1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Nghiên cứu về ngời khuyết tật trên toàn quốc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.92 KB, 88 trang )


- Điều trị không đúng cho những ngời bị thơng khi có thảm hoạ là nguyên nhân của những khuyết tật có thể tránh đợc.
- Đô thị hoá, tăng dân số và các yếu tố gián tiếp khác. Vấn đề ngời khuyết tật tại các nớc đang phát triển cũng cần phải đợc làm rõ.
Có khoảng 80 những ngời khuyết tật đang sống ở những vùng nông thôn heo hút ở các nớc đang phát triển. ở một số nớc nµy tû lƯ ngêi khut tËt íc tÝnh cao tíi 20
và nếu tính cả gia đình và ngời thân của họ thì có tới 50 số đân đã bị ảnh hởng bất lợi bởi khuyết tật [45]. Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn bởi một thực tế là hầu nh ở
tất cả mọi nơi ngời khuyết tật là những ngời rất nghèo. Họ thờng sống ở những nơi có rất ít hoặc thậm chí là hoàn toàn không có các dịch vụ y tế và các dịch vụ liên
quan khác thậm chí ở những nơi mà sự khuyết tật không đợc, hoặc không thể đợc phát hiện kịp thời. Khi họ thực sự nhận đợc sự quan tâm về y tế, mà nếu họ có đợc
nhận đầy đủ đi chăng nữa thì sự suy giảm chức năng là điều khó tránh khỏi. ở nhiều nớc không có đủ nguồn lực để phát hiện và phòng ngừa khuyết tật cũng nh đáp ứng
nhu cầu trợ giúp và phục hồi chức năng của ngời khuyết tật. Đội ngũ những ngời hỗ trợ, những nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật và công nghệ mới hơn và hiệu quả hơn,
các phơng pháp phục hồi chức năng, trợ giúp hòa nhập, cung cÊp thiÕt bÞ cho ngêi khut tËt bÞ thiÕu hơt nghiêm trong.
Tại những nớc đang phát triển khó khăn của ngời khuyết tật càng trầm trọng hơn bởi nạn bùng nổ dân số, làm cho ngời khuyết tật tăng cả về tỷ lệ lẫn số lợng. Do
đó, đối với những nớc này, nhu cầu cấp bách là phải u tiên phát triển các chính sách nhân khẩu học để ngăn chặn sự gia tăng số lợng ngời khuyết tật và để phục hồi chức
năng và cung cấp dịch vụ cho những ngời đã bị khuyêt tật.
1.3. tình hình nghiên cứu vỊ ngêi khut tËt ë viƯt nam

1.3.1. Nghiªn cøu vỊ ngời khuyết tật trên toàn quốc


Cha có số liệu điều tra cơ bản về ngời khuyết tật trớc năm 1987, song số lợng ngời khuyết tật do hậu quả chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp,
bệnh dich khá cao, số trẻ em sinh ra bị tàn tật do ảnh h
ởng bởi chất độc da cam, do bệnh dịch, do môi trờng sống cũng ngày càng tăng lên [7].
Cho đến nay số liệu thống kê về ngêi khut tËt ë ViƯt Nam rÊt h¹n chÕ. Tuy nhiên có thể thấy đợc phần nào hiện trạng của ngời khuyết tật qua các kết quả điều
Lê Văn Hải – K15 10
tra vÒ ngêi khuyÕt tËt do Bé Lao động - Thơng bình và Xã hội thực hiện. Theo số liệu điều tra thực hiện trong năm 1995 và điều tra bổ sung vào năm 1998 cả nớc có
khoảng 5,3 triƯu ngêi khut tËt chiÕm 6,34 d©n sè. Trong đó số ngời khuyết tật nặng có xu hớng gia tăng: năm 1996: 1.295.700; năm 1997: 1.297.695 và năm
1998: 1.300.000 [3], [6], [30], [7] , [8], [28], [29].
Sè liÖu gần đây nhất của Bộ Lao Động - Thơng binh và Xã hội, năm 2005, toàn quốc hiện có 5.526.947 ngời khuyết tật, chiếm khoảng 7 tổng dân số. Nhng
theo íc tÝnh cđa tỉ chøc Y tÕ thÕ giíi WHO ngêi khut tËt ë ViƯt Nam chiÕm kho¶ng 10 tỉng d©n sè [6].
