1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 100 (trang)
Tình hình chung về quan hệ đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam

Tình hình chung về quan hệ đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 100trang

FDI. ODA của Nhật Bản thường đi trước một bước so với FDI tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động FDI ở các nước tiếp nhận, hay còn gọi là vai trò “dọn
đường” cho hoạt động này được thuận lợi hơn. Cùng với các biện pháp hỗ trợ khác, ODA là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp các nhà đầu tư Nhật
Bản hạn chế được rủi ro trong hoạt động FDI
Như vậy qua nghiên cứu một cách tổng quát, ta có thể hiểu được một cách hệ thống về quá trình phát triển, thực trạng hoạt động FDI của Nhật Bản tại Việt
Nam cũng như những đặc điểm nổi bật của nó. Tuy nhiên cũng phải nhận thức được rằng, FDI là một hiện tượng “động” vì vậy những đặc điểm của nó có thể
thay đổi hoặc biến đổi dưới dạng này hay dạng khác tuỳ thuộc vào thời điểm cũng như bối cảnh kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng có liên quan đến nó.

2. Tình hình chung về quan hệ đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam


Có thể khẳng định rằng, bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản hiện nay là sự tiếp tục truyền thống tốt đẹp vốn có từ lâu giữa hai
nước. Thực tiễn trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế ở nước ta cho thấy, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, Nhật Bản đã góp phần quan trọng tạo
nên bước tiến của các ngành công nghiệp, thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Ngồi ra chính phủ Nhật Bản còn viện trợ nhân đạo, y tế,
văn hố, giáo dục có quy mơ cho Việt Nam. Đây cũng là nhân tố thuận lợi mở đầu cho việc phát triển sự hợp tác chặt chẽ hơn, giúp giải quyết những vấn đề
khó khăn
nảy sinh để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp về mọi mặt giữa Việt Nam và Nhật Bản. Nhờ thực hiện thành công đường lối đổi mới với chính sách đối ngoại
rộng mở, đa dạng hố và đa phương hoá các quan hệ quốc tế trên tinh thần muốn làm bạn với tất cả các nước, nên những năm qua Việt Nam đã tranh thủ được
các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Việc Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có lực lượng lao động dồi dào
và giá nhân công tương đối rẻ, cùng với việc Nhật Bản có tiềm lực lớn về vốn và cơng nghệ là những yếu tố hai bên có thể tranh thủ bổ sung cho nhau trong quá
trình phát triển trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
40
Bảng 3: Mười nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam. tính đến 31122002 Đơn vị: Triệu USD.
Nguồn: Vụ đầu tư nước ngoài ĐTNN- Bộ KHĐT. Với tổng số vốn đầu tư FDI đứng thứ ba và lớn nhất về số vốn thực hiện,
Nhật Bản đã đầu tư vào phát triển hầu hết các ngành ở Việt Nam, đặc biệt những ngành Việt Nam rất cần công nghệ để phát triển như cơng nghiệp chế
biến.... Ngồi ra, so với các nhà đầu tư nước ngoài khác, các nhà đầu tư Nhật được xem là thận trọng, kỹ tính, có bước chuẩn bị chu đáo để đi đến quyết định
đầu tư vì vậy tỷ lệ giải thể thấp tính theo số dự án hay theo vốn đầu tư và các dự án của Nhật Bản có thể nói là có hiệu quả hơn so với các đối tác khác ở Việt
Nam.
Như vậy, trong khoảng thời gian hơn 10 năm hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam, các nhà đầu tư Nhật Bản đã đạt được những thành cơng
khơng chỉ cho phía Nhật mà còn cho cả Việt Nam là tạo ra doanh thu ngày càng
Tên nước Dự án
Vốn đăng ký Vốn thực hiện
Số lượng Tỷ trọngSố lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng
Singapo 244
10,86 6881
22,74 1992,5
13,91 Đài Loan
758 33,73
5146 17,01
2494 17,41
Nhật Bản 332
14,78 4064,5
13,43 3038,4
21,21 Hàn Quốc
332 14,78
3259,5 10,77
2012 14,05
Hồng Kông 220
9,79 2824,5
9,33 1547,1
10,80 Pháp
115 5,12
2046,7 6,76
651 4,54
British Virginlslands
131 5,83
1762,5 5,82
878,7 6,13
Hà Lan 44
1,96 1651,2
5,46 525,45
3,67 Liên bang Nga
37 1,65
1486,4 4,91
332,6 2,32
Vương quốc Anh
34 1,51
1139,6 3,77
851 5,94
Tổng 2247
100 30262,1
100 14322,7
100
41
lớn , giúp chúng ta thực hiện chiến lược đa dạng hố hình thức và nguồn vốn đầu tư.
