 7 gói thầu đ- ợc đấu thầu theo hình thức rộng rãi và 2 gói thầu đấu thầu theo hình
thức hạn chế . Không có đấu thầu theo phơng thức chỉ định thầu.
- Bộ thuỷ sản thực hiện 8 gói thầu thì có 7 gói thầu đấu thầu rộng rãi và 1 gói thầu đấu thầu hạn chế.
- Tỉnh Bình Định thực hiện tổng số 84 gói thầu, trong đó 76 gói thầu đợc thực hiện theo hình thức đấu thầu rộng rãi, 8 gói thầu đợc đấu thầu theo
hình thøc h¹n chÕ. - TØnh BÕn Tre thùc hiƯn tỉng số 68 gói thầu thì có 53 gói thầu đợc đấu
thầu dới hình thức rộng rãi, 15 gói thầu đợc đấu thầu theo hình thức hạn chế.
- Tỉnh Hải Dơng thực hiện tổng số 26 gói thầu thì có 19 gói thầu đấu thầu rộng rãi và 7 gói thầu đấu thầu hạn chế.
Nói chung hầu hết các bộ ngành, địa phơng và cơ sở đều cố gắng vận dụng hình thức đấu thầu rộng rãi và hình thức hạn chế. Tuy nhiên do điều kiện
khác nhau mà trong những năm qua hình thức đấu thầu theo hình thức chỉ định thầu vẫn tồn tại và chiếm một tỷ trọng tơng đối lớn. Vấn đề này đợc thể hiện
rõ qua bảng số liệu sau:
50
Bảng 7: Tình hình đấu thầu thời kỳ 1996-1998 Phân theo hình thức đấu thầu
Năm 1996 Năm 1997
Năm 1998 Số
gói thầu
Tỷ trọng so với
tổng số Tốc độ
tăng liên hoàn
Số gói
thầu Tỷ trọng
so với tổng số
Tốc độ tăng liên
hoàn Số
gói thầu
Tỷ trọng so với
tổng số Tốc độ
tăng liên hoàn
Tổng số gói thầu 2476
100 100
2508 100
101,3 2528
100 179,7
Đấu thầu rộng rãi 297
12 100
376 15
126,6 409
16,2 108,77
Đấu thầu hạn chế 1064
43 100
1053 42
98,07 1039
41,1 98,77
Chỉ định thầu 1115
45 100
1097 43
98,4 1058
42,7 96,45
Nguồn Bộ kế hoạch và đầu t
51
Qua bảng số liệu ta thấy hiện nay đấu thầu theo hình thức chỉ định thầu chiếm một tỷ trọng tơng đối lớn. Tỷ trọng này đợc giảm liên tục qua các năm.
Năm 1996 chỉ định thầu chiếm 1115 gói thầu 45, năm 1997 chỉ điịnh thầu chiếm 1097 gói thầu 43 và năm 1998 giảm xuống còn 1058 gói thầu
chiếm 42,7. Mặt khác qua bảng số liệu ta thấy rằng tốc độ tăng liên hoàn của đấu thầu rộng rãi ngày càng tăng. Trong đó hình thức đấu thầu hạn chế
đặc biệt là hình thức chỉ định thầu giảm đáng kể. Nguyên nhân này là do trong thời gian vừa qua Chính phủ đã có công văn gửi tới các Bộ ngành, địa phơng
và cơ sở nếu có điều kiện nên chuyển từ hình thức chỉ định thầu sang hình thức đấu thầu hạn chế, hơn thế nữa là đấu thầu rộng rãi. Nếu không thể chuyển toàn
bộ gói thầu thì có thể chuyển từng hạng mục công trình của dự án. Ưu điểm của hình thức đấu thầu rộng rãi trong cơ chế thị trờng ngày càng thể hiện rõ:
nó tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu, góp phần làm tăng tính đa dạng của đấu thầu. Giá của công trình đợc giảm nhng chất lợng công trình vẫn
đợc đảm bảo. Với u điểm của nó mà các Bộ ngành, địa phơng và cơ sở ngày càng áp dụng rộng rãi. Vấn đề náy đã đợc kiểm nghiệm thực tế. Nh toàn xã
hội, năm 1996 có 297 gói thầu đấu thầu rộng rãi chiếm 12 thì năm 1997 có 376 gói thầu đấu thầu rộng rãi chiếm 15, năm 1998 có 409 gói thầu đấu
