1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 58 (trang)
Nhà nớc tạo lập môi trờng đầu t Tạo lập môi trờng chính trị ổn định.

Nhà nớc tạo lập môi trờng đầu t Tạo lập môi trờng chính trị ổn định.

Tải bản đầy đủ - 58trang

Tỉ trọng của các hình thức đầu t trong tổng vốn đầu t và tổng vốn thực hiện hết năm 2003 Các dự án còn hiệu lực
VốN ĐầU TƯ
3.38
44.97
9.54 42.10
BOT 100 vốn nước ngoài
Hợp đồng HTLD Liên doanh
vốn thực hiện 3.37
41.00 33.43
22.20 BOT
100 vốn nước ngoài Hợp đồng HTLD
Liên doanh
Nguồn: Niên giám thống kê 2003, NXB Thống kê, Hà Nội-2003 và Bộ Kế
hoạch và Đầu t2004
II. Thực trạng về việc thực hiện vai trò quản lý nhà nớc với FDI
1. Nhà nớc tạo lập môi trờng đầu t 1.1. Tạo lập môi trờng chính trị ổn định.
Đứng trớc khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế
giới và khu vực, Đảng và nhà nớc ta đã luôn kiên định mục tiêu cách mạng và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin , t tởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó xây dựng
các chủ trơng, chính sách đổi mới. Đảng và Nhà nớc đã không ngừng củng cố quốc phòng giữ vững an ninh quốc gia trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của
khối Đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dới sự lãnh đạo của Đảng. Chính vì vây, theo đánh giá của các chuyên gia trong và ngoài nớc, Việt Nam có
đờng lối chính trị, chính sách kinh tế nhất quán, nội bộ lãnh đạo , Đảng và nhà nớc đoàn kết nhất trí khác với một số nớc trong khu vực có những thời đỉêm khác
nhau trong tiến trình phát triển, các phe phái lãnh đạo tiến hành lật đổ bắt bớ gây mất ổn định cho sự phát triển chung. Đây là yếu tố có tính chất quyết định cho sự
thành công của quá trình cải cách nền kinh tế, cải tiến cơ chế quản lý, cải tổ bộ máy hành chính, thực hiện nhất quán các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm tạo ra
môi trờng đầu t hấp dẫn đối với các nhà đầu t trong nớc và nớc ngoài.
1.2. Môi trờng pháp luật

Qúa trình hình thành hệ thống văn bản pháp luật về FDI. Văn bản đầu tiên của chính phủ nớc cộng hoà xã hội chủ nghiã Việt Nam quy
định các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ FDI tại Việt Nam là điều lệ đầu t của nớc ngoài tại Việt Nam ban hành kèm nghị dịnh 115-CP
ngày 1841977.
Bớc sang giai đoạn cải cách nền kinh tế theo cơ chế thị trờng mở quốc hội khoá 8 đã thông qua luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam vào ngày 29121987. Thời
24
kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nớc, việc thu hút FDI vào Việt Nam càng có ý nghĩa quan trọng. Hoạt động hợp tác đầu t với nớc ngoài đứng trớc những cơ hội và
thách thức mới. Luật đầu t nớc ngoài tiếp tục đợc hoàn thiện và đợc quốc hội khóa IX níc céng hoµ x· héi chđ nghÜa ViƯt Nam thông qua ngay 12111996.
Cùng với quá trình hoàn thiện luật đầu t nớc ngoài, nhà nớc Việt Nam đã ban hành các văn bản luật nh: luật dầu khí, luật đất đai, luật dân sự, luật ngân sách,
luật bảo vệ môi trờng, luật thơng mại..., pháp luật về quyền và nghĩa vụ tổ chức của cá nhân nớc ngoài thuê đất tại Việt Nam, đồng thời ban hành các văn bản pháp
quy hớng dẫn thi hành pháp luật nh các nghị định quy định chi tiết thi hành luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, các thông t hớng dẫn của bộ, ngành.
Đặc biệt trong những năm từ 1997-2000, trớc tình hình FDI vào Việt Nam liên tục suy giảm, nhà nỡ tiếp tục đổimới cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thu hút và triển khai FDI. chính phủ đã ban hành nghị định 12CP ngày 1821997 quy định chi tiết thi hành luật đàu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1996,
nghị định 10CP1998 ngày 23111998 về một số biện pháp khuyến khích và đảm bảo hoạt động FDI tại Việt Nam kèm theo danh mục các lĩnh vực, địa bàn khuyến
khích và đặc biệt khuyến khích đàu t, nghị định 621998NĐ-CP ngày 1581998 về đầu t theo hợp đồng BOT BTO BT áp dụng đới với hoạt động FDI.
Để nâng cao hơn nữa hiệu lực quản lý của các chính sách đảm bảo và chính sách đầu t, cải cách các thủ tục hành chính , tháo gỡ những khó khăn, vớng mắc và
giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiêp có vốn đầu t n- ớc ngoài, xoá bỏ sự can thiệp không cần thiết cảu các cơ quan nhà nớc vào hoạt
động của doanh nghiệp nhằm tăng cờng tính hấp dẫn và cạnh tranh của môi trờng đầu t Việt Nam.
Cho đến nay, có trên 100 văn bản pháp quy cụ thể hoá hớng dẫn luật đầu t nớc ngoài. ngoài các văn bản luật và văn bản pháp quy trong nớc quản lý về FDI, nhà
nớc đã ký kết những điều ớc liên quan. Đáng chú ý là các hiệp định cấp chính phủ về tránh đánh thuế 2 lần, công ớc thành lập tổ chức đảm bảo đầu t đa biên
MIGA, công ớc Niuoóc năm 1958 về công nhận thi hành các quyết định của trọng tài nớc ngoài, các hiệp định tín dụng, tài chính kí kết giữa chính phủ Việt
Nam với các tổ chức tài chính ngân hàng quốc tế hoặc với chính phủ nớc ngoài. Việt Nam gia nhập ASEAN, APEC , tham gia AFTA vµ ký kÕt hiƯp định khung về
đầu t ASEAN, ký hiệp định thơng mại Việt-Mỹ và đệ đơn xin gia nhập WTO, tất cả những cố gắng đó của Việt Nam nhằm nâng cao tính pháp lý của môi trờng đầu
t ở Việt Nam hoà nhập với thông lệ quốc tế.
Thời kỳ vừa qua, nh nhận xét của ngân hàng thế giới, Việt Nam đã có những bớc đi vững chắc trong cải cách pháp luật và tạo ra khung pháp lý phục vụ cho sơ
nghiƯp ®ỉi míi kinh tÕ, trong ®ã cã khung pháp luật đối với FDI. Tình hình thực hiện.
Cùng với các hoạt động tạo lập môi trờng chính tri, kinh tế vĩ mô ổn định, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, các hoạt động điều hành trực tiếp nh quy hoạch
25
thu hút FDI, xúc tiến đầu t, thẩm định cấp giấy phép đàu t và tạo điều kiện để triển khai thực hiện dự án đầu t, quá trình xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật
Việt Nam đã tạo ra khung pháp lý đảm bảo và khuyến khích cho các nhà đầu t nớc ngoài vào Việt Nam theo mục tiêu và định hớng của nhà nớc.
Các kết qủa đạt đợc về số dự án đợc cấp phép đầu t, tổng số vốn đầu t, địa bàn đầu t, các đối tác nớc ngoài đầu t vào Việt Nam là khá khách quan.
Về quan hệ pháp luật hình thành với các dự án đầu t:
Luật đầu t nớc ngoài quy đinh ba hình thức đầu t chủ yếu. Đó là: hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100 vốn nớc ngoài. Cả
ba hình thức trên đều đớc các nhà đầu t nớc ngoài lựa chọn vận dụng. Trong những năm gần đây có hiện tợng là nhiều doanh nghiệp liên doanh
chuyển đổi thành doanh nghiệp 100 vốn nớc ngoài hoặc 100 vốn trong nớc. Trong thời gian qua, FDI đầu t dới hình thức 100 vốn nớc ngoài có xu hớng tăng
lên cùng với sự chuyển đổi hình thức đầu t nớc ngoài liên doanh sang loại hình 100 vốn nớc ngoài. Điều đó phần nào phản ánh môi trờng kinh doanh ở nớc ta là
khá thuận lợi. Bởi vì thông thờng khi môi trờng kinh doanh khó khăn phức tạp về thủ tục hành chính, độ rủi ro cao, nhà đầu t nớc ngoài thờng lựa chọn hình thức
liên doanh để phía đối tác nớc chủ nhà đứng ra giải quyêt các thủ tục hành chính và chia sẻ rủi ro. Còn khi môi trờng kinh doanh thuận lợi hơn, đảm bảo kinh doanh
có lãi, nhà đầu t nớc ngoài lựa chọn hình thức kinh doanh 100 vốn nớc ngoài.
Theo bộ kế hoạch - đầu t, hầu hết các doanh nghiệp liên doanh sau khi chuyển thành doanh nghiệp 100 vốn nớc ngoài đều tiếp tục triĨn khai thùc hiƯn dù ¸n.
VÝ dơ: c«ng ty Cocacola Chơng Dơng chuyển đổi hình thức đầu t từ tháng 101998, năm 1999 tăng trởng 30, nộp ngân sách trên 3 triệu USD. Công ty bia
Poster Đà Nẵng trớc đây là công ty bia BGI Đà Nẵng sau khi chuyển đổi vẫn tiếp tục tăng trởng 60năm đang chiếm lĩnh thị trờng Đà Nẵng và Miền Trung.
Việc chuyển đổi doanh nghiệp liên doanh sang doanh nghiệp 100 vốn nớc ngoài đều xảy ra ở các doanh nghiệp liên doanh kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài. Nguyên
nhân chủ yếu dẫn đền thua lỗ trong các doanh nghiệp liên doanh là do đối tác nóc ngoài đeo đuổi những mục tiêu chiến lợc dài hạn, do trình độ quản lý của cán bộ
Việt Nam trong liên doanh cha đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý dẫn đến tình trạng hoặc là không nắm bắt đợc tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nên không bảo vệ đợc lợi ích của phía Việt Nam hoặc là đấu tranh bất hợp tác với nớc ngoài. Nhng dù thua lỗ do nguyên nhân nào thì đồng vốn của đối tác Việt
Nam mà chủ yếu là doanh nghiệp nhà nớcvẫn bị tiêu hao và ngan sách nhà nớc phải gánh chịu hậu quả của các liên doanh sau khi chuyển đổi trong khi doanh
nghiệp 100 vốn nứoc ngoài sau chuyển đổi đều tiếp tục triển khai thực hiện dự án và mở rộng sản xuất.
Về tình hình htực hiện pháp luật trong quảnlý tài chính, ngoại hối, chuyển
giao công nghệ và bảo vệ môi tròng, quản lý sử dụng lao động cũng đã
26
đạt đợc những kết qủa nhất định nhng vẫn tồn tại nhiều bất cập. Điều nay sẽ đợc nêu kỹ hơn trong thực trang về quản lý nhà nớc trong quá trình triển
khai dự án.
1.3. Môi trờng kinh tế vĩ mô