Do tình hình kinh tế suy thối sau một thời gian dài tăng trưởng nhanh, nền kinh tế Nhật Bản đã vấp phải nhiều khó khăn trong việc tiếp tục duy trì và
ổn định. Điều này đã phần nào tác động đến tiến trình đầu tư ra nước ngồi của Nhật Bản nói chung. Bởi vì có những khó khăn về nguồn vốn huy động cho đầu
tư và sản xuất, nên trong tiến trình đầu tư vào Việt Nam, lượng vốn và quy mô dự án đầu tư trực tiếp có phần giảm sút trong giai đoạn từ 1995 – 2000 bảng 2.
Một trong những đặc trưng nổi bật trong giai đoạn mới là việc mở rộng và tăng cường quan hệ trên tất cả các lĩnh vực ngày càng đi vào chiều sâu. Đầu tiên
phải kể đến là quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước. Đây là lĩnh vực có điều kiện phát triển nhất một khi tìm được tiếng nói chung về lợi ích từ
hai phía. Nhật Bản hiện đang đứng ở vị trí thứ 2 trong 8 bạn hàng lớn của Việt Nam.Tốc độ tăng trưởng thương mại bình quân hàng năm giữa Việt Nam và
Nhật Bản là 30, trong đó tăng trưởng xuất khẩu là 33,2 và tăng trưởng nhập khẩu là 38,9 đều tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung của ngoại thương
Việt Nam. Việc mở rộng các mối quan hệ bn bán với Nhật Bản hết sức có ý nghĩa đối với Việt Nam khi mà thị trường truyền thống của Việt Nam Liên Xô
và các nước Đông Âu gần như khơng còn nữa. Mặc dù tỷ trọng buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước và còn
nhiều vấn đề cần xem xét như cơ cấu, khối lượng, tỷ trọng. Song, trong điều kiện thị trường khó khăn như hiện nay và ngay cả bản thân Việt Nam cũng chỉ
mới bước vào thương trường mới thì tốc độ tăng trưởng trong kim ngạch buôn bán hai nước thời gian qua thực sự là một bước tiến không nhỏ. Sự tin cậy trong
quan hệ này được đánh dấu bằng việc ngày 26 tháng 5 năm 1999 Nhật Bản và Việt Nam đã chính thức dành cho nhau quy chế tối huệ quốc về thuế. Đây là
một cơ hội thuận lợi cho việc đẩy mạnh hoạt động buôn bán giữa hai nước thời gian tới.
Góp phần khơng nhỏ vào cơng cuộc cải cách và đổi mới của Việt Nam là sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế thông qua viện trợ và cho vay ưu đãi ODA
trong đó, Nhật Bản là một trong những nhà tài trợ chủ yếu. Kể từ khi nối lại viện trợ cho Việt Nam năm 1992 đến năm 1997 tổng số vốn ODA mà chính phủ Nhật
Bản đã cam kết cho Việt Nam đã đạt 4,011 tỷ USD. Mặc dù kinh tế Nhật Bản còn nhiều khó khăn song hai năm 1998 – 1999 Nhật Bản vẫn tiếp tục tăng viện
42
trợ ODA cho Việt Nam với sự tập trung vào các dự án tăng cường trang thiết bị và cơ sở vật chất cho lĩnh vực y tế, giáo dục, cơng nghiệp, cấp thốt nước, phát
triển nông thôn, hỗ trợ ngân sách, nghiên cứu phát triển, đào tạo cán bộ... Phần vay tín dụng ưu đãi được giành cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ
cho sản xuất ....
Đánh giá chung ODA của Nhật Bản cho Việt Nam là phù hợp với hướng ưu tiên trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, đã hỗ trợ cho Việt Nam
cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực, góp phần chuyển giao cơng nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Tất cả những thành quả trên lại tạo đà
để môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng hấp dẫn hơn, luồng FDI của Nhật Bản vào Việt Nam càng dễ dàng và thuận lợi hơn, đây cũng là xu hướng tất yếu
của đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản vào Việt Nam.
