1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 85 (trang)
- Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn

- Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn

Tải bản đầy đủ - 85trang

Điều kiện so sánh cần được quan tâm khác nhau khi so sánh theo thời gian và khi so sánh theo không gian.
Khi so sánh theo thời gian cần chú ý các điều kiện sau: - Bảo đảm tính thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu, có tính ổn
định và thường được quy định thống nhất. Tuy nhiên do phát triển sản xuất của hoạt động kinh doanh nên nội dung kinh tế của chỉ tiêu có thể thay đổi
theo chiều hướng khác nhau. - Bảo đảm tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu. Trong kinh
doanh, các chỉ tiêu có thể được tính theo các phương pháp khác nhau. Khi so sánh cần lựa chọn hoặc tính lại các trị số chỉ tiêu theo một phương pháp
thống nhất. - Bảo đảm tính thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu cả về số lượng, thời
gian và giá trị. Khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở các đơn vị khác nhau, ngoài
các điều kiện đã nêu, cần đảm bảo điều kiện khác như cùng phương hướng kinh doanh và điều kiện kinh doanh tương tự như nhau.
Tất cả các điều kiện trên, gọi chung là đặc tính “ có thể so sánh” hay tính “so sánh được” của các chỉ tiêu phân tích
Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh nói chung và phân tích về hiệu quả sử dụng vốn nói riêng là xác định mức biến động tuyệt đối và mức
biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Mức biến động tuyệt đối được xác định trên cơ sở so sánh trị số của chỉ
tiêu giữa 2kỳ: kỳ phân tích và kỳ gốc, hay đúng hơn – so sánh giữa số phân tích và số gốc.
Mức biến động tương đối là kết quả so sánh giữa số thực tế với số gốc đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết
định quy mơ của chỉ tiêu phân tích.

2.6 - Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn


Hiệu quả sử dụng vốn là thước đo, phản ánh tương quan so sánh giữa những kết quả thu được với những chi phí về vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra
trong quá trình hoạt động để đạt được kết quả đó.
Kết quả thu được
23
Cơng thức chung để tính hiệu quả sử dụng vốn = Chi phí vốn đã sử dụng
Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh chất lượng công tác sử dụng vốn. Khi nguồn bù đắp cho tài sản dự trữ thiếu, doanh nghiệp đi
chiếm dụng vốn, ngược lại khi nguồn bù đắp tài sản dự trữ thừa doanh nghiệp bị chiếm dụng. Nếu vốn đi chiếm dụng nhiều hơn phần vốn bị chiếm dụng thì
doanh nghiệp có thêm một nguồn vốn đưa vào sản xuất kinh doanh. Ngược lại doanh nghiệp sẽ bị giảm bớt vốn. Khi phân tích cần chỉ ra được những khoản đi
chiếm dụng và bị chiếm dụng hợp lý. Những khoản đi chiếm dụng hợp lý là những khoản còn đang trong hạn trả như khoản tiền phải trả cho người bán
nhưng chưa đến hạn thanh toán, khoản phải trả cho ngân sách nhưng chưa đến hạn trả, phải trả lương công nhân viên. Những khoản bị chiếm dụng hợp lý là
những khoản chưa đến hạn thanh toán như tiền bán chịu cho khách hàng đang nằm trong thời hạn thanh toán, phải thu của các đơn vị trực thuộc, phải thu khác.
Trong các mối quan hệ thanh toán này doanh nghiệp phải chủ động giải quyết trên cơ sở tôn trọng kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh tốn.
Để biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, cần phải xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào. Nếu tình hình quản
lý sử dụng vốn tốt, doanh nghiệp ít cơng nợ, khả năng thanh tốn dồi dào, ít đi chiếm dụng vốn. Điều đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động về vốn đảm
bảo cho quá trình kinh doanh thuận lơị. Ngược lại nếu tình hình sử dụng quản lý vốn yếu kém, doanh nghiệp nợ nần dây dưa kéo dài mất tính chủ động trong
kinh doanh, có thể dẫn đến tình trạng phá sản.
Căn cứ vào số liệu của bảng cân đối kế tốn ta lập bảng phân tích tình hình thanh toán sử dụng vốn.
Để xem xét các khoản nợ phải thu biến động có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp hay khơng, cần tính ra và so sánh các chỉ tiêu.
H công nợ = Các khoản phải thu
Các khoản phải trả = 1
24
Tỷ lệ này 1 chứng tỏ doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn, 1 chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn. Trong kinh doanh thì doanh nghiệp nào cũng
bị chiếm dụng vốn và đi chiếm dụng nhưng phải hợp pháp bởi vì khoản chiếm dụng này doanh nghiệp không phải trả lãi.
Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào bảng cân đối kế toán để đánh giá tình hình thanh tốn của doanh nghiệp thì chưa đủ, mà còn phải dựa vào các tài liệu hạch
toán hàng ngày và một số tài liệu thực tế khác để có kết luận chính xác. Vì vậy cần phải xác định tính chất, thời gian và nguyên nhân phát sinh các khoản phải
thu và các khoản phải trả, cũng như các biện pháp mà doanh nghiệp áp dụng để thu hồi nợ hoặc thanh toán nợ.
Để thấy rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai cần đi sâu phân tích nhu cầu và khả năng thanh tốn của doanh nghiệp. Khi phân tích cần
phải dựa vào tài liệu hạch tốn có liên quan để xắp xếp các chi tiêu phân tích theo một trình tự nhất định. Trình tự này phải thể hiện ở nhu cầu thanh toán
ngay, chưa thanh toán ngay cũng như khả năng huy động để thanh toán ngay và huy động để thanh tốn trong thời gian tới. Vì thế bảng phân tích này được kết
cấu gần giống như một bảng cân đối giữa một bên là nhu cầu thanh toán và một bên là khả năng thanh toán. Qua đó có thể nhin rõ nhu cầu và khả năng thanh
toán của doanh nghiệp như thế nào trong thời gian trước mắt và triển vọng trong thời gian tới.
Cần lập bảng phân tích nhu cầu và khả năng thanh tốn. Mặt khác cần tính tốn được một số chi tiêu phản ánh được tình hình thanh tốn sau đây:
Tỷ suất thanh toán hiện hànhngắn hạn =
∑ Tài sản lưu động
∑ Nợ ngắn hạn