Kiềm chế có hiệu quả nạn lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Chỉ số lạm phát là chỉ tiêu tổng quát đánh giá mức độ ổn định kinh tế vĩ mô.
sau một thập niên lạm phát cao 2 con số liên tục trong 3 năm 1986 1989 lạm phát 3 con số với hiệu quả tiêu cực, nền kinh tế nớc ta lâm vào khủng hoảng
kéo dài những năm 1980. Từ năm 1989 đã chuyển sang một giai đoạn mới đợc đặc trng bởi hai cơn sốt lạm phát. Cho đến nay lạm phát đã giảm xuống còn một con
số. Điều đáng chú ý là nhà nớc có thể kiểm soát đợc lạm phát. So với năm 1996, mức tăng giá năm 1997 chỉ là 3,6. Năm 1998 tuy gặp những khó khăn về thiên
tai mức lạm phát chỉ dừng lại ở 9,2. Trong đó yếu tố chủ yếu làm tăng giá năm 1998 là do tăng giá lơng thực +23,1 tăng giá USD +16,2
Nh vậy cho đến năm 1998 chúng ta đã đạt đợc mục tiêu khống chế và kiểm soát lạm phát. Mức lạm phát giá cả hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ năm 1999 chỉ ở
mức 2, ở khía cạnh ổn định kinh tế vĩ mô, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt và thậm chí vợt kế hoạch dự kiến. Bội chi ngân sách giữ ở mức dới 5 GDP, cán cân xuất
khẩu gần nh cân bằng. Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt mức 11,2 tỷ USD, tăng hơn 20 so với năm 1998. có thể nói trên bề nổi của đời sống kinh tế xã hội
những chỉ tiêu phản ánh sự ổn định kinh tế vĩ mô dờng nh rất vững vàng.
Tuy nhiên, đằng sau sự ổn định đó lại ẩn chứa những nguy cơ xuất hiện triệu chứng thiểu phát, một căn bệnh cha từng gặp ở Việt Nam. Thật ra, tình hình giảm
giá cũng đã từng xuất hiện từ vài ba năm nay nhng trong thời gian rất ngắn và tổng mức lạm phát cả năm cao, duy năm 1999 thời gian rớt giá liên tục kéo dài hơn 8
tháng , lại gắn liền với tình trạng giá cả hầu hết mọi loại hàng hoá trừ dầu mỏ trên thị trờng thế giới đều giảm còn ở trong nớc hàng hoá tồn kho khá nhiều. Sự
nguội lạnh của thị trờng và giá cả gây ra những khó khăn về mặt công ăn việc làm, thu nhập và đời sống. Nhà nớc đã thực hiện một số các biện pháp khuyến khích
cầu nh hạ lãi suât ngân hàng, thực hiện chính sách đại đầu t thông qua các chơng trình đợc nhà nớc tài trợ nh
ng vẫn cha khắc phục đợc hiện tợng thiểu phát. Đây
là vấn đề cần sớm có các biện pháp giải quyết để khởi động lại nhịp độ đầu t, duy trì tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế.

Thực thi chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có sự kiểm soát của nhà n ớc
Trong nhiều thập niên đặc biệt là những năm đầu thập niên 80 nhà nớc Việt Nam đã thực thi một chính sách tỉ giá cố định và cố gắng ổn định theo tỉ giá danh
nghĩa đã làm cho tỉ giá hối đoái phản ánh giá trị đồng tiền dân tộc quá cao so với giá trị thực tế dẫn đến việc hạn chế xuất khẩu, kìm hãm xuất khẩu phát triển. Đây
là một bài học thực tiễn trong thập niên 80 của nớc ta.
27
Từ năm 1989 Việt Nam đã thực thi một cơ chế tỉ giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nớc, tức là không cứng nhắc theo một tỉ giá cố định và cũng không để tỉ giá
biến động một cáchd đột ngột gây tác hại cho hoạt động kinh tế đối ngoại. việc thực thi một chính sách tỉ giá hối đoái nh vậy. đã thực sự giúp các nhà xuất nhập
khẩu có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển. Từ đó tạo triển vọng cho vấn đề huy động vốn nớc ngoài.