II- THỰC TRẠNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
1-
Tổng quan về FDI của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 1989-2002 1.1-Quy mô và tốc độ đầu tư.
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài lần đầu tiên được ban hành năm 1988, các nhà đầu tư Nhật Bản mới bắt đầu vào Việt Nam. Ở giai đoạn đầu này, lượng vốn
đầu tư cũng như số dự án còn rất thấp. Năm 1989, Nhật Bản chỉ có một dự án với số vốn đăng ký 0,6 triệu USD biểu 4, nhưng bắt đầu từ năm 1990, quy mô
cũng như tốc độ đầu tư tăng dần đều đặn tới năm 1992. Năm 1990, có 6 dự án với tổng vốn đầu tư 10,02 triệu USD, năm 1991 có 6 dự án với tổng vốn đầu tư
đạt 8 triệu USD. Năm 1992, tổng vốn đầu tư là 116,7 triệu USD với 12 dự án, trong đó, có một dự án dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh có số vốn
lên đến 47 triệu USD. Tới năm 1993, quan hệ Việt- Nhật có bước chuyển mới. Đây là thời điểm sau 1 năm Nhật Bản nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam, sau
một khoảng thời gian khá dài quan hệ hai nước không được chú ý do Nhật Bản hiểu sai về vấn đề Cămpuchia, số dự án tăng vọt: 18 dự án gấp 1,5 lần so với
năm 1992 đạt giá trị 76,9 triệu USD, nhưng vốn đăng ký giảm sút đáng kể chỉ còn 66 so với năm 1992
Năm 1994, có các điều kiện quốc tế thuận lợi đối với Việt Nam: Mỹ rỡ bỏ lệnh cấm vận tháng 21994, đồng JPY lên giá đã mở đầu một thời kỳ các nhà
đầu tư Nhật Bản “ồ ạt” đầu tư vào Việt Nam. Tính đến hết năm 1994, tổng số dự án đầu tư trực tiếp của Nhật đã tăng lên đến 68 dự án với số vốn đầu tư đạt hơn
43
200 triệu USD. Sang năm 1995, thực sự có thể nói đây là năm có sự “bùng nổ” về FDI của Nhật Bản vào Việt Nam, đưa Nhật Bản trở thành nhà đầu tư lớn thứ
ba tại Việt Nam. Giá trị vốn đăng ký vượt qua 1,3 tỷ USD.
Có thể nói nguyên nhân sâu xa của sự kiện này là do sự tăng giá của đồng Yên đã lên đến đỉnh điểm từ 140 Yên1USD lên 80 Yên1USD nên việc tăng
đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Nhật Bản là một nhu cầu cấp bách, nó dường như là “lối thốt tốt nhất” cho các cơng ty của Nhật Bản để tránh được
“cơn lốc” lên giá của đồng Yên. Mặt khác cũng trong thời kỳ này Nhật Bản bắt đầu phát hiện ra lợi ích to lớn của việc xuất khẩu các sản phẩm của Nhật Bản
sản xuất tại các nước thứ ba ra nước ngoài như các thị trường Bắc Mỹ, Châu Âu và đặc biệt là Mỹ. Chính vì vậy Nhật Bản đã chuyển mạnh đầu tư FDI vào
ASEAN trong đó có Việt Nam nhằm đẩy mạnh việc khai thác tiềm năng sản xuất để chiếm lĩnh một thị trường rộng lớn của khu vực nói trên làm cho Nhật
Bản nhanh chóng trở thành quốc gia phi biên giới trong nền kinh tế toàn cầu.
Bảng 4: Động thái FDI của Nhật Bản vào Việt Nam từ 1989 đến 2002.