1
Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạnphải thanh tốn trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là cao
25
hay thấp. Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh tốn các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường, khả quan.
Thực tế nếu tỷ suất này 0,5 thì tình hình thanh tốn doanh nghiệp tương đối khả quan, doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được các yêu cầu thanh toán
nhanh. Ngược lại nếu 0,5 thì doanh nghiệp gặp khó khăn trong thanh tốn, cơng nợ do đó phải bán gấp hàng hóa, sản phẩm để trả nợ.Tuy nhiên trong khi
phân tích ta có thể xem xét tỷ lệ giữa vốn bằng tiền với tổng các khoản nợ. Nếu tỷ lệ này 0,5 thì tình hình thanh tốn của doanh nghiệp tương đối khả quan,
ngược lại 0,5 thì doanh nghiệp gặp khó khăn. Song nếu tỷ lệ này q cao thì khơng tốt vì vốn bằng tiền nhiều, gây ứ đọng vốn, vòng quay tiền chậm, hiệu
quả sử dụng vốn khơng cao.
Tỷ suất thanh toán của vốn lưu động
= Σ
Vốn bằng tiền
Σ
Tài sản lưu động Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu
động. Nếu chỉ tiêu này 0,5 hoặc 0,1 đều không tốt vì tiền nhiều gây ứ đọng vốn, việc sử dụng vốn khơng hiệu quả hoặc thiếu tiền để thanh tốn
Hệ số khả năng thanh toán là cơ sở để đánh giá khả năng thanh tốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp
. Nếu H
K
1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh tốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp là bình thường hoặc khả quan.
. Nếu H
K
1 chứng tỏ doanh nghiệp khơng có khả năng thanh tốn, tình hình tài chính gặp khó khăn, H
K
càng nhỏ thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp càng khó khăn, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh tóan bấy
26 Hệ số khả năng
thanh toán H
K
= Khả năng thanh toán
Nhu cầu thanh toán =
Hệ số thanh toán nhanh
Tiền + Đầu tư ngắn hạn ∑
Nợ ngắn hạn 0,5
nhiêu. Khi H
K

thì doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản, khơng còn khả năng thanh tốn.
Ngồi việc xem xét các chỉ tiêu trên, trong q trình phân tích khả năng thanh tốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp, để đánh giá được chính xác
hơn, người ta phải xem xét tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền, nghĩa là phải tính vòng quay các khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu
càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hơì càng nhanh các khoản nợ. Điều đó được đánh giá là tốt vì vốn bị chiếm dụng bị giảm đi. Tuy nhiên vòng quay các khoản
phải thu có thể quá cao, nếu điều này xẩy ra có nghĩa là phương thức tín dụng quá hạn chế và chặt chẽ có thể ảnh hưởng khơng tốt đến q trình tiêu thụ, làm
giảm doanh thu. Vì trong cơ chế hiện nay việc mua bán chịu là tất yếu khách quan vì đơi khi khách hàng rất muốn thời hạn trả tiền được kéo dài thêm. Cơng
thức tính vòng quay các khoản phải thu như sau:
Số vòng quay các khoản phải thu
= Doanh thu thuần
Bình qn các khoản phải thu Ngồi ra cần tính ra chi tiết thời gian cần thiết để thu hơì được các khoản
phải thu: Số ngày trung bình để
thu được các khoản phải thu =
Thời gian của kỳ phân tích Số vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiều này cho thấy để thu được các khoản phải thu thì doanh nghiệp cần một thời gian là bao nhiêu? Nếu số ngày này lớn hơn thời gian bán chịu quy
định cho khách hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm và ngược lại số ngày quy định bán chịu cho khách hàng lớn hơn thời gian này thì có dấu hiệu
chứng tỏ việc thu hồi nợ đặt trước kế hoặch về thời gian.