thầu rộng rãi chiếm 16,2. Nh vậy năm 1997 tăng so với năm 1996 là 80 gói thầu và năm 1998 tăng so với năm 1997 là 33 gói thầu. Đây là sự tiến bộ của
công tác đấu thầu mà chúng ta cần phát huy trong thời gian tới. Một vấn đề khác mà công tác đấu thầu cần quan tâm, đó là vấn đề đấu
thầu của các dự án liên doanh. Đây là lĩnh vực mà kinh nghiệm của chúng ta còn hạn hẹp. Trong thời gian vừa qua, việc tổ chức xây dựng kế hoạch đấu
thầu cũng nh tổ chức đấu thầu của một dự án liên doanh cha thật đáp ứng theo quy định và những yêu cầu của công tác đấu thầu. Việc chuẩn bị đấu thầu và
công tác tổ chức đấu thầu một dự án liên doanh hết sức sơ sài và lúng túng. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do bên liên doanh cha thích ứng
52
kịp với quy chế đấu thầu cuả ta còn mới mẽ với họ. Mặt khác kết quả đấu thÇu còng cha thËt sù nh mong mn, trong phÇn lớn các trờng hợp, các nhà trúng
thầu thờng là các nhà thầu thuộc các nớc mà bên liên doanh xuất xứ. Trừ các gói thầu san nền và các gói thầu xây dựng nhỏ. Trong các trờng hợp đấu thầu
quốc tế, tuy các bên liên doanh có tổ chức đấu thầu rộng rãi nhng có thể một phần do những yêu cầu đặc biệt đối với gói thầu nên kết quả trúng thầu thờng
là các nhà thầu có liên quan của các bên liên doanh nớc ngoài. Giá trị trúng thầu do các bên liên doanh trong một số trờng hợp cao hơn ghi trong giấy phép
đầu t. Một số do tình hình thực tế biến động một số bên liên doanh đã tiến hành điều chỉnh vốn đầu t trong giấy phép đầu t để phù hợp với kết quả đấu
thầu. Vấn đề cần làm rõ báo cáo nghiên cứu khả thi và các quy định trong giấy phép đầu t là hết sức quan trọng để đẩy nhanh các hoạt động đấu thầu.
Bên cạnh đó phơng pháp đánh giá hồ sơ dự thầu cha thật phù hợp với các tài liệu hớng dẫn cũng nh thông lệ về đấu thầu. Một số dự án liên doanh
chuẩn bị và thực hiện công tác đấu thầu hợp lý, thì vẫn còn một số trờng hợp việc chuẩn bị đánh giá và áp dụng phơng pháp đánh giá cha thật phù hợp với
thông lệ đấu thầu. Đó là các trờng hợp sau khi bỏ thầu các bên liên doanh th- ờng phải tiến hành đàm phán hoặc là cắt giảm các hạng mục cho phù hợp với
mức đầu t đã đợc phê duyệt, hoặc đàm phán giá một số khoản mục. Việc đàm phán để giảm giá tuy có đạt đợc mức giá đáng kể so với giá bỏ thầu ban đầu,
nhng nếu tiếp tục thực hiện theo hớng này sẽ không có hiệu quả mà có thể dẫn đến những việc tiêu cực trong quá trình đàm phán với các nhà thầu. Do vậy
trong thời gian tới các Bộ ngành, đơn vị chủ quản cần quan tâm hơn nữa đến công tác đấu thầu. Để kết quả đấu thầu của các dự án liên doanh đạt kết quả
tốt. Nh vậy thông qua hoạt động đấu thầu mà chúng ta tiết kiệm đợc một l-
ợng vốn lớn cho xã hội. Bình quân khoảng 10-12 so với mức tính ban đầu. Điển hình có các dự án mức tiết kiệm cao hơn nhiều nh:
53
- Gói thầu xây dựng số 8 dự án đờng Quy Nhơn-Sông Cầu giảm 29 so với giá ớc tính ban đầu.
- Gói thầu đoạn đờng Thờng Tín-Cầu Dẽ quốc lộ 1 giảm 42. - Gói thầu Cầu Đuống giảm 23.