Ngêi khut tËt ë ViƯt Nam ph©n bè không đồng đều giữa các khu vực đồng bằng và miền núi, giữa khu vực chịu nhiều ảnh hởng của chiến tranh với các khu vực
khác. Nếu căn cứ theo tiêu chí vùng sinh thái thì sự phân bố này nh sau:
Khu vực Tây Bắc 157.369
Khu vực Đông Bắc 678.345
Khu vực Đồng bằng sông Hồng 980.118
Khu vực Bắc Trung Bộ 658.254
Khu vực Duyên hải miền Trung 749.489
Khu vực Tây Nguyên 158.506
Vùng Đông Nam Bộ 866.516
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 1.018.341
Toàn quốc 5.266.947
[6], [8] Qua một số bao cáo, ngời khuyết tật ở Việt Nam có các đặc điểm sau:
- Ngêi khuyÕt tËt tËp trung chñ yÕu ë khu vùc nông thôn. Xét trên cả nớc, số ngời khuyết tật định c ở nông thôn có tỷ lệ là 87,27 và ở thành thị là 12,37. Tỷ lệ
này tơng ứng với mức độ đô thị hóa.
- Hầu hết ngời khuyết tật Việt Nam thuộc nhóm dân số trẻ, số ngời từ 45 tuổi trở xuống chiếm 66,8. Đây là nhóm tuổi mà ngời khuyết tật còn có khả năng đóng
góp cho xã hội và có nhu cầu việc làm. Nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ 17,59 và nhóm tuổi từ 6 đến 12 chiếm 8,4. Đặc điểm này cũng đúng nếu xét riêng khu vực
nông thôn và thành thị.
- Sự khác nhau về giới của ngời khuyết tật phản ánh lối sống và hành vi dẫn đến khuyết tật trong tõng giíi. Sè ngêi khut tËt lµ nam chiÕm tỷ lệ cao hơn nữ và
Lê Văn Hải K15 11
tỷ lệ này không chênh lệch đáng kể giữa các vùng. Số ngời khuyết tật là nam giới trên cả nớc chiếm 63,52 và nữ chiếm 36,48. Tuy nhiên điểm đặc biệt quan trọng
là nguyên nhân dẫn đến khuyết tật của nam giới do tai nạn lao động và tai nạn giao thông cao gấp 4 lần so với nữ và đặc biệt là nam giới chiếm tỷ lệ rất cao trong số ng-
ời khuyết tật là nạn nhân chiến tranh. Mặt khác, với cùng một dạng khuyết tật thì ngời khuyết tật là nữ lại gặp khó khăn gấp 3 lần so với ngời khuyết tật là nam. Do
vậy việc nghiên cứu giới tính của ngời khuyết tật là rất quan trọng và cần thiêt.
- Có 6 dạng khuyết tËt chđ u cđa ngêi khut tËt ë ViƯt Nam. Trong đó dạng khuyết tật vËn ®éng chiÕm 29,41; khuyÕt tËt thÇn kinh chiÕm 16,82;
khuyÕt tËt thị giác chiếm 13,84; khuyết tật thính giác chiếm 9,33; khuyết tật ngôn ngữ chiếm 7,08 và khuyết tật về trí tuệ chiếm 6,52. Ngoài ra các dạng
khuyết tật khác chiếm 17 còn lại. Hai dạng khuyết tật chiếm tỷ lệ cao nhất là khuyết tật vận động và khuyết tật liên quan thần kinh, khuyết tật trí tuệ, tiếp đến là
khuyết tật về thị giác, còn lại các dạng khuyết tật khác đều ở mức dới 10 so với tổng số ngời khuyết tật. Sự phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định
hớng các hoạt động trợ giúp ngời khuyết tật hòa nhập cộng đồng và phát triển phù hợp với nhu cầu thiết yếu của ngời khuyết tật.
Các nguyên nhân chủ yếu dẫn tới khuyết tật bao gồm nguyên nhân do bẩm sinh chiÕm 35,8, do bƯnh tËt chiÕm 32,34, do hËu qu¶ chiến tranh chiếm 25,56
do tai nạn lao động chiếm 3,49.... Đặc biệt là tại nạn giao thông từ năm 2001 đến nay đã làm cho khoảng 125.000 ngời bị tàn tật, bình quân mỗi năm có khoảng
25.000 ngời. Các nguyên nhân khác chiếm 1,57 còn lại. Các nguyên nhân này phản ánh tố chất con ngời, cũng nh sự chăm sóc ban đầu cho trẻ và chất lợng dịch vụ
y tế còn khá hạn chế trong việc kiểm soát bệnh tật dẫn đến tỷ lệ khuyết tật cao. Nguyên nhân từ hậu quả chiến tranh cũng khá cao, không chỉ thế hệ hiện nay mà cả
thế hệ mai sau, đặc biệt là nạn nhân của chất độc điôxin do Mü sư dơng trong chiÕn tranh ViƯt Nam.
