1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 85 (trang)
Nguồn vốn.

Nguồn vốn.

Tải bản đầy đủ - 85trang

- Đầu tư tài chính ngắn hạn: Trước hết đầu tư tài chính là tài sản bỏ vào
kinh doanh ở đơn vị khác dưới hình thức mua chứng khốn, góp vốn liên doanh, cho thuê tài sản, cho vay lấy lãi…. Đầu tư tài chính có thời hạn thu hồi vốn
trong vòng 1 năm gọi là đầu tư tài chính ngắn hạn và cũng thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Tài sản cố định.
Là tất cả những tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên 1 năm hoặc trên 1 chu kinh doanh nếu 1 chu kỳ kinh doanh
≥ 1 năm.
Tài sản cố định của doanh nghiệp bao gồm:
- Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản cố định có hình thái vật chất.
Đó là những tư liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài như nhà xưởng, vật kiến trúc, kho tàng, máy móc thiết bị,
phương tiện vận tải…..
- Tài sản cố định vơ hình: Là những tài sản cố định khơng có hình thái vật
chất, thể hiện một lượng giá trị lớn đã đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong một khoảng thời gian dài giá trị bằng
sáng chế phát minh, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí lợi thế thương mại…
- Đầu tư tài chính dài hạn: Là khoản đầu tư tài chính có thời hạn thu hồi
vốn trên 1 năm.