Giải quyết thâm hụt ngân sách Trong thời gian qua. đối với Việt Nam việc giải quyết vấn đề thâm hụt ngân
sách đã đợc nhà nớc đặt lên hàng đầu trong nỗ lực của chính phđ nh»m tõng bíc thùc hiƯn cã hiƯu qu¶ chÝnh sách ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhà nớc đã thực hiện chủ trơng kiểm soát chặt chẽ ngân sách. Biểu hiện sinh động là việc ban hành luật ngân sách là cơ sở pháp luật cho hoạt động thu chi
ngân sách, từng bớc cố gắng giảm mức thâm hụt ngân sách. Đặc biêt trong năm 1997 và 1998 trớc tình trạng hết sức khó khăn của hoạt động thu ngân sách trong
bối cảnh đang xảy ra khủng hoảng kinh tế trong khu vực, nhà nớc đã liên tục có các giải pháp để đảm bảo đủ vốn cho đầu t phát triển, kinh tế tăng trởng ở mức tối
đa.
Tuy tình hình thâm hụt ngân sách có giảm đi nhng vẫn ở mức cao. Để bù đắp bội chi ngân sách nhà nớc, chính phủ đã phải tăng cờng vay vốn trong và ngoài n-
ớc, trong đó vay vốn nớc ngoài chiếm một tỉ trọng tơng đối lớn. Tuy nhiên, về dài hạn, biện pháp vay vốn nớc ngoài để đầu t nếu không quan tâm đến hiệu quả toàn
diện của đầu t, không có biện pháp thu hồi vốn một cách kiên quyết thì sẽ làm cho nợ nớc ngoài tăng dẫn đến mất uy tín trong thanh toán quốc tế và cũng có thể là
một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tiền tệ. Khi đó sẽ không thể vay tiếp để bù đắp bội chi ngân sách.

Phát triển hệ thống tài chính làm cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô Hệ thống tài chính có một vài trò quan trọng trong việc huy động các khoản
tiết kiệm từ các nguồn d thừa và phân bổ các nguồn vốn cho các đối tợng sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho các nhà đầu t, trong đó có các nhà đầu t nớc ngoài.
Trong thời gian qua ở Việt Nam cùng với quá trình đổi mới nỊn kinh tÕ, hƯ thèng tµi chÝnh chđ u lµ hệ thống ngân hàng đợc cải cách thành hai cấp
1.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho sự vận động FDI

Tăng tỷ trọng ngân sách cho XD cơ sở hạ tầng Trong những năm qua nhà nớc đã đóng một vai trò quan trọng trong việc mở
rộng các mối quan hệ ngoại giao với chính phủ các nớc, tạo mối quan hệ thiện cảm với Việt Nam trong cộng đồng tổ chức quốc tế. Vì vậy, nguồn ODA mà các
nớc và các tổ chức quốc tế tài trọ cho nớc ta ngày càng tăng. Do đó, nguồn vốn trực nớc ngoài đầu t vào nền kinh tế không ngừng tăng lên.
Nếu năm 1990, vốn đầu t xây dựng cơ bản của nhà nớc chỉ là 2418,6 tỉ VND thì năm 1999 tăng lên 48720,5 tỉ VND. Tốc độ tăng vốn đầu t xây dựng cơ bản
28
của nhà nớc bình quân trong thời kì này là 118,4năm. Có những năm tốc độ tăng tới 170,9 so với năm trớc.
Tuy nhiên phần lớn vốn đầu t của nhà nớc là dành cho khu vực đô thị và các khu công nghiệp, các công trình xây dựng cơ bản khác. Chính vì vậy các khu vực
đô thi của nớc ta có nhiều điều kiện để phát triển và phồn vinh. Trong khi đó nguồn vốn ngân sách đầu t cho nông thôn tuy tăng về mặt tuyệt đối nhng tỷ trọng
ngày càng giảm. Nếu tỷ trọng vốn đầu t xây dựng cơ bản cho nông nghiệp năm 1998 là 15,2 trong tổng vốn đầu t xây dựng cơ bản của nhà nớc thì năm 1999 chỉ
còn 9,7. Trong khi đó tốc độ tăng của tổng vốn đầu t xây dựng cơ bản của cả n- ớc là hơn 20 lần. Sự sút giảm này là nguyên nhân của sự trì trệ, kém phát triển về
cơ sở hạ tầng nông thôn trong những năm qua so với đô thị. Đồng thời đó cũng là nguyên nhân của sự kém hấp dẫn đối với các nguồn vốn đầu t khác của xã hội
trong đó có FDI.

Tăng c ờng huy động FDI cho ĐT XDCB d
ới hình thức BOT Để tăng cờng huy động vốn đầu t cho xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà nớc đã
không ngừng hoàn thiện chính sách khuyến khích các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật dới hình thức BOT.
Đầu t dới hình thức BOT đợc nhµ níc cho phÐp tõ khi ban hµnh lt sưa đổi, luật đầu t nớc ngoài năm 1992 và đợc cụ thể hoá bằng nghị định số 27CP ngày
23111993 của chính phủ ban hành qui chế đầu t theo hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao.
Để khuyến khích hơn nữa các nhà đầu t vào xây dựng cơ sở hạ tầng, luật đầu t nớc ngoài 1996 đã đa dạng hoá các hình thức đầu t theo loại hình này. Đó là hình
thứ BOT, BTO, BT. Trong nghị định 621998NĐ- CP ngày 1581998 ban hành quy chế đầu t theo hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh chuyển giao, hợp
đồng xây dựng- chuyển giao-kinh doanh và hợp đồng xây dựng chuyển giao áp dụng cho đầu t nớc ngoài tại Việt Nam.
Theo quy chế này những điều kiện u đãi nhất đối với hoạt động FDI đã đợc giành cho nhà đầu t dới hình thức này.
Do những điều kiện u đãi và đa dạng hoá hình thức đầu t cùng với những điều kiện khác về đầu t, ngày càng có nhiều nhà đầu t nớc ngoài đầu t theo hình thức
BOT.