Trong sè những nguyên nhân nói trên thì 2 nguyên nhân do bẩm sinh và bệnh tật đã chứa đựng trong đó nguyên nhân của hậu quả chiến tranh, nhất là hậu quả của
chất độc hóa học, vì nhiều ngời tham gia chiến tranh bị hậu quả của chất độc hóa học sau này sinh con bị dị tật, dị dạng và đợc xếp vào nhóm bẩm sinh, thậm chí có
hàng nghìn ngời sinh 2 con đều bị dị tật, dị dạng. Mặt khác, một số ngời sinh con ra lúc đầu trẻ bình thờng nhng sau một thời gian đứa trẻ bị bệnh tật và ngời ta xếp vào
nhóm bệnh tật, những nguyên nhân sâu xa của nó chính là hậu quả của chất độc hóa
Lê Văn Hải K15 12
học, đặc biệt là chất điôxin và hậu quả của chiến tranh. Đây là nét đặc thù của ngời khuyết tật ở Việt Nam.
Các nghiên cứu trong những năm trớc đây đều đã ®i ®Õn kÕt luËn rằng nguyên nhân dẫn đến khuyết tật ở Việt Nam chđ u do bÈm sinh, bƯnh tËt vµ do
hËu quả của chiến tranh. Nguyên nhân từ hậu quả chiến tranh cũng khá cao. Chiến tranh kéo dài 30 năm, đặc biệt là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nớc giai đoạn
1960 - 1975 đã để lại hậu quả rất nghiêm trọng và dai dẳng cho ngời dân nớc ta, không chỉ đối với thế hệ hiện nay mà cả đến thế hệ mai sau, đặc biệt là nạn nhân của
chất độc điôxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Theo ớc tính của các nhà khoa học Hàn Quốc thì có tới 10 lính Hàn Quốc tham gia chiến tranh Việt
Nam bị nhiễm chất độc điôxin và tơng tự nh vậy thì lính Mỹ cũng chiếm khoảng 7. Nếu lấy tỷ lệ nhiễm điôxin trung bình của lÝnh Mü vµ Hµn Qc tham gia chiÕn
tranh ViƯt Nam tính cho ngời dân Việt Nam sống trong vùng bị rải chất độc hóa học điôxin thì số ngời bị nhiễm chất độc điôxin cũng lên tới 2 triệu ngời và thêm một
nửa số đó là thế hệ kế tiếp của những ngời bị hậu quả chất độc hóa học điôxin thì tổng số ngời bị hậu quả của chất độc điôxin lên tới 3 triệu ngời [19], [9], [11], [50],
[10].
Điểm hạn chế trong các nghiên cứu, hớng dẫn thống kê và điều tra phân loại nguyên nhân khuyết tật trớc đây là cha làm rõ dạng khuyết tật bẩm sinh hay khuyết
tật do hậu quả của chất độc hóa học điôxin, do chiến tranh, dẫn đến khi phân loại, thống kê thì nguyên nhân bị khuyết tật do chiến tranh thấp hơn nguyên nhân bẩm
sinh và nguyên nhân do bệnh tật. Sự phân tích này có ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu thống kê, điều tra phân loại nguyên nhân khuyết tật sau này.
Trong những năm tới sè lỵng ngêi khut tËt ë ViƯt Nam cã xu hớng tăng do các yếu tố chủ yếu sau: tai nạn giao thông tăng cao, tai nạn lao động tăng, ô nhiễm
môi trờng ngày càng nhiêm trọng. Đặc biệt, chính sự tiến bộ của y học và sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của hệ thống y tế hiện nay có khả năng can thiệp mạnh mẽ
đến việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con ngời, chữa lành thơng tích cũng là một yếu tố làm tăng số lợng ngời khuyết tật. Các nghiên cứu của các chuyên gia Héi trỵ
gióp ngêi khut tËt ViƯt Nam kÕt ln ngêi khuyết tật nớc ta có xu hớng tăng.
Nguyên nhân dẫn tới khuyết tật cũng sẽ có sự biến động và khác hơn so với giai đoạn trớc đây. Các nguyên nhân do bẩm sinh, bệnh tật và chiến tranh sẽ giảm.