Nhóm chi tiêu hiệu quả sử dụng chi phí:
Hiệu quả sử dụng chi phí
= Tổng doanh thu
Tổng chi phí =
D C
27
Tỷ suất lợi nhuận chi phí
= Tổng lợi nhuận
Tổng chi phí =
Ln c

Nhóm chi tiêu hiệu quả khả năng sinh lợi của vốn:
Hệ số hoàn vốn Tổng tài sảnROA
= Lợi nhuận
Σ
Tài sản =
Ln Vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn sinh ra được bao nhiêu đồng lãi. Hệ số hồn vốn đầu
tư chung ROI =
Ln Vốn sử dụng
Trong đó số vốn sử dụng =

Tài sản - Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, nó phản ánh phần nào doanh nghiệp biết
sử dụng vốn của người khác như thế nào. Nó cho biết cứ một đồng vốn sinh ra được bao nhiêu đồng lãi.
Hệ số hoàn vốn chủ sở hữu
= Ln
Vốn CSH Hay:
Qua công thức trên ta thấy hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của hai nhân tố và được xác định bằng phương pháp loại trừ
+ Nhân tố hệ số vòng quay của chủ sở hưũ phản ánh trong kỳ kinh doanh, vốn chủ sở hữu quay được mấy vòng. Số vòng quay của vốn chủ sở hữu
càng tăng thì hệ số doanh lợi vốn chủ sở hữu càng tăng và ngược lại.
+ Nhân tố hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh cho biết một đồng doanh thu thuần đem lại mấy đồng lãi ròng. Số lãi đem lại trên một đồng doanh thu
thuần càng lớn thì khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu càng tăng.
28 Hệ số doanh lợi
của vốn CSH =
Doanh thu thuần Vốn CSH
. Lãi ròng
Doanh thu thuần
• Tỷ suất lợi nhuận doanh thu hay doanh lợi sản xuất
Phản ánh một đồng doanh thu đem lại mấy đồng lợi nhuận. •
Để đánh giá hiệu quả và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp ta dùng chỉ tiêu sau:
Tỷ suất lợi nhuận Thuần doanh thu
= Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
×
100 Để đánh giá tỷ suất là tốt hay xấu, ngoài việc so sánh nó với tỷ suất năm
trước, hoặc tỷ suất dự kiến để thấy rõ chất lượng và xu hướng phát triển của doanh nghiệp, mà còn phải xem xét tính chất của ngành kinh doanh mà
doanh nghiệp hoạt động.
Ví dụ: Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm độc quyền thì tỷ suất lợi nhuận = 10
÷
15, còn doanh nghiệp thương mại, bn bán hàng tiêu dùng = 2
÷
5 Tỷ suất lợi nhuận
vốn sản xuất =
Lợi nhuận thuần Vốn sản xuất bình qn
×
100
Đây chính là hệ số doanh lợi vốn sản xuất, nó phản ánh một đông vốn đầu tư cho sản xuất đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần.Trong đó số vốn sản xuất bao
gồm tài sản cố định và tài sản lưu động chỉ tiêu này còn gọi là tỷ suất lợi nhuận thuần trên tài sản sử dụng. Để đánh gía cần phải so sánh với tỷ suất của những
năm gần đây nhất cũng như so sánh với các dự kiến hay các doanh nghiệp khác cùng tính chất và quy mơ hoạt động.
Số lần chu chuyển của tổng tài sản
= Doanh thu thun

TS bỡnh quõn
ì
100 Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
29 Doanh li
sn xut =
Li nhun Doanh thu
Ba chỉ tiêu này có mối quan hệ hữu cơ với nhau và thể hiện qua công thức sau: Tỷ suất lợi nhuận thuần
trên vốn sản xuất tổng tài sản
= Tỷ suất lợi
nhuận thuần doanh thu
x Số lần chu
chuyển tổng tài sản

2.7 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định :


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn

Tải bản đầy đủ ngay(85 tr)

×