1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 114 (trang)
Về hạ tầng cơ sở kỹ thuật:

Về hạ tầng cơ sở kỹ thuật:

Tải bản đầy đủ - 114trang

nghiệp có đóng góp vào xuất khẩu. Tuy nhiên cần khẳng định cho đến nay kết quả đạt được vẫn chưa thực sự cao
4. Thực trạng về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thúc đẩy sự phát triển công nghiệp.
Mặc dù đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng không phải là hoạt động đầu tư trực tiếp tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp nhưng những cơng trình và kết
quả của nó ảnh hưởng lớn đến sản xuất công nghiệp. Bất cứ hoạt động sản xuất nào cũng không thể diễn ra nếu không có cơ sở hạ tầng, nhất là hoạt
động sản xuất cơng nghiệp. Một vùng hay một quốc gia có cơ sở hạ tầng yếu kém khơng thể có được hiệu quả sản xuất cao cũng như không thể thu hút
vốn đầu tư trục tiếp nước ngoài. Nếu như hạ tầng kỹ thuật là nền tảng, là tiền đề, có tác dụng trực tiếp cho sản xuất cơng nghiệp thì hạ tầng xã hội có tác
dụng gián tiếp thúc đẩy cơng nghiệp phát triển. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn trong thời kì 1995 -
2004 chiếm khoảng 43,5 tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tập trung vào một số cơng trình then chốt, tạo ra những điều kiện thuận lợi khai thác tiềm năng
của vùng .

4.1 Về hạ tầng cơ sở kỹ thuật:


 Giao thơng: Hệ thống giao thơng trong tồn vùng đã phát triển đáng kể, thời gian vận
chuyển giảm nhiều so với trước thời gian đi từ Hà Nội - Hải Phòng giảm khoảng một nửa; đi Hạ Long giảm khoảng 40; đi Thanh Hoá, Nghệ An
giảm 30, đi từ Ninh Bình - Hải Phòng giảm trên 50.

Hệ thống đường bộ: Quốc lộ 1A là tuyến chiến lược quan trọng đã hồn thành việc khơi phục cải tạo và nâng cấp từ Lạng Sơn về Hà Nội
đi Ninh Bình đến Thanh Hoá, đạt tiêu chuẩn cấp III; quốc lộ 18, từ Bắc Ninh đi Bãi Cháy đã hoàn thành cơ bản việc nâng cấp đạt tiêu chuẩn
cấp III ; đoạn Bãi Cháy - Mơng Dương - Móng Cái đang triển khai nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV ; việc nâng cấp quốc lộ 10 sắp hoàn
66
thành ; đường Láng - Hoà Lạc hoàn thành giai đoạn I đạt tiêu chuẩn cấp I. Đã xây dựng mới các cầu như cầu Bình, Triều Dương, Tân Đệ,
Tiên Cựu; đang xây dựng cầu n Lệnh, Thanh Trì, Bãi Cháy, cầu Bính...; các quốc lộ khác như 2B, 38, 39, 183, 12B, 21, 21B và 23
cũng được cải tạo. Giao thông nông thôn được phát triển khá mạnh cải tạo khoảng 300 km,
làm mới khoảng 150 km.

Về hệ thống các sân bay: trong vùng có 3 sân bay hiện đang khai thác là sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi và sân bay Gia Lâm.
Công suất sân bay Nội Bài hiện nay là 4 triệu hành kháchnăm, đang đầu tư mở rộng để đên năm nay 2005 đạt 6 triệu hành kháchnăm.
Sân bay Cát Bi đang là sân bay nội địa, dự kiến sẽ kéo dài đường hạ - cất cánh đạt khoảng 2800 mét dài, mở rộng nhà ga từ 4000 m lên 6000 m ; quy
hoạch mở thêm đường bay khu vực và hướng tới xây dựng Cát Bi thành sân bay quốc tế.
Sân bay Gia Lâm chủ yếu phục vụ quân sự và dịch vụ trực thăng.