Tuy nhiên, các nguyên nhân do tại nạn giao thông, tai nạn lao động, do ô nhiễm môi
Lê Văn Hải K15 13
trờng có xu hớng tăng do sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.
Chất lợng cuộc sống nâng cao, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cùng với sự tiến bộ của y học cho phép cải thiện và nâng
cao thể chất con ngời từ đó sẽ giảm bệnh tật hoặc tăng cờng khả năng đối phó với bệnh tật của con ngời, tăng khả năng can thiệp mạnh mẽ đến việc bảo vệ, chăm sóc
sức khỏe con ngời, giảm thiểu ốm đau bệnh tật, chữa lành thơng tích và làm giảm mức độ khuyết tật của dân c.
Các nguyên nhân vỊ bƯnh tËt, bÈm sinh sÏ gi¶m do sù tiÕn bộ xã hội và can thiệp có hiệu quả hơn của hệ thống dịch vụ y tế hiện đại, nhiều dịch bệnh nguy hiểm
đã và đang đợc kiểm soát, ngăn chặn. Nguyên nhân khuyết tật do hậu quả của chiến tranh, của chất độc hóa học điôxin cũng sẽ giảm đi nhiều, do sự hiểu biết của ngời
dân bị hậu quả chất độc hóa học đợc nâng cao. Họ ý thức và kiểm soát đợc hành vi không phù hợp víi mong mn vµ ngun väng cđa hä. ViƯc gia tăng số ngời
khuyết tật do hậu quả của chất độc hóa học trong giai đoạn tới là do chúng ta điều tra xác định chính xác hơn, số lợng ngời đã bị ảnh hởng từ trớc nhng cha đợc biết
đến vào trong danh sách đối tợng tàn tật, số phát sinh mới cũng sẽ có nhng chắc chắn số lợng sẽ ít hơn giai đoạn trớc vì chiến tranh đã qua đi trên một phần t thế kỷ.
Số liệu thống kê ngời khuyết tật trong những năm tới có thể còn cao hơn so với số lợng hiện có, vì viƯc nhËn d¹ng vỊ ngêi khut tËt ë níc ta trong thời gian qua
cha có sự đồng nhất ở các vùng miền, chủ yếu dựa vào đội ngũ cán bộ cấp xã và thôn bản, mà bản thân họ nhận thøc vỊ vÊn ®Ị khut tËt, ngêi khut tËt, nhËn dạng
ngời khuyết tật cha thật đầy đủ và thống nhất, dẫn đến tình trạng lọt lới đối tợng khuyết tật trong thống kê. Nếu sự lọt lới này đợc khắc phục bằng cách nâng cao
nhận thức của cộng đồng, xã hội, của đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ cơ sở về vấn đề khuyết tật và nhận dạng ngời khuyết tật thì khả năng số lợng ngời khuyết tËt ngang
b»ng møc íc tÝnh cđa WHO 10 d©n sè cũng là điều không ngạc nhiên [25]. Theo công bố cđa nhiỊu qc gia trong khu vùc vµ thÕ giíi tû lƯ ngêi khut tËt dao ®éng
ë møc 8 - 9 dân số [61]. Trong khi đó nớc ta lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, kinh tế chậm phát triển, đất nớc cha ra khỏi tình trạng nớc nghèo, thu nhập
bình quân đầu ngời dới 750USD mà tû lƯ ngêi khut tËt ë møc 6,63 th× còng là điều cha phản ánh đúng thực trạng [30]. Nguyên nhân chính của vấn đề này là do
cha tổ chức đợc việc nhận dạng đúng về ngời khuyết tật trong tổng điền tra dân số.
Lê Văn Hải K15 14
Nh vậy về cơ bản có thể thấy xu hớng ngời khut tËt ë ViƯt Nam sÏ cã nhiỊu biÕn ®ỉi về mặt nguyên nhân dẫn đến khuyết tật cũng nh về tỷ lệ gia tăng ngời
khuyết tật. Việc nhận định xu hớng biến động này là cần thiết để có các giải pháp phù hợp giảm bớt tỷ lệ gia tăng và có các giải pháp hỗ trợ kịp thời giảm bớt thiệt
thòi cho ngời khuyết tật.