- Gói thầu khu công nghiệp Thăng Long giảm 34 so với giá ớc tính ban đầu.
Bên cạnh đó các gói thầu dự án xây dựng trong quá trình thực hiện luôn phải bám sát hợp đồng, từ đó chất lợng cũng nh tiến độ luôn đợc theo dõi và
giám sát chặt chẽ nên đảm bảo đợc các yêu cầu. Mặt khác, thông qua hoạt động đấu thầu mà đội ngũ cán bộ tham gia
thực hiện công tác đấu thầu ngày càng trởng thành. Nhiều cán bộ tiếp thu đợc kiến thức, kinh nghiệm đấu thầu trong nớc cũng nh đấu thầu quốc tế.
3. Tình hình thẩm định kết quả đấu thầu
Trong quá trình đấu thầu có nơi làm cha nghiêm túc, dẫn đến kết quả đáng nghi ngờ. Có nơi còn tồn tại hiện tợng là bên A và bên B móc ngoặc với
nhau. Do đó có nhiều công trình có giá trúng thầu xấp xỉ, thậm chí trùng với giá xét thầu. Nhiều dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nớc, vốn liên doanh có
giá trị trúng thầu lớn hơn mức ớc tính ghi trong giấy phép đầu t. Do đó để đảm bảo tính cạnh tranh bình đẳng, tránh dự ngi ngờ cửa các nhà thầu tham gia,
tránh thất thoát nguồn vốn của nhà nớc. Đòi hỏi chúng ta phải thẩm định kết quả đấu thầu. Xem xét việc tổ chức đấu thầu có hợp lý hay không. Kết quả này
có đúng thực sự là kết quả, là giá của công trình do các nhà thầu canh tranh đem lại hay không.
Hiện nay việc thẩm định kết quả đấu thầu chủ yếu là thẩm định cho những dự án lớn. Có hai loại dự án thờng xuyên đợc Bộ kế hoạch và đầu t
thẩm định, đó là: thẩm định kết quả của những gói thầu thuộc dự án do thủ t-
54
ớng chính phủ phê duyệt kể cả dự án thuộc nhóm B và thẩm định kết quả những gói thầu thuộc dự án liên doanh do Bộ kế hoạch và đầu t thỏa thuận.
Việc tổ chức thẩm định kết quả đấu thầu của những gói thầu thuộc quyền quyết định của thủ tớng Chính phủ phải theo hai cấp, do đó nhiều khi mất
nhiều thời gian và trùng lắp công việc. Trong quy chế đấu thầu đã quy định rõ MPI thẩm định, trình thủ tớng chính phủ xem xét quyết định. Hay đầu mối
theo dõi đấu thầu theo hớng dẫn là giao cho các cơ quan kế hoạch của ngành, địa phơng nhng khi vận dụng thì mỗi nơi mỗi kiểu. Có nơi giao cho cơ quan kế
hoạch làm, có nơi giao cho cơ quan quản lý xây dựng theo dõi, do đó sự chồng chéo, trùng lặp trong công việc không tránh khỏi.
Nói chung trong những năm vừa qua chúng ta chỉ thẩm định đợc một số dự án lớn. Tỷ trọng giữa gói thầu đợc thẩm định trên gói thầu đợc tổ chức
đấu thầu rất bé váo khoảng 5. tình hình này đợc thấy rõ qua bảng số liệu sau:
55
Biểu 8: Kết quả thẩm định thời kỳ 1996-1998
Đơn vị: Triệu USD
Năm 1996 Năm 1997
Năm 1998
Số gói
thầu Giá trị
ban đầu
Kết quả sau khi
thẩm định
Chênh lệch
tuyệt đối Chênh
lệch t- ơng đối
Số gói
thầu Giá trị
ban đầu
Kết quả
sau khi
thẩm định
Chênh lệch
tuyệt đối
Chênh lệch t-
ơng đối
Số gói
thầu Giá trị
ban đầu
Kết quả
sau khi
thẩm định
Chênh lệch
tuyệt đối
Chênh lệch t-
ơng đối
Tổng cộng
141 1878,6 1636,14
242,46 12,9 162
2150,9 1873,3 276,7 12,8
126 2423,2 2179,7 243,5
10,0 Các dự
án do TTCP
phê duyệt
65 1082,9 885,08
197,82 18,26 75
1239,9 1013,4 226,5 18,2
81 2273,6 2057,1 216,5
9,5
C¸c dù ¸n liªn
doanh 76
795,7 751,064
44,064 5,6 87
911 859,9
51,1 5,6
45 149,6
122,6 27
18
Nguån bộ kế hoạch và đầu t.