2.4. Nguồn vốn.


Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Căn cứ vào quyền sở hữu vốn hoặc quyền tự chủ về vốn đối với doanh nghiệp nhà
nước, người ta phân biệt thành 2 nguồn chính.
Nợ phải trả:
Là những khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh tốn cho các chủ nợ. Nợ phải trả của doanh nghiệp chia
thành 2 loại sau:
16
- Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ phải trả trong vòng 1 năm vay ngắn hạn,
lưong phải trả công nhân viên, thuế phải nộp ngân sách….
- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh tốn trên 1 năm vay dài
hạn, nợ dài hạn , nhận ký quỹ, ký cược dài hạn.
Nguồn vốn chủ sở hữu.
Là nguồn vốn do các chủ sở hữu đầu tư đóng góp và bổ xung từ kết quả kinh doanh. Nguồn vốn này doanh nghiệp được sử dụng lâu dài trong suốt thời
gian hoạt động của minh mà không phải cam kết thanh tốn cho các chủ sở hữu.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà ông chủ của doanh nghiệp sẽ là ai và tương ứng nguồn vốn chủ sở hữu sẽ là vốn của ai. Cụ thể, đối với doanh nghiệp
nhà nước thì ơng chủ là nhà nước và nguồn vốn chủ sở hữu là vốn ngân sách; đối với doanh nghiệp tư nhân thì nguồn vốn chủ sở hữu là vốn do ông chủ tư
nhân bỏ ra; đối với công ty cổ phần thì các ơng chủ là các cổ đông và vốn chủ sở hữu là vốn cổ đông; đối với cơng ty liên doanh thì đó là vốn do các bên tham gia
liên doanh góp vào.
Nguồn vốn chủ sở hữu thường được hoạch định sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Tuỳ theo mục đích sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu lại chia thành các
nguồn sau:
- Vốn kinh doanh: Là nguồn vốn của chủ sở hữu được hoạch định dùng vào
kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động.
-Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Là nguồn vốn chủ sở hữu được hoạch định
dùng vào xây dựng, mua sắm, lắp đặt tài sản cố định.
- Các quỹ của doanh nghiệp: Được hình thành chủ yếu từ lãi nhằm vào các
mục đích khác nhau ngồi sản xuất kinh doanh hàng ngày nhưng sẽ hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh gồm những quỹ sau:
+ Quỹ đầu tư phát triển: Dùng vào đầu tư mở rộng hoặc đổi mới công nghệ và đào tạo lực lượng lao động.
17
+ Quỹ dự phòng tài chính: Dùng vào bù đắp những tổn thất, rủi ro xảy ra trong kinh doanh.
+ Quỹ khen thưởng: Dùng vào khen thưởng thi đua định kỳ và vào các dịp lễ tết cho cán bộ công nhân viên.
+ Quỹ phúc lợi: Dùng chi cho phúc lợi công cộng của doanh nghiệp. + Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm: Dùng vào trợ cấp cho cán bộ công
nhân viên trong những trường hợp bị mất việc làm tạm thời.
- Lãi chưa phân phối: Lãi là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp khi thu
nhập thực hiện trong kỳ lớn hơn chi phí tạo ra thu nhập đó. Lãi của doanh nghiệp phải được phân phối theo chế độ quy định. Trong thời gian chưa phân
phối, lãi thuộc nguồn vốn chủ sở hữu. Nếu doanh nghiệp làm ăn khơng có lãi mà bị lỗ thì khoản lỗ đó làm giảm tương ứng nguồn vốn chủ sở hữu.
Do yêu cầu quản lý tài chính cần nắm được tình hình tài sản vừa theo giá phí để lo thu hồi vốn bỏ ra hình thành tài sản, vừa theo nguồn hình thành tài sản
để lo bảo toàn vốn cho chủ sở hữu và thực hiện chế độ thanh tốn nên kế tốn ghi chép tình hình tài sản của doanh nghiệp đồng thời theo 2 cách thể hiện trên.
Từ đó, tất yếu tồn tại các phương trình sau:
Tổng giá phí tài sản = Tổng nguồn hình thành tài sản 1. Tổng giá phí tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu 2.
Nguồn vốn chủ sở hữu = Tổng giá phí tài sản – nợ phải trả 3.
Để đánh giá một cách chi tiết, đầy đủ nguồn hình thành và bảo đảm tài sản cho hoạt động kinh doanh, cần đi sâu phân tích mối quan hệ và tình hình
biến động của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán.
+ Phân tích mối quan hệ và tình hình biến động của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán.
18
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải xem xét các mối quan hệ và tình
hình biến động của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán. Theo quan điểm luân chuyển vốn, tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản lưu động và tài sản
cố định. Hai loại này được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu. Tức là:
I + IV + BI TS = Nguồn vốn chủ sở hữu 1 Quan hệ cân đối 1 chỉ mang tính lý thuyết, nghĩa là nguồn vốn chủ sở
hữu B có đầy đủ để trang trải cho các tài sản cần thiết phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không phải đi vay hoặc khơng cần
phải đi chiếm dụng của bên ngồi. Song thực tế cho thấy cân đối 1 có thể xảy ra các trường hợp sau:
+ Trường hợp 1: I + IV +B I TS B vốn CSH Trường hợp này thể hiện doanh nghiệp thiếu nguồn vốn trang trải tài sản,
nên để cho quá trình kinh doanh được bình thường doanh nghiệp phải huy động thêm nguồn vốn các khoản vay hoặc đi chiếm dụng của bên ngoài dưới hình
thức mua chậm trả hoặc thanh tốn chậm hơn so với thời hạn phải thanh toán. Việc đi vay hoặc chiếm dụng trong thời hạn thanh toán đều là hợp lý, hợp pháp
còn ngồi thời hạn nợ q hạn là không hợp lý, hợp pháp.
+ Trường hợp 2: I + IV + B I TS B vốn CSH Trường hợp này doanh nghiệp thừa nguồn vốn, không sử dụng hết nên bị
các doanh nghiệp khác chiếm dụng, dưới hình thức doanh nghiệp bán chịu thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ, hoặc ứng trước tiền cho bên bán, các khoản thế chấp,
ký cược ký quỹ...
Cả hai trường hợp trên đây đã tạo xu thế cân đối mới bởi quan hệ cân đối 2 dưới đây:
I + II + IV + I + II +III +IV = [ B vốn CSH + vay NH và DH] 2 loại A bên TS
loại B bên TS
19
Cân đối 2 hầu như không xẩy ra mà trên thực tế thường xẩy ra hai trường hợp dưới đây:
+ Trường hợp 1: Vế bên trái vế bên phải: Trường hợp này doanh nghiệp bị thiếu nguồn
vốn để bù đắp tài sản, nên buộc doanh nghiệp phải phải đi chiếm dụng, như nhận trước tiền của người mua, chịu tiền của nhà cung cấp, nợ tiền thuế của nhà
nước, chậm trả lương công nhân viên.
+ Trường hợp 2: Vế trái vế phải: Trường hợp này doanh nghiệp bị thừa nguồn vốn, nên
sẽ bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng, như khách hàng nợ, trả trước cho người bán, tạm ứng, tài sản sử dụng để thế chấp, ký cược, ký quỹ vv...
Do tính chất cân đối của bảng cân đối kế tốn là tổng giá phí tài sản bằng tổng nguồn hình thành tài sản, nên cân đối 2 được viết một cách đầy đủ theo
quan hệ cân đối 3 sau đây:
I + II +III +IV + V + I +II +III + IV = I + II +III + I 3 ∑
loại A bên TS ∑
loại B bên TS loại A bên NV loại B bên NV.
Cân đối 3 cho thấy số vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng III+IV đúng bằng số chênh lệch đi chiếm dụng I +II +III trừ khoản vay tín dụng. Căn
cứ vào bảng cân đối kế tốn ta lập bảng phân tích tình hình biến động của vốn lưu động.
Nhìn trên bảng cân đối kế tốn chủ doanh nghiệp, kế toán trưởng và các đối tượng khác quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp phải xem xét
kết cấu vốn và nguồn vốn để từ đó có thể đối chiếu với yêu cầu kinh doanh hoặc khả năng huy động vốn, đầu tư vốn. Phân tích kết cấu vốn ngồi việc so sánh
tổng số vốn cuối kỳ so với đầu năm còn phải xem xét từng khoản vốn tài sản của doanh nghiệp trong tổng số để thấy được mức độ đảm bảo cho quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc đánh giá phải dựa trên tính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phận từ số liệu BCĐKT ta lập bảng
20
phân tích tình hình phân bổ vốn. Qua việc phân tích cơ cấu tài sản ta biết được tỷ suất đầu tư.
Tỷ suất đầu tư
= I, III loại B.TS TSCĐ đã và đang đầu
tư Σ
tài sản x 100
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, máy móc, thiết bị của doanh nghiệp. Nó cho biết năng lực sản xuất và xu hướng phát
triển lâu dài của doanh nghiệp. Trị số của chỉ tiêu này tuỳ thuộc vào từng nghành nghề kinh doanh cụ thể. Nếu là doanh nghiệp sản xuất thì phải có lượng
dự trữ về ngun vật liệu đầy đủ với nhu cầu sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, nhưng không thừa gây ứ đọng vốn. Nếu là doanh nghiệp
thương mại thì phải có lượng hàng hố đủ để cung cấp cho nhu cầu bán ra kỳ tới. Thông thường tỷ suất đầu tư được coi là hợp lý trong một số nghành nếu đạt
trị số như sau:
. Ngành công nghiệp thăm dò và khai thác dầu mỏ: 0,9 . Ngành công nghiệp luyện kim: 0,7
. Ngành công nghiệp chế biến: 0,1
Đối với các doanh nghiệp thuộc ngành thương mại, dịch vụ, tỷ suất đầu tư này thay đổi phụ thuộc vào từng hoạt động kinh doanh cũng như điều kiện kinh
doanh cụ thể đổi mới, thay thế, nâng cấp.
Để tiến hành nâng cấp cơ cấu tài sản ta cần lập bảng phân tích cơ cấu tài sản.