Theo số liệu báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng cho thấy ở thành thị từ 70 đến 80 và ở nông thôn từ 65 đến 70 số ngời khuyết tật sống
dựa vào gia đình, ngời thân và trợ cấp xã hội. Có khoảng 25 đến 35 số ngời khuyết tật có hoạt động tạo thu nhập cho bản thân và gia đình. Tỷ lệ những ngời
khuyết tật trẻ sống phụ thuộc vào gia đình là rất cao. Khoảng 94 trẻ khuyết tật dới 18 tuổi sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình, nhng nhóm tuổi từ 55 ®Õn 60 chØ
chiÕm tû lƯ 74 [25], [5], [6].
Theo kết quả khảo sát ngời khuyết tật do Bộ Lao động - Thơng binh - Xã hội tiến hành năm 2005, phần lớn các gia đình có ngời khuyết tật ®Ịu cã møc sèng thÊp.
Theo ®¸nh gi¸ cã 32,5 sè hộ gia đình thuộc loại nghèo số hộ nghèo của c¶ níc chiÕm 22, 58 sè hé cã møc sèng trung bình, chỉ có 9 số hộ thuộc loại khá và
0,5 số hộ thuộc loại giàu. Các hộ gia đình càng có nhiều ngời khuyết tật thì mức sống càng giảm, trong nhóm gia đình có 1 ngời khuyết tật, phần trăm thuộc diện
nghèo là 31, song tỷ lệ hé nghÌo ë nhãm hé cã 3 ngêi khuyÕt tËt lại lên trên 63 [6].
Hầu hết các hộ mới chỉ đáp ứng những nhu cầu tối thiểu nh ăn, mặc, khám chữa bệnh cho ngời khuyết tật 93,4 số hộ đáp ứng đợc nhu cầu về ăn, mặc, 72
số hộ đáp ứng đợc nhu cầu về khám chữa bệnh cho ngời khuyết tật còn những nhu cầu khác nh phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề... mức độ đáp ứng còn thấp.
Việc tham gia hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của ngời khuyết tật có nhiều hạn chế. Hiện nay ngời khuyết tật gặp rất nhiều rào cản khách quan cũng nh chủ quan.
Phần lớn đối tợng sống ở khu vực nông thôn chiếm 87,20, đa số ngời khuyết tật và gia đình ngời khuyết tật thiÕu vèn, thiÕu t liƯu s¶n xt, thiÕu kinh
nghiƯm làm ăn nên rất khó khăn trong phát triển kinh tế để vơn lên thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn.
Về nhà ở của các gia đình có ngời khuyết tật: Có tới 24 số hộ gia đình đang sống trong các căn nhà tạm, 65 có nhà bán kiên cố và 11 có nhà kiên cố. Các
chỉ tiêu về nhà ë cđa hé cã ngêi khut tËt gÇn ngang b»ng với tình trạng nhà ở của
Lê Văn Hải K15 15
c dân Việt Nam. Hỗ trợ về nhà ở, trợ giúp đột xuất và trợ giúp khác, nói chung cho gia đình ngời khuyết tật mới đợc một tỷ lệ nhỏ 69 số hộ đợc hỗ trợ về nhà ở,
9,2 số hộ đợc trợ giúp đột xuất.
Về sức khỏe: Trong tổng số 2012 hộ có ngời khuyết tật đợc khảo sát năm 2005 thì có 84 số hộ gia đình đã đợc hởng các chính sách về y tế trong đó 38,2
số hộ đợc khám chữa bệnh miễn phí, 45,4 số đợc cấp thẻ BHYT. Đạt đợc kết quả này, một phần rất quan trong là nhờ thực hiện chính sách y tế cho ngời nghèo.
Về hoạt động văn hóa - thể thao: Việc tham gia các hoạt động văn hóa thể thao gặp rất nhiều hạn chế do cha xã hội hóa một cách rộng rãi các hoạt động văn
hóa thể thao dành cho ngời khuyết tật, điều kiện, phơng tiện còn thiếu để ngời khuyết tật có thể tham gia hoạt động văn hóa thể thao. Ngời khuyết tật có thể tham
gia tốt các hoạt động văn hóa thĨ thao, thùc tÕ cã nhiỊu ngêi khut tËt ®· đạt thành tích cao trong thi đấu quốc tế [6].
Do thực tế khuyết tật và hoàn cảnh, đại bộ phận ngời khuyết tật không sử dụng các dụng cụ, phơng tiện chuyên dùng. Số ngời sử dụng phơng tiện chuyên
dùng chỉ chiếm 26, chủ yếu họ đợc nhà nớc cấp tặng 48,12. Chỉ có 30 trong số họ có khả năng tự mình mua sắm phơng tiện chuyên dụng. Rất nhiều ngời khuyết
tật nghèo không có khả năng tự mua sắm cho mình dụng cụ, phơng tiện chuyên dùng đơn giản.