56
Qua bảng số liệu ta thấy các gói thầu đợc thẩm định ở năm 1997 tăng 21 gói thầu so với năm 1996 và năm 1998 có số gói thầu đợc thẩm định lại
giảm 36 gói thầu so với năm 1997. Sở dĩ có tình trạng này là vì công tác thssmr định chỉ mới đợc quan tâm trong những năm gần đây. Do đó năm 1997
không những phải thẩm định những dự án trong năm mà còn phải thẩm định những gói thầu đợc tổ chức năm trớc. Mặt khác có thể do năm 1997 số dự án
khi đợc tổ chức đấu thầu đợc phân thành nhiều gói thầu. Do đó số gói thầu đợc thẩm định năm 1997 lớn hơn năm 1998 trong lúc đó số gói thầu đợc tổ chức
đấu thầu năm 1998 lớn hơn số gói thầu năm 1997. Nói chung trong những năm qua chúng ta chỉ thẩm định đợc một số dự
án lớn. Tỷ trọng giữa các gói thầu đợc thẩm định trên số gói thầu đợc tổ chức đấu thầu khoảng 5. Đây là một tỷ trọng khá bé, do đó trong thời gian tới
chúng ta cần nâng cao số gói thầu đợc thẩm định lên cao hơn nữa. Tuy nhiên trong những năm qua vấn đề thẩm định đấu thầu cũng nh kết
quả đấu thầu đợc Chính phủ và nhà nớc quan tâm. Mặc dù số lợng gói thầu đ- ợc thẩm định cha lớn nhng công tác thẩm định các gói thầu cũng đạt đợc
những thành tựu đáng kể nh: - Làm cho công tác đấu thầu ở một số Bộ ngành, địa phơng và cơ sở
đợc tổ chức một cách nghiêm túc. Vấn đề tổ chức đấu thầu không còn là hình thức nữa.
- Hiện tợng tiêu cực móc ngoặc chủ đấu thầu và các nhà thầu đợc hạn chế. Từ đó đảm bảo cho các nhà thầu có sự cạnh tranh bình đẳng
làm cho giá công trình đợc giảm và chất lợng công trình đợc nâng cao.
Mặt khác, qua đánh giá tổng hợp chung cho thấy hầu hết các dự án sau khi tổ chức đấu thầu và thẩm định kết quả đấu thầu đã đem lại những kết quả
rõ rệt nh năm 1997, thông qua đấu thầu các dự án thuộc thẩm quyền của thủ t- ớng Chính phủ và các dự án do Bộ kế hoạch và đấu thầu đã giảm đợc 276,7
57
triệu USD tơng đơng 12,8 so với giá trị ban đầu. Năm 1998 thông qua công tác thẩm định kết quả đấu thầu đã tiết kiệm đợc nguồn vốn là 243,5 triệu
USD chiếm khoảng 10 so với giá trị ban đầu. Điển hình trong sự tiết kiệm đợc nguồn vốn là dự án cầu Dần Xây của thành phố Hồ Chí Minh. Giá trị
trúng thầu là 41,5 tỷ đồng và giá trị sau khi thẩm định là 32,6 tỷ đồng. Nh vậy giảm gần tới 10 tỷ đồng.