Về hệ thống cảng biển: Đã mở rộng cảng Hải Phòng, hiện nay hàng hố lưu thơng qua cảng đạt khoảng trên 10 triệu tấn , cảng Cái Lân có
cơng suất giai đoạn I là 0.5 triệu tấn . Đã hình thành đội tầu biển có tổng trọng tải trên 50 vạn DWT , thực hiện vận tải trên 2,4 triệu tấn so
với cả nước chiếm tỷ trọng gần 5. Các cảng sông đã được nâng cấp để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, rõ nhất là cụm cảng Hà Nội, Ninh
Phúc, Việt Trì. Dự tính đến năm 2010, tổng khối lượng hàng hố thơng qua các cảng ven biển vùng KTTĐ đạt khoảng 30 -35 triệu tấn mỗi
năm. Nâng cao cụm cảng Hải Phòng với năng lực thơng qua 18 - 20 triệu tấnnăm; hồn thành cảng Cái Lân đạt năng lực thông qua 6 -8
triệu tấn . Cải tạo , nâng cấp cụm cảng chuyên dùng khu vực Quảng Ninh như Cửa Ông, Mũi Chùa, Vạn Gia, cảng du lịch Hòn Gai, cảng
67
chuyển tải Hòn Nét, Con Ong... có thể đạt công suất 6 - 7 triệu tấnnăm.

Về mạng lưới đường sắt: Các tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Thái Nguyên và Hà Nội - Vinh đã được nâng
cấp đáng kể; hệ thống đường ray , tà vẹt đã được thay mới; các đường ngang, cầu, thông tin tín hiệu đã được sửa chữa đảm bảo an tồn tàu
chạy.

Về mạng lưới đường sơng: Trong những năm qua đường sông đã được đầu tư quản lý , khai thác tốt hơn trong đó có tuyến Đáy - Ninh Phúc,
tuyến Lạch Giang - Hà Nội; tuyến Quảng Ninh - Phả Lại - Việt Trì; tuyến Quảng Ninh - Hải Phòng - Ninh Bình.

Mạng bưu chính viễn thơng : được chú trọng đầu tư và phát triển nhanh, rộng khắp đến hầu hết các xã vơí cơng nghệ cao, kĩ thuật số
hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin . Đến năm 2004, mật độ điện thoại bình quân vùng là 15 máy100 dân bình quân của cả nước là 8
máy100 dân.Riêng Hà Nội là 27 máy100 dân. Vùng tiếp tục đổi mới, mở rộng quy mơ, nâng cao trình độ dịch vụ thông tin quốc tế, liên tỉnh
trên cơ sở công nghệ tiên tiến , dung lượng lớn, tốc độ cao. Đi đầu trong việc phổ cập Internet, đẩy mạnh quá trình phổ cập dịch vụ bưu
chính ở nơng thơn; đưa nhanh công nghệ thông tin vào công tác quản lý.
 Mạng lưới điện đã được phát triển đến xã trên lãnh thổ tồn vùng .

Kết cấu hạ tầng đơ thị được cải thiện nhanh, nhất là ở khu vực thành phố Hà Nội, Hải Phòng.

Hệ thống cung cấp nước sạch đã được nâng cấp, mở rộng ở các thành phố, thị xã. Trong vùng KTTĐ Bắc Bộ đã có các nhà máy nước với
tổng công suất cấp khoảng 60 vạn m ngày đêm, tỷ lệ cung cấp nước sạch cho người dân trong vùng đã nâng lên và có nhiều cải thiện. Hiện
68
nay, bằng nhiều nguồn vốn vay như ODA của WB, OECD,... các tỉnh đang triển khai các dự án cấp nước như : ở Hà Nội 100.000 m3ngày
đêm, ở Hạ Long hai dự án Đồng Ho và Đồi Vọng công suất 80.000 m3ngày đêm và nâng công suất nhà máy nước An Dương ở Hải
Phòng từ 60.000 lên 100.000 m3ngày đêm. Đồng thời, đang nghiên cứu các dự án cấp nước theo hình thức BOT cho hai thành phố Hà Nội,
Hải Phòng.

4.2 Kết cấu hạ tầng xã hội


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Về hạ tầng cơ sở kỹ thuật:

Tải bản đầy đủ ngay(114 tr)

×