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Vụ đầu tư nước ngoài ĐTNN-Bộ KHĐT. Năm
Số dự án
Vốn đăng ký triệu
USD Vốn thực
hiện triệu USD
Vốn thực hiện Vốn
đăng ký
Vốn thực hiệnmột
dự án So sánh liên
hoàn giữa các năm về
VĐK
1989 1
0,6 0,48
80 0,48
1990 6
10,2 8,5
83,33 1,417
1700 1991
6 8,0
4,7 58,75
0,783 78,43
1992 12
116,7 84,5
72,41 7,042
1458,75 1993
18 76,9
58,9 76,59
3,272 65,90
1994 25
204,1 185,7
90,98 7,428
265,41 1995
50 1303,2
857,9 65,83
17,16 638,51
1996 56
777,8 546,3
70,24 9,755
59,68 1997
54 606
412,8 68,12
7,644 77,91
1998 17
117,5 89,7
76,34 5,276
19,39 1999
14 59,44
40,4 67,97
2,886 50,59
2000 27
81,093 64,7
79,78 2,396
136,43 2001
9 10,622
8,44 79,46
0,938 13,1
2002 16
73,504 51,6
70,2 3,225
692 Tổng
311 3445,659
2414,6 70,08
44
Riêng năm 1996, vốn đầu tư đăng ký của Nhật Bản vào Việt Nam là 777,8 triệu USD. So với năm 1995 rõ ràng giảm rất nhiều. Ngun nhân có thể đánh
giá được xuất phát từ phía Nhật Bản. Đó là đồng JPY sau thời gian dài tăng giá đến thời điểm năm 1996 bắt đầu giảm giá từ 80 Yên1USD lên 108,8
Yên1USD. Những năm tiếp theo, mức đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tiếp tục theo chiều hướng giảm sút mà nguyên nhân chủ yếu là bản thân nền kinh tế
Nhật Bản chưa thốt khỏi tình trạng suy thối.
Bước sang năm 1997, đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam vẫn không sáng sủa lắm, với 54 dự án và gần 606 triệu USD vốn. Mặc dù trong năm này Nhật
Bản đứng thứ hai về số dự án đầu tư sau Đài Loan với 64 dự án và đứng thứ hai về tổng số vốn đầu tư sau Hồng Kông gần 695 triệu USD nhưng so với
năm trước, mức đầu tư vẫn phản ánh xu hướng giảm sút. Năm 1998, tốc độ và qui mô đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam vẫn chưa được cải thiện, thậm chí
còn tồi tệ hơn mặc dù số vốn có tăng. Theo bộ KH ĐT, năm 1998 Nhật Bản 17 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn là 177,5 triệu USD; giảm 3,4 lần
so với mức của năm trước. Nguyên nhân là do hiệu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á và suy thối kinh tế Nhật Bản.
Đến năm 1999 có thể nói mức đầu tư trực tiếp của Nhật Bản trở về mức khởi đầu khi đầu tư vào Việt Nam với 14 dự án tổng vốn đầu tư là 59,44 triệu
USD. Năm 2000 có 27 dự án được cấp giấp phép đầu tư với số vốn đăng ký là 80,5 triệu USD, tăng 78 về số dự án và 29,8 vốn đầu tư so với năm 1999.Do
sự giảm sút trong đầu tư vào Việt Nam làm cho tỷ trọng FDI của Nhật Bản trong tổng FDI vào Việt Nam cũng giảm theo. Thời kỳ 89- 90 FDI của Nhật chiếm
5,43 tổng FDI vào Việt Nam, giai đoạn 91-95 tăng lên 10,96 và từ 1996 đến nay tính trung bình chiếm khoảng 8,98.
Năm 2000 có 27 dự án được cấp giấp phép đầu tư với số vốn đăng ký là hơn 80 triệu USD, tăng 78 về số dự án và 29,8 vốn đầu tư so với năm 1999
Nhưng cho đến năm 2001 thì nền kinh tế Nhật Bản đã lâm vào tình trạng khủng hoảng thực sự cả về kinh tế lẫn chính trị khi lượng người thất nghiệp lớn
chưa từng có do sự phá sản, thua lỗ của hàng trăm doanh nghiệp trong nước của Nhật Bản. Cuộc khủng hoảng kinh tế của Nhật Bản và các nước trong khu vực
dẫn tới tình trạng giảm sức mua, nhiều cơng ty mẹ cũng gặp khó khăn nên các cơng ty con đầu tư ở Việt Nam cũng bị ảnh hưởng như thiếu vốn để kinh doanh,
45
tốc độ tiêu thụ sản phẩm chậm,....Đồng thời trong thời gian này Việt Nam có quá nhiều đối tác đầu tư trong khi cầu thị trường nhỏ, có nhiều sản phẩm thị
trường khơng chấp nhận. Chính vì thế một số đối tác Nhật Bản khơng đủ năng lực tài chính để tiếp tục kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Một yếu tố nữa là, do
chính sách của chính phủ đưa ra mâu thuẫn với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ví dụ như chính phủ lại cho phép nhập khẩu các loại mặt hàng