Trình độ học vấn của ngời khuyết tật rất thấp, 41,01 sè ngêi khut tËt tõ 6 ti trë lªn không biết chữ và số có trình độ từ tốt nghiệp phổ thông cơ sở trở lên chỉ
chiếm 19,5. Trong đó tỷ lệ biết chữ ở khu vực nông thôn kém hơn khu vực thành thị, nữ giới thấp hơn nam giới và ngời dân tộc thiểu số thấp hơn nhiều so với ngời
kinh.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, cã tíi 93,4 sè ngêi khut tËt tõ 16 ti trở lên không có chuyên môn, số có bằng cấp tõ chøng chØ nghỊ nghiƯp trë lªn chØ
chiÕm 6,5. Riªng ngời khuyết tật có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở lên chỉ chiếm 2,75. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngời khuyết tật khu vực thành
thị cao hơn khu vực nông thôn, của nam giới cao hơn nữ 97 nữ không có chuyên môn kỹ thuật còn ở nam là 91,3 và của ngời kinh cao hơn ngời dân tộc thiểu số.
Theo số liệu năm 2005, có khoảng 58 ngời khuyết tật tham gia làm việc, 30 cha cã viƯc lµm vµ mong mn cã viƯc lµm ổn định, tỷ lệ này cao nhất ở vùng
đồng bằng sông Hồng khoảng 42, tiếp đến là vùng Đông Nam Bộ khoảng
Lê Văn Hải K15 16
36. Mặc dù, số ngời khuyết tật có chuyên môn kỹ thuật không nhiều nhng lại rất ít ngời đợc nhận vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp. Số ngời khuyết tật tõ 15
ti trë lªn chØ cã 29 ngêi khut tËt có khả năng lao động, trong số này có gần 75 tham gia hoạt động kinh tế, tuy nhiên cũng chỉ có 47,5 đủ việc làm, 37,2
thiều việc làm và 15,3 cha có việc làm. Thu nhập của những ngời có việc làm cũng rất thấp, thấp hơn cả mức tiền lơng tối thiểu, đa số làm việc trong ngành nông
nghiệp, nơi mà mức thu nhập thấp nhất. Theo kết quả thu đợc từ điều tra chọn mẫu tại hai thành phố Hà Nội và Đà Nẵng, mức thu nhập trung bình của ngời khuyết tật
chỉ có 300.000 đồngtháng. Qua các số liệu có thể thấy vấn đề việc làm và thu nhập cho ngời khuyết tật đang là vấn đề bức xúc cần đợc quan tâm.
Ngời khuyết tật hiện đang sinh hoạt theo các tổ chức hội nh Hội ngời khiếm thị, Hội ngời khuyết tật Thông qua các tổ chức hội này, ng
ời khuyết tật có các hoạt
động hiệu quả hỗ trợ, giúp đỡ nhau vơn lên trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng. Tuy nhiên, ngời khuyết tật cha thực sự hòa nhập với xã hội do một số nguyên
nhân: Nhận thức của cộng đồng về ngời khuyết tật còn hạn chế; Đây đó, vẫn còn sự phân biệt đối xử với ngời khuyết tật; Điều kiện tiếp cận khó khăn; Các công trình
công cộng còn cha thuận lợi, ngời khuyết tật không thể hoặc tiếp cận rất khó khăn; Tự kỷ bản thân, ngời khuyết tật vẫn còn tâm lý mình khác biệt, thiệt thòi so với cộng
đồng, nên không muốn hoặc không dám giao lu với xã hội.
Tóm lại, ngời khuyết tật ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ lớn, đại bộ phận sống ở nông thôn, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật thấp, đời sống gặp rất nhiều
khó khăn. Họ là một trong những nhóm dân số dễ bị tổn thơng nhất trong xã hội. Chính vì vậy họ cần đợc quan tâm đặc biệt và đợc hỗ trợ trong các dịch vụ phục hồi
chức năng, đào tạo nghề và tạo cơ hội việc làm để có thể hòa nhập với xã hội và có một cuộc sống tốt hơn.

1.3.2. Nghiên cứu về ngời khuyết tật ở Hà T©y


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (88 trang)

×