Xây dựng KCX - KCN để khuyến khích đầu t Nhận thức đợc sự cần thiết và vai trò quan trọng của hình thức đầu t này, ngay
từ những năm đầu mở cửa, nhà nớc đã chú trọng quan tâm hoàn thiện môi trờng pháp lý, quy hoạch phát triển và tổ chức xây dựng KCX-KCN.
Tính đến hết tháng 12 năm 1999, cả nớc có 67 KCN, KCX và KCNC đợc thành lËp víi diƯn tÝch lµ 10454 ha cha kĨ KCN Dung Quất có diện tích là 14000
ha trong đó: + 3 KCX Tân Thuận-Linh Trung Hải Phòng
29
+ 1 KCNC Hoà Lạc + 63 KCN.
KCN đợc cấp giấy phép tập trung cả 3 miền, nhiều nhất là Nam Bộ 40 còn
Miền Bắc chỉ có 13 và Miền Trung có 14 KCN. 27 trong 61 tØnh thµnh phè cã KCN trong đó tập trung nhiều ở vùng tứ giác kinh tế trọng điểm phía nam thành
phố HCM, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu và Bình Dơng.
Có thể nói, đến nay các KCN đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế Việt Nam. Hoạt động của nó đã và đang đem lại những kết quả
đáng khích lệ cả về kinh tế và xã hội. Trong cac KCN và KCX hiện đã có 548 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài,
tổng số vốn đầu t đăng ký là 6363 triệu USD cha kể dự án liên doanh với Nga xây dựng nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất có số vốn đầu t 1,3 tØ USD, vèn thùc hiƯn
kho¶ng 2820 triƯu USD, mét số chi nhánh của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và gần 250 doanh nghiệp t nhân với vốn đầu t 13 nghìn tỉ VND.
Ngoài ra, khu công nghiệp và khu chế xuất còn tạo ra sự tác động qua lại với doanh nghiệp ngoài KCN và KCX. Quan hệ kinh tế giữa hai khu vực này la quan
hệ cung ứng vật t, nguyên vật liệu và hàng hoá tiêu dùng. Mối quan hệ này ngày càng phát triển.
Tuy nhiên sự phát triển của KCN, KCX ở nớc ta hiện nay còn nhiều hạn chế: + Trớc hết, quy hoạch KCN, KCX cha hợp lý dẫn đến việc xây dựng và phát
triển không theo quy hoạch phát triển chung mà chạy theo số lợng, phong trào, ch- a tính đến hiệu quả, dẫn đến tỉ lệ diện tích đất quy hoạch và cơ sở hạ tầng cho thuê
thấp, khoảng 20 so với diện tích đất quy hoạch 2000ha10000ha và 32 so với quỹ đất dành cho KCN. Tình trạng này kéo dài nhiều năm dẫn đến gây lãng phí và
ứ đọng vốn đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, lãng phí nguồn nhân lực. Trong 25 ban quản lý KCN đợc thành lập thì chỉ có 10 ban quản lý đợc đi vào hoạt động số còn
lại không có việc làm.
Vẫn còn tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các tỉnh, các vùng trong nớc và ngay cả trong cùng tỉnh cũng có sự cạnh tranh giữa các cơ quan cấp giấy
phép cho các dự án trong và ngoài KCN. Với tình hình cạnh tranh nh vậy , có thể làm giảm căn bệnh quan liêu, thủ tục rờm rà của các cấp chính quyền địa phơng,
tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t trong và ngoài nớc. Tuy nhiên vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu chính đáng của nhà đầu t. Mặt khác sự cạnh tranh không
lành mạnh cũng có thể phá vỡ quy hoạch đầu t của tình, của vùng và cả nớc nếu không có sự chỉ đạo chặt chẽ từ các cơ quan quản lý cấp trung ơng.
+ Quy hoạch phát triển KCN không gắn với quy hoạch đầu t nguôn nhân lực và bảo vệ môi trờng, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu ngoài KCN
phục vụ ăn ở, sinh hoạt, vui chơi, giải trí, học tập của ng
ời lao động. Vì vậy phát sinh các vấn đề nh: thiếu lao động cung cấp cho KCN, KCX gây ô nhiễm môi tr-
ờng, gây tác động tiêu cực nhiều mặt.