Nhật Bản đầu tư sản xuất trong nước với số lượng lớn mà người tiêu dùng lại rất thích sử dụng những mặt hàng đó nên lượng vốn đầu tư vào Việt Nam của Nhật
đã giảm trầm trọng hơn cả so với năm 1999. Tuy nhiên trong thời kỳ này lượng vốn Nhật Bản đầu tư vào một số nước trong khu vực Đông Nam á như
Indonexia, Singapo, Thái Lan vẫn không thay đổi mấy và cao hơn rất nhiều so với Việt Nam. Rõ ràng ngoài vấn đề khách quan là tình trạng xấu đi của nền
kinh tế khu vực, Nhật Bản vẫn phải đối mặt với bao sự phiền phức khi phải đứng trước một môi trường kinh doanh còn nhiều bất lợi như ở Việt Nam
Cho đến đầu năm 2002 tình hình đã có những diễn biến tốt đẹp hơn chúng ta đã thu hút được 16 dự án của Nhật Bản với số vốn gấp 7 lần của năm 2001,
đặc biệt là mối quan hệ giữa 2 nước được thắt chặt hơn nữa sau các cam kết của Nhật Bản sẽ đầu tư hơn nữa vào Việt Nam. Đây là cơ hội lớn để chúng ta thực
hiện được chiến lược phát triển kinh tế của đất nước
Hiện nay với quy mô đầu tư bình quân cho một dự án là 14,38 triệu USD, có thể nói Nhật Bản thuộc nhóm các nước có suất đầu tư cho một dự án cao.
Mặc dù trong thời kỳ đầu quy mô của từng dự án thường nhỏ, chỉ chừng vài triệu USD, bằng một nửa so với mức trung bình là 10 triệu USDdự án của các
nước khác
Như vậy, xét về quy mô và tốc độ đầu tư có thể nhận xét rằng: các nhà đầu tư Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam với quy mô khá cao, và tốc độ đầu tư của
Nhật Bản vào Việt Nam khá nhanh, Việt Nam có luất đầu tư nước ngồi năm 1987 thì đến năm 1989 Nhật Bản đã bắt đầu đầu tư vào Việt Nam, và Nhật Bản
là nước đầu tư vào Việt Nam đứng thứ ba sau Singapo và Đài Loan.Điều này cho thấy các nhà đầu tư Nhật Bản rất tin tưởng vào thị trường của Việt Nam
46
1.2- Cơ cấu vốn đầu tư. 1.2.1 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành.
Nền kinh tế Nhật Bản có đặc thù là một nền kinh tế hướng ngoại với cơ cấu cơng nghiệp hồn chỉnh. Vì vậy FDI của Nhật Bản có mặt trong tất cả các
ngành, lĩnh vực của nền kinh tế: công nghiệp; nông nghiệp; lâm, ngư nghiệp dịch vụ; xây dựng.... Nhưng tập trung trong lĩnh vực cơng nghiệp trong đó cơng
nghiệp chế tạo là chủ yếu, chiếm 63 tổng số vốn đầu tư với các ngành như khai thác dầu khí Sumitomo, Nishoiwai, Idemitsu, Mishubishi; sản xuất sắt
thép Kyoel Steel Ltd, Mitsui Toal suchemical; phân bón hố chất Nishoiwai Corp, Central Class, Mitsui Toal suchemical; lắp ráp ô tô Mishubishi, Honda
và chiếm số đông là các dự án trong các ngành lắp ráp các sản phẩm điện tử gia dụng như TV màu, cassete, tủ lạnh,... Tiếp đến là các ngành xây dựng chiếm
18, khách sạn du lịch 13 còn lại là các ngành khác
Bảng 5. Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam theo ngành giai đoạn từ 1989-1994
S STT
Chuyên ngành Tổng số
dự án Tổng vốn
ĐT triệu USD Tổng
dự án Nhật
đầu tư Tổng
VĐT VĐT
của Nhật Tỷ
trọng VĐT của Nhật
trong tổng VĐT
1 Cơng nghiệp
492 40
3838,2 175,4
4,57 2
Dầu khí 25
4 1284,9
121,4 9,45
3 Nơng – Lâm nghiệp
75 5
385,8 7,7
2,00 4
Ngư nghiệp 20
- 60,4
- -
5 GT-VT, bưu điện
21 - 636,8
- -
6 Khách sạn du lịch
104 5
1954,1 184,6
9,45 7
Dịch vụ 127
12 729,6
34,6 4,74
8 Tài chính – ngân hàng
15 - 729,6
34,6 4,74
9 Các ngành khác
51 -
- -
- 10
Tổng số 930
66 9619,4
528,8 5,5
Nguồn: uỷ ban hợp tác đầu tư
47
Nhìn từ thực tế này có ý kiến cho rằng cơ cấu đầu tư theo ngành của Nhật Bản ở Việt Nam là không hợp lý. Thực ra đây cũng chỉ là một quan điểm nhìn
nhận xuất phát từ mong muốn chính đáng, cần có đầu tư vào nhiều lĩnh vực sản xuất. Song khi đi vào phân tích quan điểm từ phía Nhật, cũng như từ thực trạng
cơ sở kinh tế – xã hội của Việt Nam, chúng ta sẽ thấy phần nào lý lẽ giải thích cơ cấu đầu tư theo ngành của Nhật Bản ở giai đoạn đầu khi đầu tư vào Việt
Nam.