Nói chung việc tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu mới triển khai trong thời gian ngắn nhng đợc Bộ kế hoạch và đầu t thực
hiện hết sức khẩn trơng và kịp thời mang lại kết quả đáng khích lệ. Bên cạnh các dự án trong nớc, các dự án liên doanh cũng đợc thẩm định. Nhờ thong qua
quá trình thẩm định mà giá trúng thầu thấp hơn hoặc bằng mức ớc tính trong giấy phép đầu t cũng nh so với giá bỏ thầu. Thông qua tổ chức thẩm định mà
các dự án liên doanh đã tiết kiệm đợc tổng số là 24,3 triệu USD tơng đơng 7,7. Trong đó khoảng 50 mức tiết kiệm đạt đợc là do quá trình thẩm định
tại Bộ kế hoạch và đầu t chủ yếu trên các hai bên thỏa thuận giảm giá đối với một số khoản mục nhằm đảm bảo theo đúng nội dung giấy pháep đầu t đợc
phê duyệt. Điển hình là các gói thầu sau: Gói thầu xây dựng thuộc dự án liên doanh kính nổi gi¶m tõ 26,3 triƯu USD xng 19,8 triƯu USD gi¶m 6,5 triệu
USD, tơng đơng 24,7. Mức giảm này là do khi thẩm định Bộ kế hoạch và đầu t đã yêu cầu phía liên doanh phải thơng thảo với các nàh thàu để giá trị
của hợp đồng không vợt mức ớc tính ghi trong giấy phép đầu t. Dự án liên doanh Nghi Sơn, sau khi thơng thảo nhà thầu đã chấp nhận giảm từ 166,3 triệu
USD xuống 155 triệu USD, giảm đợc 11,3 triệu USD. Nh vậy quá trình thẩm định kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu có
vai trò rất quan trọng trong việc mang lại hiệu quả đấu thầu. Vì vậy trong thời gian tới chúng ta cần đấu thầu kinh phí cũng nh có biện pháp thích hợp để
nâng cao đợc số lợng gói thầu đợc thẩm định. Góp phần nâng cao hiệu quả nhằm hoàn thiện công tác đấu thầu.
58
IV. Những tồn tại cơ bản ảnh hởng tới hiệu quả công tác đấu thầu xây dựng và nguyên nhân của chúng
Hiện nay, ở một số bộ ngành, địa phơng việc thực hiện công tác đấu thầu còn tuỳ tiện mang tính hình thức. Khâu xét thầu trong một số dự án còn
chậm, đánh giá không thống nhất. Nhiều dự án thuộc bộ ngành, địa phơng vẫn
thực hiện theo hình thức đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu, hoặc thực hiện hai túi hồ sơ, từ đó làm hạn chế hiệu quả công tác đấu thầu. Mặt khác, do quy chế
đấu thầu còn có một số tồn tại, do vậy khi triển khai thực hiện còn khá nhiều nơi vận dụng còn tùy tiện nh quy định thời hạn đóng thầu không hợp lý quá
ngắn đánh giá thầu theo phơng pháp đánh giá chấm diểm, đánh giá thầu không theo phơng pháp tiêu chuẩn đánh giá đã đợc cấp có thẩm quyền chấp
thuận. Mặt khác, một thực trạng vẫn còn tồn tại là các gói thầu sử dụng vốn
ngân sách nhà nớc. Hầu hết mọi công trình sử dụng vốn ngân sách đều lâm vào tình trạng kế hoạch tài chính không đồng bộ với tiến độ triển khai dự án,
tiến độ đấu thầu. Có những dự án dở khóc dở cời khi kế hoạch đấu thầu không bám sát kế hoạch vốn nên bên trúng thầu không triẻen khai đợc vì thiếu vốn
hoặc vốn bố trí không hợp yêu cầu. Tình trạng phổ biến trong thời gian vừa qua là nhiều dự án khi chuẩn bị tổ chức đấu thầu nhng nguồn vốn vẫn cha rõ
do vậy chủ đầu t phải hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý mới đợc tiÕp tơc xem xÐt tiÕp... Trong mét sè trêng hỵp việc cấp phát vốn thanh toán đối với một số hợp
đồng thông qua đấu thầu vẫn đợc các cơ quan tài chính thực hiện theo chế độ cũ, gây chậm trễ về tiến độ giải ngân.