Phát triển nguồn nhân lực, tạo cạnh tranh cho môi tr ờng đầu t
30
Trong những năm vừa qua, Đảng và nhà nớc đã không ngừng quan tâm phát triển nguồn nhân lực. Trớc hết, đợc thể hiện ở việc tăng tỉ lệ chi ngân sách cho
giáo dục-đào tạo từ 1 năm 1991 lên 2,3 năm 1996 và 2 trong các năm từ 1997-1999.
Cùng với việc tăng tỉ lệ chi ngân sách cho giáo dục- đào tạo, nhà nớc đã có cơ chế chính sách để huy động nguồn vốn trong dân cũng nh của nhà nớc để đầu t
cho giáo dục-đào tạo. Có biện pháp nâng cao chất lợng đội ngũ giáo viên, giành những u tiên thích đáng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục - đào tạo để
có đợc đội ngũ giáo viên yêu nghề và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nhằm nâng cao chất lợng giáo dục- đào tạo. Chính vì vậy, chất lợng lao động nớc
ta đợc nâng cao đáp ứng phần nào nhu cầu về lao động có chuyên môn, kỹ tht cho nỊn kinh tÕ nãi chung còng nh khu vực có vốn đầu t nớc ngoài nói riêng. Tuy
nhiên, phát triển nguồn nhân lực nớc ta còn có những vấn đề bất cập sau:
+ Thứ nhất, nguồn nhân lực tăng nhanh, cơ cấu trẻ nhng chất lợng không cao: dân số tuổi lao động nớc ta tăng nhanh từ 33,9 triệu ngời năm 1999 lên gần 50
triệu năm 2003 bình quân mỗi năm tăng 1,1 triệu ngời gần 2,65năm tạo mức cung lớn về lực lợng lao động. Trong số lao động có trên 26 triệu ngời thuộc nhãm
tõ 15-34 ti nhãm cã nhiỊu u thÕ vỊ søc khoẻ, học vấn, tính năng động. Đây là một yếu tố lợi thế trong phân công lao động quốc tế.
Tuy nhiên, chất lợng nguồn lao động còn thấp, cha đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Tình trạng thể lực, trình độ học vấn và kỹ năng lao động của ngời
lao động còn nhiều bất cập. Trình độ học vấn của dân số trong tuổi lao động đã tăng lên và ở mức khá nhng có sự chênh lệch đáng kể giữa thành thị và nông thôn,
giữa các vùng. Tỷ lệ biết chữ chung của cả nớc là tơng đối cao, số năm đi học văn hoá phổ thông đã tăng nhng số năm đào tạo nghề lại rất thấp nên lao động có
chuyên môn kỹ thuật gồm từ sơ cấp đến chuyên môn sau đại học tuy có xu hớng tăng lên hàng năm 4.4 triệu năm 1996 đến 5.2 triệu năm 1999 nhng tỷ lệ đó so
với tổng số lao động lại thấp 12.29 năm 1996 và13.87 năm 1999. Điều đó cho thấy sau 4 năm, tỉ lệ lao động có chuyên môn kĩ thuật chỉ tăng đợc thêm
1.56. Nh vậy cho đến nay vẫn còn gần 86 lao động không có chuyên môn kĩ thuật. Tỉ lệ lao động không qua đào tạo so với tổng lao động làm việc trong nền
kinh tế nớc ta con quá thấp.
Tóm lại, trình độ kĩ thuật, tay nghề kĩ năng, kinh nghiệm quản lý của đội ngũ lao động Việt Nam còn rất thấp đồng thời ý thức kỷ luật và tinh thần hợp tác làm
việc tập thể cha cao. Đội ngũ cán bộ khoa học tuy có tiềm năng trí tuệ cao, tiếp thu nhanh tri thức mới nhng còn thiếu sự liên kết, thiếu tinh thần hợp tác và thiếu cán
bộ đầu đàn, cán bộ giỏi về kinh tế, quản lý, tài chính, ngân hàng, những công trình s, kỹ s thực hành giỏi
31
+ Thứ hai, cơ cấu nguồn nhân lực nớc ta phát triển không phù hợp với nhu cầu về cơ cấu lao động của nền kinh tế cũng nh không đáp ứng nhu cầu về lao động
của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài. Một nghịch lý là: trong khi tØ lƯ lao ®éng thÊt nghiƯp cđa nỊn kinh tế cao, hàng
năm số sinh viên tốt nghiệp ra trờng không tìm đợc việc làm thì rất nhiều doanh nghiệp cả doanh nghiệp có vốn đầu t trong nớc và nớc ngoài có nhu cầu tuyển
dụng lao động kỹ thuật và quản lý có trình độ nhng không đợc đáp ứng. Ví dụ: KCN Đồng Nai mỗi năm cần 60000 lao động có tay nghề trong đó 10 là trung
cấp kỹ thuật, 60 là thợ lành nghề, 25-30 là lao động phổ thông nhng trên thực tế chỉ đáp ứng 9,2 lao động kỹ thuật. ở Đồng Nai các doanh nghiệp cần tuyển
35000 lao động làm việc nhng 6 trung tâm xúc tiến việc làm chỉ giới thiệu 10000 ngời. ở thành phố HCM, theo điều tra của viện kinh tế ở 400 doanh nghiệp và của
sổ lao động thơng binh xã hội tại 650 doanh nghiệp về nhu cầu lao động năm 1998-2000 cho thấy thiếu trên 27 chuyên gia kỹ thuật và 33 công nhân kỹ
thuật. Trong khi đó, doanh nghiệp thừa 17 lao động không có tay nghề, riêng doanh nghiệp nhà nớc thừa trên 30.
Nguyên nhân của tình hình trên là do công tác dự báo của nhà nớc về nhu cầu lao động kể cả số lợng và cơ cấu cha tốt dẫn đến việc qui hoạch đào tạo nguồn
nhân lực cho nền kinh tế cha hợp lý, đặc biệt là quy hoạch đào tạo bồi dỡng cán bộ quản lý trong các cơ quan quản lý nhà nớc về FDI. Số cán bộ có năng lực trong
lĩnh vực này càng thiếu do nhà níc thùc hiƯn chđ tr¬ng ủ qun cÊp giÊy phÐp đầu t, quản lý hoạt động đầu t nớc ngoài cho các tỉnh thành phố trực thuộc trung -
ơng và ban quản lý các KCN-KCX.
Không chỉ thiếu cán bộ quản lý nhà nớc có trình độ chuyên môn năng lực và phẩm chất trong các cơ quan quản lý nhà nớc về đầu t nớc ngoài, số lao động tham
gia quản lý trong các doanh ngiệp có vốn đầu t nớc ngoài cũng nh lao động kỹ thuật, đội ngũ công nhân lành nghề cũng không dáp ứng đợc nhu cầu của khu vực
có vốn đầu t nớc ngoài. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại lớn của đối tác Việt Nam trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
khi tiếp nhận chuyển giao công nghệ, hạch toán kinh doanh Ng
ời lao động chỉ
đợc hởng lơng thấp vì do năng suất lao động thấp vì không có trình độ chuyên môn cao. Cũng chình vì vậy, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài phải sử dụng
lao động nớc ngoài và họ đợc hởng lơng cao hơn so với lao động Việt Nam rất nhiều. Cuối cùng là sự thiệt hại của nhà nớc Việt Nam về thất thu ngân sách. Nhìn
một cách tổng thể là sự thiệt hại của đất nớc Việt Nam khi tham gia hợp đầu t với nớc ngoài.