Ở những năm đầu thập kỉ 90, FDI Nhật Bản tập trung chủ yếu vào ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên và các dự án phát triển dịch vụ. Động thái này
phản ánh khá đúng đắn hiện trạng nền kinh tế Nhật Bản. Đó là nền kinh tế phải dựa nhiều vào tài nguyên thiên nhiên ở bên ngoài để sản xuất rồi xuất khẩu sản
phẩm có trình độ cao.
Mặt khác, do Nhật Bản phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường, cái giá phải trả cho kết quả q trình cơng nghiệp hoá theo phương thức cổ điển:
khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cơng nghiệp hố, đồng thời cũng gây tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên. Vì thế, chiến lược đầu tư của
Nhật Bản vẫn nhằm vào khai thác nguyên liệu và chú ý đến chuyển giao những ngành mà Nhật đã mất lợi thế cạnh tranh như giá nhân công rẻ, giá thuê đất, tiền
điện nước, thuế...và đặc biệt là công nghệ gây ô nhiễm môi trường. Hoạt động đầu tư kiểu này được biết đến với tên gọi “Mơ hình đàn nhạn bay” rất phổ biến
vào thập kỉ 80 và thời gian trước đó.
Nguyên nhân thứ hai khiến cho lượng vốn đầu tư của Nhật Bản ở giai đoạn đầu này cũng tập trung vào lĩnh vực khách sạn, du lịch, dầu khí và dịch vụ
là phía Việt Nam vừa tiến hành mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngồi, do đó cơ sở hạ tầng lạc hậu nên đã hạn chế đến việc đầu tư phát triển các ngành công
nghiệp chế tạo. Chính vì vậy trong thời kỳ đầu chúng ta đã giành khá nhiều vốn từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Không thể phát triển được
các ngành công nghiệp khi mà điện, nước, giao thơng, bưu chính khơng phát triển. Thực trạng này đã khơng khuyến khích được nguồn FDI của Nhật Bản
giành nhiều cho lĩnh vực cơng nghiệp chế tạo. Tính đến năm 1994, FDI của Nhật Bản vào lĩnh vực công nghiệp ở Việt Nam chỉ chiếm 33 tổng vốn đầu tư
của Nhật và chiểm 4,6 tổng vốn FDI trong lĩnh vực công nghiệp. Lĩnh vực được Nhật Bản chú ý hơn cả là khách sạn và du lịch, vì vậy FDI của Nhật Bản
48
trong ngành này chiếm 9,4 tổng vốn FDI vào khu vực khách sạn, du lịch, dịch vụ. Ngồi ra dầu khí cũng là ngành cơng nghiệp được Nhật Bản chú ý với tỷ
trọng bằng 9,4 tổng FDI của Nhật vào Việt Nam.
Như vậy, trong những năm đầu khi mới đặt chân vào thị trường Việt Nam, Nhật Bản chỉ tập trung vào lĩnh vực khai thác tài nguyên và dịch vụ. Nếu tính
chung lại, cả hai lĩnh vực này đã chiếm tới 60 tổng FDI của Nhật vào Việt Nam.