Một hiện tợng khác là việc vận dụng giá xét thầu xây lắp của từng bộ ngành, địa phơng và cơ sở có những khác biệt. Có nơi yêu cầu quá chặt chẽ về
phạm vi giá trần và giá sàn nhiều khi hạn chế yếu tố cạnh tranh trong đấu
59
thầu chỉ xem xét các chào hàng có giá bỏ thầu trong khoảng 94 đến 100 mức giá trần. Nhiều công trình có giá trúng thầu xấp xỉ, thậm chí trùng với
giá xét thầu. Nếu thực hiện đấu thầu một cách đúng đắn và có tính cạnh tranh thì các kết quả này ít khi trùng nhau. Nhiều nơi vì lợi ích cá nhân hay các yếu
tố tiêu cực khác mà dẫn đến tránh tổ chức đấu thầu. Bên cạnh đó việc tổ chức xây dựng kế hoạch đấu thầu cũng nh chuẩn bị
đấu thầu của một số dự án cha thật phù hợp, đáp ứng theo quy định, do kinh nghiệm chuẩn bị và tổ chức đấu thầu của một số ban quản lý dự án hoặc chủ
đầu t còn hạn chế. Việc xem xét ở cấp cơ sở hoặc của cấp có thẩm quyền trong một số trờng hợp bị xem nhẹ. Việc phân phối và uỷ quyền giữa các bộ
và đơn vị thực hiện nhiều khi, nhiều nơi cha thật rõ ràng trong quá trình đấu thầu, thậm chí còn vớng mắc giữa các tổng công ty 90 và 91 với các bộ ngành.
Tổ chức hớng dẫn quy chế đấu thầu, các thông t híng dÉn cha thËt thµnh hƯ thèng vµ sâu rộng. Nội dung các tài liệu hớng dẫn cha thật đầy đủ và
bám sát nội dung quy chế đấu thầu hoặc cha phản ánh đợc đặc thù của ngành và địa phơng mình.
Mặt khác chế độ báo cáo thống kê cha thành hệ thống và nề nếp. Hằng năm theo quy định của Chính phủ, Bộ kế hoạch và đầu t có công văn gửi tới
các bộ ngành, địa phơng về việc báo cáo kết quả đấu thầu. Tuy nhiên số lợng báo cáo phản hồi để Bộ kế hoạch và đầu t tổng hợp là rất hạn chế. Riêng năm
1998 Bộ kế hoạch và đầu t chỉ nhận đợc 65 báo cáo, trong đó 20 báo cáo của tổng cục và 45 báo cáo của tổng công ty và địa phơng, cơ sở.
Nếu khắc phục đợc những thiếu sót vừa nêu trên, trong thời gian tới chắc chắn quy chế đấu thầu sẽ là bài thuốc chữa trị có hiệu quả căn bệnh kinh
niên trong lĩnh vực đầu t xây dựng cơ bản, đó là lãng phí tiền của nhà nớc.
60
Chơng III
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đấu thầu xây dựng ở nớc ta
i. Phơng Hớng Đầu T Phát Triển Ngành Xây Dựng ở Nớc Ta Trong Thời Gian Tới
Theo tính toán của các nhà kinh tế, để đạt đợc mục tiêu, tổng sản phẩm trong nớc GDP của năm 2000 tăng gấp 2 lần so với tổng sản phẩm trong nớc
của năm 1992 thì toàn xã hội cần phải huy động đợc 41-42 tỉ USD. Trong đó
cơ cấu các nguồn vốn nh sau :
Biểu 9: Dự báo nhu cầu đầu t đến năm 2010
Đơn vị tỉ USD 1996 - 2000
Tỷ trọng 1996 - 2000
2001 2010
Tỷ trọng 2001-2010
Tổng đầu t 41-42
100 170-250
100 -Vốn trong níc
20-22 50
119-175 70
+ ChÝnh phđ 7-8
17-18 42-63
24-26 +T nh©n DN
12-13 30-32
77-112 44-46
- Vèn níc ngoµi 20-22
50 50-75
30 +FDI
13-15 30-32
35-55 20-22
+ODA 7-8
17-18 15-20
8-10 Nguồn Bộ kế hoạch và đầu t.
Với nhu cầu đầu t toàn xã hội thì nhu cầu vốn đầu t cho phát triển ngành xây dựng chiÕm mét tû träng rÊt lín. Theo tÝnh to¸n cđa các nhà kinh tế thì
tổng số vốn đầu t cần thực hiện trong thời gian 1996-2010 để đáp ứng nhu cầu
phát triển và tăng trởng kinh tế đạt bình quân năm từ 9-10 cần vào khoảng
61
170 đến 250 tỷ USD. Nếu nh tỷ trọng phần xây lắp chiếm 75 vốn đầu t cơ bản thì năm 1996-2010 chúng ta phải thực hiện khoảng 120 đến 180 tỷ USD
cho xây lắp. Bình quân năm từ 7,5-10 tỷ USD. Nh vậy lực lợng xây dựng phải tăng lên bình quân từ 6-7 lần so với lực
lợng xây dựng đang có và đang sử dụng . Để đáp ứng nhu cầu xây dựng vô cùng to lớn trên đây. Đòi hỏi ngành
xây dựng phải đợc phát triển cả về mặt lợng và mặt chất theo hớng sau đây: - Chuyển dịch cơ cấu ngành xây dựng theo hớng công nghiệp hoá, để có
thể đảm nhận dợc các công trình có trình độ khoa học kỹ thuật cao nh xây dựng các công trình của ngành dầu khí, các công trình biển, các
công trình do nớc ngoài đầu t .