2. Quản lý nhà nớc trong quá trình thực hiện dự án FDI Đầu t trực tiếp nớc ngoài hoạt động dới hình thức dự án đầu t. Nh vậy, dự án
đầu t là đối tợng quản lý trực tiếp của các cơ quan quản lý nhà nớc về đầu t nớc
32
ngoài. Quản lý dự án đầu t đợc thực hiện theo một chu kỳ từ quản lý khâu hình thành dự án đầu t đến khâu thẩm định cấp giấy phép, triển khai thực hiện dự án
theo giấy phép đã đợc cấp, quản lý khi dự án đi vào hoạt động và kết thúc dự án. trong những năm qua, hoạt động quản lý trực tiếp của nhà nớc với FDI đã tạo điều
kiện thuận lợi cho sự vận động của các dự án có vốn đầu t nớc ngoài nhằm thực thi chính sách pháp luật của Đảng và nhà nớc về FDI.
2.1. Giai đoạn chuẩn bị đầu t
Ban hành danh mục dự án kêu gọi hợp tác đầu t với n
ớc ngoài: Xây dựng và ban hành danh mục dự án kêu gọi hợp tác đầu t với nớc ngoài là
hoạt động cực kỳ quan trong của các cơ quan quản lý nhà nớc để định hớng hoạt động FDI phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế.
Theo đánh giá chung, danh mục dự án do bộ kế hoạch - đầu t, cách ngành, sở kế hoạch đẩu t, địa phơng xây dựng còn ở dạng sơ sài cha đủ hấp dẫn để thu hút
các nhà đầu t nớc ngoài. Nội dung của các dự án đầu t còn quá chung chung, cha đa ra đợc thông số kỹ thuật chính xác để tạo điều kiện cho các nhà đầu t nớc ngoài
tìm hiểu cơ hội đầu t. Các dự án mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá sơ bộ, nêu lên cơ hội đầu t.
Do thiếu qui hoạch đồng bộ và chính sách bảo hộ trong nớc, không có chính sách định hớng rõ ràng, FDI chỉ tập trung vào một số ngành có khả năng sinh lợi
nhanh, những ngành không thực sự cần thiết, những ngành mà trong nớc đã có khả năng sản xuất và đáp ứng nhu cầu. Vì vậy, đã tạo ra áp lực không đáng có của các
doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực này nh ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống, bột giặt, lắp ráp điện tử. Trong cuộc cạnh tranh với các
chàng khổng lồ, doanh nghiệp trong nớc nếu không đợc chuẩn bị sẽ bị mất thị phần của mình. Ví dụ: công nghiệp điện tử liên doanh với nớc ngoài tăng 30, lập
tức khu vực trong nớc giảm 5 và tơng tự nh vậy với các ngành khác.
33
Tình hình khai thác công suất của một số ngành hàng của các dự án FDI
STT Mặt hàng
Công suất cho phép Công suất đã
huy động Tỉ lệ huy động
công suất cho phép
1 Thép XD thông thờng 1197Tấnnăm 600000
50 2 Ô tô dới 12 chỗ
65600xenăm 6600
10 3 Xe vận tải
94700xenăm 2850
3 4 Xe máy
1.28 triệu xenăm 100000
8 5 Xi măng đen
10.5 triệu xenăm 1.9
18 6 Tủ lạnh
300000 chiếc năm 60000
20 7 Sọi các loại
133200 tấnnăm 20000
15 8 Vải các loại
325 triệu métnăm 65
20 9 Chất tẩy rửa xà bông
138000 tấnnăm 100000
35 10 Phân bón NPK
660000tấnnăm 30000
5 11 Phòng khách sạn
24000 phòngnăm 5000
21
Nguồn: Bộ Kế hoạch Đầu T - Báo cáo tổng kết 10 năm 1987-1997 về hoạt
động FDI tại Việt Nam. Nh vậy công tác ban hành danh mục dự án kêu gọi đầu t nớc ngoài đã có
những biến chuyển nhng cha theo kịp yêu cầu thực tiễn. Hiện trạng đầu t nớc ngoài ở Việt Nam đòi hỏi công tác này phải cã sù chun biÕn vỊ chÊt.
• Xúc tiến đầu tư, và hướng dẫn hợp tác đầu tư nước ngoài
- Xúc tiến đầu tư là hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư nước ngồi để gọi vốn cho các dự án đầu tư theo dự định. Nó bao gồm
hoạt động tuyên truyền, quảng cáo về chính sách thu hút đầu tư của nhà nước Việt Nam, các dự án kêu gọi vốn đầu tư của Việt Namđối với các
nhà đầu tư nước ngoài.
Trong thời gian qua, bộ kế hoạch đầu tư đã tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến đầu tư một cách độc lập hoặc phối hợp với các bộ các ngành có liên quan như bộ
Thương Mại, bộ Khoa Học Công Nghệ Và Mơi Trường, phòng cơng nghệ và thương mại Việt Nam, báo đầu tư, đài truyền hình Việt Nam, mang internet để
tổ chức các diễn đàn, hội thảo và triển lãm, tuyên truyền, giới thiệu các văn bản đầu từ nước ngoài, sách hưỡng dẫn đầu tư nước ngoài.
Năm 1999 triển khai thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại các bộ, ngành, tổng công ty, các cơ quan đại diện của nước ta tại một số địa bàn trọng điểm của
nước ngoài để chủ động vận động thu hút FDI. - Hướng dẫn phía Việt Nam hợp tác đầu tư nước ngoài
34
Để hoạt động hớp tác đầu tư nước ngồi tiến hành nhanh chóng và có hiệu quả, quản lý nhà nước phải hướng dẫn phía Việt Nambao gồm các bộ, ngành,
UBND cấp tỉnh, doanh nghiệp Việt Namđược phép hợp tác đầu tư nước ngoài. Theo quy đinh tại điều 2 nghị định 12CP ngày 18-2-1997, các doanh nghiệp
Việt Namthuộc mọi thành phần kinh tế và các tổ chức của Viêt Nam thuộc đối tượng nêu tại điều 65 của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Namđáp ứng các điều
kiện do chính phủ quy định đựơc quyền chủ động tìm kiếm, lựa chọn đối tác nước ngồi. Đối với những dự án quan trọng, các bộ, UBND cấp tỉnh chịu trách
nhiệm lựa chọn, bố trí đối tác Việt Namđủ năng lực chun mơn và tài chính để hợp tác với đối tác nước ngoài, cần phải tổ chức tốt việc lựa chọn đối tác nước
ngoài bằng các biện pháp thích hợp như đấu thầu, lựa chọn, sử dụng nhiều biện pháp để kiểm tra năng lực tài chính, tư cách pháp lý của đối tác.
Nhà nước quy định các điều kiện về tư cách pháp nhân, sở hữu tài sản góp vốn, trình độ quản lý với doanh nghiệp nhà nước thuộc các thành phần kinh tế
hợp tác với nước ngồi. Đối với một số ngành nghề đòi hỏi chun mơng sâu như tài chính, ngân hang và một số ngành công nghiệp then chốt, doanh nghiệp
Việt Namphải có kinh nghiệm và có khả năng sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực này.