Điểm khác biệt cơ bản trong đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN nói chung so với đầu tư vào Việt Nam là trong ASEAN đầu tư của Nhật Bản vào ngành
công nghiệp chế tạo chia làm 2 thời kỳ tương đối rõ không chỉ ở qui mô đầu tư mà còn chính ở cơ cấu sản phẩm. Nếu ở Việt Nam có sự kết hợp đồng thời giữa
sản xuất sản phẩm chế tạo tiêu dùng nội địa với sản phẩm xuất khẩu, thì ở ASEAN đầu tư của Nhật trong những năm 60-70 lại tập trung vào lĩnh vực công
nghiệp thay thế nhập khẩu, phục vụ thị trường nội địa. Đặc điểm này xuất phát từ chiến lược của nhà kinh doanh Nhật Bản đồng thời nó còn có cơ sở từ việc
kết hợp giữa thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu trong chiến lược cơng nghiệp hố của Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua.
Đối với các nhà kinh doanh Nhật Bản trong quá trình đầu tư vào khu vực châu Á, đặc biệt vào ASEAN gần đây đã có chuyển dịch về mục tiêu. Chúng ta
biết rằng việc đầu tư, chuyển dịch các cơ sở sản xuất của Nhật Bản sang châu Á bao gồm cả Việt Nam, có 3 mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất, việc xâm nhập vào châu Á là nhằm khai thác ưu thế của thị
trường này trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến của Nhật để sản xuất hàng hoá phục vụ thị trường nội địa hiệu quả, với lãi suất cao;
Thứ hai là sản xuất hàng hoá đáp ứng yêu cầu của nước thứ ba; Thứ ba là khai thác nguyên nhiên liệu và sản xuất hàng hố phục vụ cho
nhu cầu của chính thị trường Nhật Bản. Ba mục tiêu cụ thể này được kết hợp thực hiện đối với các loại sản phẩm hàng hoá trên cơ sở so sánh lợi thế cạnh
tranh quốc tế. Đầu tư vào ASEAN hiện nay mục tiêu hàng đầu nhằm chuyển các thị trường này thành nơi tiếp nhận hàng hố đồng thời khai thác thế mạnh về
cơng nghệ của Nhật Bản. Nhật Bản là một quốc gia hàng đầu về vốn và công nghệ. Dựa vào lợi thế so sánh đó, Nhật Bản là nơi thực hiện những công đoạn
chế tạo yêu cầu công nghệ, kỹ thuật cao, còn việc sản xuất, lắp ráp được chuyển
49
giao cho các đối tác nước ngồi. Hình thức này được các công ty Nhật phát huy nhằm hạn chế tác động của hàng rào thuế quan đối với các sản phẩm sản xuất tại
Nhật.
Trong chiến lược đó, việc ưu tiên mục tiêu nào trong các thị trường cụ thể phụ thuộc lớn vào chính sách đầu tư của nước bản địa. Trong những năm gần
đây, Việt Nam chú trọng phát triển sản xuất hướng vào xuất khẩu. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, sửa đổi luật đầu tư theo hướng này, nhằm
thúc đẩy hơn nữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, phù hợp với yêu cầu chung của 2 nước Việt Nam và Nhật Bản. Tháng 111995, một phái đoàn gồm 50 nhà đầu tư
Nhật Bản đã vào Việt Nam tìm hiểu, khảo sát các cơ hội tăng cường đầu tư, Việt Nam cũng đã cung cấp 150 dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư nước ngồi trong
nửa sau thập kỷ 90. Bên cạnh đó là sự viếng thăm, gặp gỡ trao đổi trên cấp quốc gia được tổ chức nhằm định hướng, thúc đẩy hợp tác kinh tế và đầu tư. Tất cả
những điều trên đã được thể hiện trong thực tế, mặc dù có tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở châu Á nhưng nguồn FDI vẫn đuợc triển khai,
cơ cấu đầu tư theo ngành nửa sau thập kỷ 90 đã có những chuyển biến tích cực, phù hợp với mục tiêu cơng nghiệp hố.