Ngồi việc xem xét tình hình phân bổ vốn, cần phân tích cơ cấu nguồn vốn và xu hướng biến động của chúng để đánh giá được khả năng tự tài trợ về mặt
tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh của doanh nghiệp hay những khó khăn mà doanh nghiệp đang phải đương đầu.
Điều đó được phản ánh qua việc xác định tỷ suất tự tài trợ.
21
Căn cứ vào số liệu của bảng cân đối kế tốn cần lập bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn.
Sau khi phân tích khái qt tình hình tài chính, thể hiện bằng việc phân tích tình hình phân bổ vốn, tình hình cơ cấu nguồn vốn như trên cho phép chủ doanh
nghiệp rút ra những kết luận sơ bộ.
Việc phân bổ hợp lý hay chưa hợp lý, các khoản nợ phải thu tăng hay giảm? Tình hình đầu tư của doanh nghiệp theo hướng nào? Có chủ quan hay
không? Nguồn vốn chủ sở hữu tăng hay giảm, các khoản nợ và tỷ suất đầu tư tăng
hay giảm? là tín hiệu tốt hay sấu đối với doanh nghiệp. 2.5- Phương pháp phân tích.
Để phân tích tình hình sử dụng vốn trong các doanh nghiệp có nhiều phương pháp, nhưng trong phạm vi đồ án của mình, em sử dụng phương pháp so sánh.
So sánh là phương pháp được sử dung phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để tiến hành so
sánh, xác định điều kiện so sánh và xác định mục tiêu so sánh. Xác định số gốc để so sánh phụ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích:
- Khi nghiên cứu nhịp độ biến động tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu, số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu ở kỳ trước năm nay so với năm trước, tháng này
so với tháng trước… - Khi nghiên cứu nhịp độ thực hịên nhiệm vụ kinh doanh trong từng khoảng
thời gian 1 năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước tháng hoặc quý. - Khi đánh giá mức độ biến động so với các mục tiêu đã dự kiến, trị số thực tế
sẽ được so sánh với mục tiêu nêu ra thường trong kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính của doanh nghiệp.
- Khi nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường có thể so sánh số thực tế với mức hợp đồng hoặc tổng nhu cầu …
Các trị số của chỉ tiêu ở kỳ trước, kế hoạch hoạch cùng kỳ năm trước gọi chung là trị số kỳ gốc và thời kỳ chọn làm gốc so sánh đó gọi chung là kỳ
gốc, thời kỳ chọn để phân tích gọi tắt là kỳ phân tích. Ngồi việc so sánh theo thời gian, phân tích kinh doanh vốn còn tiến
hành so sánh kết quả kinh doanh giữa các đơn vị được chọn làm gốc so sánh - đơn vị điển hình trong từng lĩnh vực, từng chỉ tiêu phân tích.
22
Điều kiện so sánh cần được quan tâm khác nhau khi so sánh theo thời gian và khi so sánh theo không gian.
Khi so sánh theo thời gian cần chú ý các điều kiện sau: - Bảo đảm tính thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu, có tính ổn
định và thường được quy định thống nhất. Tuy nhiên do phát triển sản xuất của hoạt động kinh doanh nên nội dung kinh tế của chỉ tiêu có thể thay đổi
theo chiều hướng khác nhau. - Bảo đảm tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu. Trong kinh
doanh, các chỉ tiêu có thể được tính theo các phương pháp khác nhau. Khi so sánh cần lựa chọn hoặc tính lại các trị số chỉ tiêu theo một phương pháp
thống nhất. - Bảo đảm tính thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu cả về số lượng, thời
gian và giá trị. Khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở các đơn vị khác nhau, ngoài
các điều kiện đã nêu, cần đảm bảo điều kiện khác như cùng phương hướng kinh doanh và điều kiện kinh doanh tương tự như nhau.
Tất cả các điều kiện trên, gọi chung là đặc tính “ có thể so sánh” hay tính “so sánh được” của các chỉ tiêu phân tích
Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh nói chung và phân tích về hiệu quả sử dụng vốn nói riêng là xác định mức biến động tuyệt đối và mức
biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Mức biến động tuyệt đối được xác định trên cơ sở so sánh trị số của chỉ
tiêu giữa 2kỳ: kỳ phân tích và kỳ gốc, hay đúng hơn – so sánh giữa số phân tích và số gốc.
Mức biến động tương đối là kết quả so sánh giữa số thực tế với số gốc đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết
định quy mơ của chỉ tiêu phân tích.

2.6 - Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguồn vốn.

Tải bản đầy đủ ngay(85 tr)

×