Nhà nước thực hiện thẩm định và cấp giấy phép đầu tư nhằm định hướng hoạt động FDI theo chiến lược phát triển kinh tế.
Công tác thẩm định hồ sơ dự án là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm xem xét một cách khách quan khoa học và toàn
diện các nội dung của dự án ảnh hưởng trực tiếp tới tính hớp pháp, khả thi và tình hiệu quả của dự án để ra quyết định đầu tư.
Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngồi, nhà nước có những cải tiến về thủ tục thẩm định, cấp giấy phép đầu tư, quy định rõ trách
nhiệm quyền hạn và thời gian cụ thể đối với từng cấp được quyền thẩm định cấp giấy phép đầu tư với dự án FDI. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này đã có
những cải cách mang tính đột phá. Việc cấp giấy phép đầu tư được thực hiện theo một trong hai quy trình:
+ Đăng kí cấp giấy phép đầu tư + Thẩm định cấp giy phộp u t
2.2. Điều hành của nhà nớc trong giai đoạn thực hiện dự án .
Trong giai on ny, hoạt động quản lý nhà nước nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đã được cấp giấy phép tổ chức triển khai dự án đầu tư. Trong thời
gian qua, hoạt động diều hành của cơ quan quản lý nhà nước trong giai đoạn này còn nhiều bất cập. Do phân công trách nhiệm không rõ rang, lúng túng dẫn đến
buông lỏng quản lý làm cho dự án hoạt động khơng đúng mức, gấy khó khăn phiền hà cho triển khai dự án. Hoạt động quản lý nhà nước còn thiếu hoặc chưa
35
chú ý tới việc sử dụng các cơng cụ quản lý hữu hiệu như kiểm tốn giám định, nghiệm thu, đấu thầu. Một số vấn đề về thủ tục cấp đất, thủ tục xây dựng cũng là
những nổi cộm gây chậm chễ trong triển khai dự án.
• Về tổ chức bộ máy nhân sự:
Quản lý nhà nước liên quan đến tổ chức nhân sự của doanh nghiệp và đại diện cho các bên trong hợp doanh thơng qua hoạt động của phía Việt Nam trong
liên doanh, đặc biệt là khi phía Việt Nam là cơ quan hoặc doanh nghiệp nhà nước.
Thành viên bên Việt Nam trong hội đồng quản trị doanh nghiệp và trong điều phối hợp tác kinh doanh chịu trách nhiệm trước doanh nghiệp Việt Nam
hợp tác với nước ngoài về việc thực thi các quyết định của doanh nghiệp và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên doanh, trong việc thực thi pháp luật và
theo dõi kiểm tra hoạt động của liên doanh theo đúng quy định của giấy phép đầu tư, của pháp luật vn .
Thành viên của Việt Nam trong liên doanh giữ trọng trách lớn, vùa phái cùng đối tác nước ngoài điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, vừa phải đại
diện cho Việt Nambảo vệ quyền lợi phía Việt Nam và của nhà nước VN . Việc bố trí nhân sự là thành viên của bên Việt Nam trong hội đồng quản trị
của doanh nghiệp liên doanh là do đề bạt từ doanh nghiệp hoặc do từ cơ quan Việt Namđược nhà nước cho phép góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đối với
nhiều dự án bên Việt Nam liên doanh hoạt động trọng lĩnh vực không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh với nước ngoài. Mặt khác lĩnh vực hợp tác
đầu tư với nước ngoài là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, các nhà đầu tư nước ngoài là những người vừa giàu kinh nghiệm trong quản lý điều hành, vừa lắm
thủ thuật. Vì vậy, cán bộ Việt Namđược bố trí nhiều người nhưng khơng đáp ứng được nhu cầu và khơng làm tròn được nhiệm vụ.
• Cho th đất để thực hiện dự án đầu tư.
Doanh nghiệp Việt Nam có vốn đầu tư nước ngồi nộp hồ sơ xin phép sử dụng đất theo quy định tại chương IV nghị định 12CP và thông tư 679TT của
tống cục địa chính ngày 1551997. Vấn đề cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư theo phản ánh của nhà đầu tư nước ngồi còn có những tồn tại sau:
+ Giá thuê đất ở Việt Nam còn ở mức cao so với nhiều nứơc trong khu vực. Nếu tính cả chi phí đền bù, giải toả thì giá đất bị đấy lên cao. Đây là một yếu tố
làm giảm sực cạnh tranh thu hút đầu tư. + Thủ tục cấp đất còn phức tạp, kéo dài. Theo sự phản ánh của một số doanh
nghiệp tại Hà Nội, để có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải qua 11 cơ quan với 8 chữ kí, trùng lặp nhiều lần của các nhà lãnh đạo cơ quan chức
năng thành phố như phó chủ tịch thành phố 2 người – 3 lần, giám đốc sở địa chính – 3 lần, kiến trúc sư trưởng thành phố - 2 lần.
36
2.2.Điều hành của nhà nước khi dự an FDI đi vào hoạt động. Điều hành của nhà nước về xuất nhập khẩu đối với dự án FDI.
Công tác quản lý xuất nhập khẩu đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngồi đã đảm bảo thực hiện được chính sách xuất nhập khẩu của nhà nước đối với khu vực FDI, đảm bảo được những ưu đãi khuyến khích của nhà nước về
nhập khẩu thiết bị, máy móc, vật tư và các phương tiện vận tải chuyên dùng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài cũng như ngày càng tạo điều kiện thuật lợi hơn cho hoạt động nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất và xuất khẩu hàng hoá.
Trong những năm qua, công tác điều hành xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có những cải tiến đáng kể như xố bỏ giấy phép xuất nhập khẩu theo từng
chuyến hang, cho phép các doanh nghiệp kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi chỉ cần có giấy phép kinh doanh là có thể tham gia xuất nhập khẩu
hang hố theo giấy phép chứng nhận đăng kí kinh doanh sau khi đã đăng kí mà số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tại các cục hải quan tỉnh, thành phố.
Các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh có thể xuất khẩu mặt hàng mới không nằm trong giấy phép kinh doanh. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi
mở rộng cơ hội kinh doanh của mình và có thể phát huy được thế mạnh về khai thác thị trường xuất khẩu.
Mặt khác cùng với việc phân quyền cấp giấy phép kinh doanh và quản lý FDI của bộ kế hoạch - đầu tư cho uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, ban quản lý
khu công nghiệp, bộ thương mại và tổng cục hải quan cùng thực hiện phân quyền, điều hành xuất nhập khẩu cho các cơ quan địa phương tạo điều kiện giải
quyết nhanh chóng các thủ tục xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.
Cơng tác điều hành xuất nhập khẩu trong những năm qua đã ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực FDI, đã phat huy
được phần nào lợi thế trong xuất khẩu của khu vực này. Chính vì vậy, hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI đã góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất nhập khẩu
của cả nước.
Nếu như ở giai đoạn 1988-1991, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới xuất khẩu được 52 triệu USD thì năm 1995 là 400 triệu USD và năm 1999
là 2577 triệu USD, nâng tỉ trọng giá trị kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Namtừ 2,5 năm 1991, 4,3
năm 1992 lên 22,4 năm 1999.
Điều đáng chú ý là trong giai đoạn vừa qua nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi đang trong q trình xây dựng, chuẩn bị sản xuất hoặc sản xuất
thử nên ở khu vực này vẫn còn tình trạng nhập siêu. Hai năm 1995, 1996 mỗi năm nhập siêu trên 1 tỉ USD, từ năm 1997 nhập siêu giảm: Năm 1997 là 900
37
triệu USD, năm 1998 là 686 triệu USD, 1999 là 825 triệu USD. Tỷ trọng nhập siêu khu vực FDI thường chiếm trên 30 tổng nhập siêu của Việt Nam.
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi đang có những biểu hiện sản xuất kinh doanh theo hướng sản xuất hang hoá thay thế
hang nhập khẩu. Theo thống kê chính thức của bộ thương mại, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của FDI năm 1999 là 2,577 tỉ USD so với doanh thu là 4,6 tỷ
USD thì tỉ lệ giá trị kim ngạch xuất khẩu chiếm 56 so với doanh thu. Nhưng trong tổng kim ngạch xuất khẩu thì xuất khẩu dầu thơ là 2,019 tỉ USD. Như vậy
tỷ lệ xuất khẩu các mặt hang còn lại 0.558 tỷ USD chỉ là 21,6. Như vậy gần 80 sản phẩm của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được tiêu thụ trên thị
trường nội địa.
38
T×nh h×nh thùc hiƯn xt nhËp khÈu cđa khu vực có FDI từ 1991 đến 1999 Năm
1991 1992
1993 1994
1995 1996
1997 1998
1999 1. Giá trị kim ng¹ch xt khÈu cđa
khu vực có FDI 52
122 257
232 440
1790 1982
2577 3220
2. Giá trị kim ng¹ch nhËp khÈu cđa khu vùc cã FDI
- -
- 600
1468 2890
2668 3398
4350 3. Chªnh lƯch xt nhËp khÈu cđa khu
vùc cã FDI -
- -
-368 -1028
-900 -286
-821 -1030
4. Gi¸ trị kim ngạch xuất khÈu cđa ViƯt Nam
2089 2580
2985 4054
7255 9185
9361 11523
14300 5. Giá trị kim ngạch nhập khẩu của
Việt Nam 2338
2540 3924
5825 11143
11592 11445
11636 15200
6. Chªnh lƯch xt nhËp khÈu cđa ViƯt Nam
-251 40
-963 -1771
-3888 -2407
-2134 -113
-900 7. Tû träng giá trị xuất khẩu khu vực
có vốn đầu t FDI tổng giá trị xuất khẩu việt nam
2.5 4.35
8.6 5.7
10.8 19.5
21.7 22.4
23.2
8. Tỷ trọng giá trị nhập khẩu khu vực có vốn đầu t FDI tổng giá trÞ nhËp
khÈu viƯt nam -
- -
10.3 18.3
24.9 23.2
-29.2 32.9
9. Tû träng nhËp siªu cđa khu vùc FDI tỉng nhËp siªu Việt Nam
- -
- 20.7
32.3 37.4
32.1 72.6
114.4 Nguồn : Niên giám thống kê 1998- NXB Thống kê Hà Nội, Tạp chí kinh tế và dự báo tháng1 năm 2001.