Cơ cấu đầu tư theo ngành hiện nay của FDI Nhật Bản phản ánh rõ ưu thế về trình độ cơng nghiệp phát triển cao. Khoảng 74 vốn đầu tư tập trung trong
lĩnh vực sản xuất cơng nghiệp kể cả dầu khí và vật liệu xây dựng, cao hơn mức bình quân của FDI vào cơng nghiệp Việt Nam tính theo dự án khoảng 61-62,
theo vốn khoảng 53,92.Có thể nói những lĩnh vực mà Nhật Bản đầu tư vào hầu hết thuộc những ngành, lĩnh vực đòi hỏi kỹ thuật cao như sản xuất ơ tơ, xe
máy, sản xuất Rơbốt cơng nghiệp Hải Phòng, linh kiện điện tử Fujitsu, vật liệu xây dựng, sản phẩm nơng nghiệp...mà phía Việt Nam rất coi trọng thúc đẩy
phát triển, để thực hiện cơng nghiệp hố hiện đại hố. Đồng thời cơ cấu đầu tư theo ngành cũng được điều chỉnh theo hướng ngày càng hợp lý:
74 vốn đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp 12 vốn đầu tư trong giao thông vận tải – bưu điện
2 vốn đầu tư trong sản xuất, chế biến nông, lâm, hải sản 3. vốn đầu tư trong văn hoá, y tế, giáo dục, tài chính ngân hàng và các
dịch vụ khác ....
50
Qua đó đã phản ánh đúng đắn cách đánh giá lợi thế và sự lựa chọn hướng đầu tư của Nhật Bản đối với Việt Nam cũng như hiệu quả của chiến lược thu
hút vốn đầu tư của Nhật Bản vào các ngành kinh tế nước ta.
Cơ cấu đầu tư theo ngành hiện nay của FDI Nhật Bản phản ánh rõ ưu thế về trình độ cơng nghiệp phát triển cao. Khoảng 74 vốn đầu tư tập trung trong
lĩnh vực sản xuất công nghiệp kể cả dầu khí và vật liệu xây dựng biểu 6 , cao hơn mức bình qn của FDI vào cơng nghiệp Việt Nam tính theo dự án
khoảng 61-62, theo vốn khoảng 53,92.Có thể nói những lĩnh vực mà Nhật Bản đầu tư vào hầu hết thuộc những ngành, lĩnh vực đòi hỏi kỹ thuật cao như
sản xuất ô tô, xe máy, sản xuất Rơbốt cơng nghiệp Hải Phòng, linh kiện điện tử Fujitsu, vật liệu xây dựng, sản phẩm nông nghiệp...mà phía Việt Nam rất
coi trọng thúc đẩy phát triển, để thực hiện cơng nghiệp hố hiện đại hố. Đồng thời cơ cấu đầu tư theo ngành cũng được điều chỉnh theo hướng ngày càng hợp
lý: 74 vốn đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp
Bảng 6 Đầu tư trực tiếp theo ngành của Nhật Bản vào Việt Nam
tính từ 01011989 đến 31122002 Đơn vị: Triệu USD
51
Nguồn : Vụ đầu tư nước ngoài Bộ kế hoạch và đầu tư Số dự án hết hạn: 2 dự án
Vốn hết hạn 71,888 triệu USD Số dự án giải thể: 40 dự án
Vốn giải thể 293,211 triệu USD Tổng số dự án đã cấp giấy phép: 354 dự án
Tổng vốn đầu tư: 4350,59 triệu USD
Xem xét quy mô và tốc độ thực hiện của dự án sẽ thấy có những biến động đáng chú ý theo hướng tích cực. Đối với ngành cơng nghiệp nặng, tính đến thời
điểm 31122002 tỷ lệ vốn thực hiệnvốn đăng ký đạt khoảng 52, công nghiệp nhẹ 73, công nghiệp thực phẩm 81,1; riêng ngành dầu khí, sau khi triển khai
thực hiện dự án, phía Nhật Bản đã gia tăng vốn đầu tư đưa giá trị thực hiện lên đến 434 triệu USD gấp 10 lần so với vốn đăng ký ban đầu.
Nhìn chung, tiến độ thực hiện đầu tư là khá nhanh so với các đối tác nước ngoài khác. Điều đó thể hiện tiến độ thực hiện dự án của các nhà đầu tư Nhật đạt
hiệu quả hơn cả. Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trung bình đạt 61,5 tổng vốn đăng ký.
Chỉ tiêu Số
dự án Tỷ
trọng Vốn
đăng ký Tỷ
trọng Vốn
thực hiện
Tỷ trọng
Vốn đăng kývốn
thực hiện
Tổng 312
100 3985,3
100 2272,5
100 57,02

I. CN và xây dựng 219


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tình hình chung về quan hệ đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(100 tr)

×