- Tăng cờng hợp tác quốc tế trong xây dựng, để tranh thủ vốn và các ph- ơng tiện kỹ thuật hiện dại
- Phát triển các chuyên ngành kỹ thuật mới và ngành xây dựng mũi nhọn, nh xây dựng các công trình dầu khí các công trình kết cấu hạ tầng hiện
đại phù hợp vơi tiêu chuẩn quốc tế, các ngành nghề có liên quan đến việc tham gia xây dựng các công trìng của nớc ngoài đầu t vào Việt
Nam, xây dựng các nhà cao tầng . - Tăng cờng ¸p dơng kü tht míi, tin häc vµ to¸n häc trong thiết kế và
xây dựng, đặc biệt là trong ngành nghỊ x©y dùng míi . - Tõng bíc n©ng cao trình độ cơ giới hoá, kết hợp với tự động hoá và hiện
đại hoá trong xây dựng các công trình công nghiệp, giao thông vận tải, các công trình liên danh các công trình của nhà nớc ở cấp trung ơng.
Chú ý phát triển cơ khí nhỏ và công cụ cải tiến, tận dụng các thành quả hoá học đối với các phơng án kết cấu xây dựng tiến bộ, năng cao hàm l-
ợng chất xám trong các sản phẩm xây dựng . - Phát triển lực lợng xây dựng ngoài quốc doanh, để đảm nhiệm khối lợng
ngày càng tăng của các công trình không có tầm chiến lợc về kinh tế
62
quốc phòng, không phải là các công trình quan trọng. Đồng thời phải trang bị đầy đủ các phơng tiện kỹ thuật hiện đại cho các tổ chức xây
dựng quốc doanh để các doanh nghiệp này, thực sự trở thành các doanh nghiệp xây dựng đầu đàn, có lực lợng mạnh để đảm đơng đợc việc các
công trình xây dựng quan trọng, hiện đại và hợp tác quốc tế. Qua phơng hớng của ngành xây dựng thì đòi hỏi công tác đấu thầu cần
phải thực hiện một cách nghiêm túc, có hiêụ quả mang lại lợi ích cho xã hội. Cần có một quy chế đấu thầu hoàn chỉnh . Do đó trong thời gian tới Bộ kế
hoạch và đầu t cần phối hợp với các bộ ngành có liên quan để sửa đổi cho hoàn thiện và đồng thời các bộ ngành từ trung ơng đến địa phơng thực hiện quy chế
đấu thầu một cách quán triệt và địa phơng vận dụng nghiêm túc và coi đấu thầu là một công cụ hữu hiệu trong quá trình triển khai thực hiện dự án .
III. Những Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Công Tác Đấu Thầu Xây Dựng ở Nớc Ta
Trong cơ chế thị trờng, vấn đề cạnh tranh là một vấn đề rất đặc trng. Mang lại hiệu quả kinh tế cao. Điển hình là công tác đấu thầu. Trong thời gian
qua công tác đấu thầu đã đạt đựơc những thành tựu đáng kể. Tiết kiệm nguồn
vốn cho xã hội khá lớn , chất lợng công trình cũng đợc nâng cao ..v.v do đó trong thời gian tới để thực hiện công tác đấu thầu có hiệu quả đòi hỏi cấp quản
lý cũng nh nhà thầu cần có biện pháp thích hợp.
1. Đối với cấp quản lý công tác đấu thầu

a. Xây dựng hoàn thiện quy chế đấu thầu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thông báo trúng thầu Ký kết hợp đồng và triển khai thi công công trình

Tải bản đầy đủ ngay(80 tr)

×