39
Nh vy vic cân bằng xuất nhập khẩu và tiến tới xuất siêu là mục tiêu mang tính nguyên tắc mà các nhà quản lý vĩ mô phải kiên quyết đeo đuổi trong hoạt
động điều tiết của mình đối với hoạt động kinh doanh của khu vực có vốn đầu tư nước ngồi. Bởi vì nó là một trong những yếu tố đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô
lâu dài.
- Quản lý nhà nước về sử dụng lao động trong khu vực FDI. Tính đến tháng 9 năm 2003 các doanh nghiếp có vốn đầu tư nước ngồi đã
thu htú trên 40 vạn lao động Viẹt Nam trực tiếp làm việc tại khu vực này với thu nhập hang trăm triệu USD. Đồng thời tạo việc làm và thu nhập cho hàng chục
vạn lao động trong các ngành phục vụ và dịch vụ khác.
Theo dự toán sơ bộ của các nhà kinh tế, số vốn cần có để tạo ra một chỗ làm của khu vực trong nước là 20 đến 25 triệu đồng tương đương với 2000 trong
khi đó ở khu vực có vốn đầu tư nước ngồi chỉ số vốn thực hiện trên một lao động lớn hơn nhiều lần: năm 1994 là 32.000 , năm 1996 là 59.000. Điều này
phản ánh là việc làm trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng ngày càng nhiều công nghệ tiên tiến hơn so với các khu vực kinh tế khác. Đây là cơ sở để
nâng cao năng suất lao động.
Một số kết quả về số lượng và chất lượng việc làm mà khu vực FDI tạo ra cũng như thu nhập của người lao động Việt Namlàm việc trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi thể hiện những thành công trong công tác quản lý nhà nước về sử dụng lao động trong lĩnh vực này:
+ Công tác quản lý đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động được chấp hành tốt. Đa số lao động Việt Namlàm việc trong khu vực này đều được đào tạo
tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi hoặc được gửi đi đào tạo lại ở nước ngoài để đáp ứng nhu cầu sử dụng các thiết bị công nghệ sản xuất mới, ngành
nghề mới.
+ Quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từng bước được cải thiện. Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài đều nhận thức được
rằng muốn phát triển sản xuất kinh doanh, làm ăn lâu dài ở Việt Namphải quan tâm đến quyền lợi và điều kiện làm việc của người lao động, phải hợp tác với
người lao động, nhất là các tổ chức cơng đồn cơ sở tại các doanh nghiệp.
Tuy nhiên sử dụng lao động trong khu vực FDI còn có những hiện tượng chưa tuân thủ theo pháp luật như vi phạm vấn đề trả lương, thời gian lao động,
về sử dụng lao động khơng kí hợp đồng lao động và đặc biệt vi phạm về nhân phẩm. Một trong nhưng nguyên nhân của những tồn tại đó là do cơng tác quản
lý nhà nước về vấn đề này còn có hạn chế:
+ Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý sử dụng lao động trong khu vực FDI tuy được ban hành đầy đủ nhưng những quy định này được thể hiện ở
những văn bản khác nhau khiến việc tìm hiểu và vận dụng gặp nhiều khó khăn,
40
đặc biết với người nước ngồi và người lao động Việt Namvới trình độ kiến thức chun mơn còn thấp, mức độ am hiểu pháp luật còn hạn chế.
+ Cơng tác tổ chức bộ máy quản lý về sử dụng lao động trong khu vực này chưa hợp lý.
Hiện nay, theo dõi, xử lý mối quan hệ lao động và người sử dụng lao động do cơng đồn - Một tổ chức do ngừơi lao động thành lập nhưng chi phí hoạt
động lại do người sử dụng lao động cấp. Thực tế ở nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tổ chức cơng đồn khơng được thành lập. Vì vậy ở một mức
độ nhất định nào đó cơng đồn khơng thể bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
Đ iỊu hµnh cđa nhµ n
ớc với hoạt động chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi tr
ờng trong hoạt động FDI. Công tác quản lý nhà nớc về chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trờng thực
tế đã đợc tiến hành ở giai đoạn thẩm định dự án. Nhng kết quả của công tác thẩm định có đợc thực hiện hay không lại phụ thuộc vào khâu quản lý thuẹc hiện
chuyển giao công nghệ gắn với việc quản lý nhập khẩu thiết bị máy móc công nghệ.
Trong những năm qua, cùng với sự hoàn thiện về môi trờng pháp lý điều chỉnh hoạt động chuyển giao công nghệ, công tác điều hành hoạt động chuyển giao công
nghệ đã đạt đợc những thành công đáng kể. Thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã tạo ra những ngành nghề
mới, sản phẩm mới, nguồn lực sản xuất mới, công nghệ mới.
Tuy nhiên hoạt động chuyển giao công nghệ trong khu vực này còn nhiều bất cập nh chuyển giao công nghệ với trình độ cha đạt mong muốn, chuyển giao công
nghệ cha gắn với mục tiêu bảo vệ môi trờng. Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu, thiếu tính đồng bộ đang báo động nguy
cơ nớc ta trở thành bãi rác thải công nghệ của các nớc phát triển hơn, do vậy đã làm tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng,
nguy cơ gia tăng mức độ lạc hậu đồng thời gây ô nhiễm môi trờng và ảnh hởng sức khỏe ngời lao động.
Nguyên nhân dẫn đến những bất cập đó có những vấn đề ở khâu quản lý nhà nớc:
+ Thứ nhất: môi trờng pháp lý về hoạt động chuyển giao công nghệ cha theo kịp với thực tiễn của hoạt động chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực FDI.
+ Thứ hai: công tác điều hành của nhà nớc đối với hoạt động chuyển giao công nghệ trong hoạt động FDI cha tuân theo qui định của pháp luật.
+ Thứ ba: công tác thẩm định phê duyệt hợp đồng chuyển giao công nghệ là vấn đề khó khăn phức tạp trong khi điều kiện của đội ngò c¸n bé khoa häc kinh tÕ
cđa níc ta cha đáp ứng kịp sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật. Có thể nói chúng ta cha làm chủ đợc công nghệ đợc chuyển giao trong khi hoạt động chuyển giao
công nghệ diễn ra rộng khắp các ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh.
41
+ Thứ t : Công tác hổ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ còn hạn chế + Thứ năm: Cha có cơ sở pháp lí để xử lí hành vi vi phạm về bảo vệ môi tr-
ờng với hoạt động FDI . Theo đánh giá, tiêu chuẩn bảo vệ môi trờng theo quy định pháp luật Việt Nam
là tơng đối cao so với một số níc trong khu vùc. Nhng thùc tÕ thùc hiƯn cßn nhiều hạn chế. Do đội ngũ chuyên gia về lĩnh vực môi trờng của chúng ta cha đầy đủ về
số lợng, kiến thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cha cao, cơ sở vật chất kỹ thuật để kiểm tra đánh giá hoạt động môi trờng vẫn lạc hậu. Vì vậy, thực trạng vẫn
còn có các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài vi phạm về bảo vệ môi trờng. Vấn đề đó đợc xử lý tuỳ tiện, không có cơ sở pháp lý để xử lý hành vi này.
Quản lý nhà n
ớc về tài chính và ngoại hối đối với dự án FDI. Công tác quản lý nhà nớc về tài chính và ngoại hối đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu t nớc ngoài góp vốn và chuyển vốn vào đầu t ở nớc ta. Nhà nớc đã có sáng tạo cho phép bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để
nâng tỉ lệ vốn góp của bên Việt Nam. Trong điều kiện góp vốn của Việt Nam còn hạn chế do tỉ lệ tích luỹ thấp và thị trờng vốn của Việt Nam còn cha phát triển ảnh
hởng đến khả năng huy động vốn. Công tác quản lý nhà nớc trong lĩnh vực này cũng đã đảm bảo đợc những u đãi của nhà nớc trong thực hiện chính sách thuế đối
với những doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài theo định hớng u tiên, u đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, sử dụng lao động Việt Nam, có số vốn đầu t lớn, đầu
t vào cơ sở hạ tầng
Nộp ngân sách của khu vực FDI năm 1994 là 128 triệu USD, 1995: 195 triệu
USD, 1996: 263 triÖu USD, 1998: 320 triÖu USD, 1999: 271 triÖu USD, 2000: 200 triệu USD. FDI đã đong góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách hàng năm là trên 1
4 ngân sách cả nớc.
Tuy nhiên hoạt động tài chính và ngoại hối trong khu vực có vốn đầu t nớc ngoài còn nhiều bất cập nh:
+ Trong quá trình góp vốn bên nớc ngoài đã khai vống giá trị thiết bị máy móc để nâng tỷ lệ vốn góp trong liên doanh.
+ Bên Việt Nam nhận nợ của nớc ngoài từ giá trị quyền sử dụng đất và từ các nguồn khác từ ngân sách nhà nớc để góp vốn liên doanh đã không đảm bảo trả nợ
mà kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất cả vốn phải rút ra khỏi liên doanh. Nguyên nhân của những tồn tại trên một phần là do sự yếu kém về công tác
quản lý của bên đối tác Việt Nam trong liên doanh với nớc ngoài và những hạn chế về công tác quản lý nhà nớc nh:
+ Thứ nhất: cơ sở pháp lý về quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp có vốn đầu t níc ngoµi ban hµnh chËm vµ cha hoµn chØnh.
+ Thø hai: cha thực hiện tốt các công cụ để triển khai công tác quản lý góp vốn đối với bên nớc ngoài một cách hữu hiệu.
+ Thứ ba: giữa công tác kiểm toán và công tác thu thuế cha có sự hợp tác thống nhất gây phiền hà sách nhiễu đối với doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
42
3. Đánh giá về việc thực hiện vai trò quản lý nhµ níc víi FDI 3.1. Thµnh tùu

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhà nớc tạo lập môi trờng đầu t Tạo lập môi trờng chính trị ổn định.

Tải bản đầy đủ ngay(58 tr)

×