1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Nghiên cứu về ngời khuyết tật ở Hà Tây Tình hình nghiên cứu về trẻ em khuyết tật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.92 KB, 88 trang )


36. Mặc dù, số ngời khuyết tật có chuyên môn kỹ thuật không nhiều nhng lại rất ít ngời đợc nhận vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp. Sè ngêi khut tËt tõ 15
ti trë lªn chØ cã 29 ngời khuyết tật có khả năng lao động, trong số này có gần 75 tham gia hoạt động kinh tế, tuy nhiên cũng chỉ có 47,5 đủ việc làm, 37,2
thiỊu viƯc lµm vµ 15,3 cha cã viƯc lµm. Thu nhập của những ngời có việc làm cũng rất thấp, thấp hơn cả mức tiền lơng tối thiểu, đa số làm việc trong ngành nông
nghiệp, nơi mà mức thu nhập thấp nhất. Theo kết quả thu đợc từ điều tra chọn mẫu tại hai thành phố Hà Nội và Đà Nẵng, mức thu nhập trung bình của ngời khuyết tật
chỉ có 300.000 đồngtháng. Qua các số liệu có thể thấy vấn đề việc làm và thu nhập cho ngời khuyết tật đang là vấn đề bức xúc cần đợc quan tâm.
Ngời khuyết tật hiện đang sinh hoạt theo các tỉ chøc héi nh Héi ngêi khiÕm thÞ, Héi ngêi khuyết tật Thông qua các tổ chức hội này, ng
ời khuyết tật có các hoạt
động hiệu quả hỗ trợ, giúp đỡ nhau vơn lên trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng. Tuy nhiên, ngời khuyết tật cha thực sự hòa nhập với xã hội do một số nguyên
nhân: Nhận thức của cộng đồng về ngời khuyết tật còn hạn chế; Đây đó, vẫn còn sự phân biệt đối xư víi ngêi khut tËt; §iỊu kiƯn tiÕp cËn khã khăn; Các công trình
công cộng còn cha thuận lợi, ngời khuyết tật không thể hoặc tiếp cận rất khó khăn; Tự kỷ bản thân, ngời khuyết tật vẫn còn tâm lý mình khác biệt, thiệt thòi so với cộng
đồng, nên không muốn hoặc không dám giao lu với xã hội.
Tóm l¹i, ngêi khut tËt ë ViƯt Nam chiÕm mét tû lệ lớn, đại bộ phận sống ở nông thôn, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật thấp, đời sống gặp rất nhiều
khó khăn. Họ là một trong những nhóm dân số dễ bị tổn thơng nhất trong xã hội. Chính vì vậy họ cần đợc quan tâm đặc biệt và đợc hỗ trợ trong các dịch vụ phục hồi
chức năng, đào tạo nghề và tạo cơ hội việc làm để có thể hòa nhập với xã hội và có một cuộc sống tốt hơn.

1.3.2. Nghiên cứu về ngời khuyết tật ở Hà Tây


Hà Tây là một tỉnh có dân số đông, theo điều tra dân số năm 2006 dân số toàn tỉnh gần 2,6 triệu ngời. Về mặt địa lý, Hà Tây là một tỉnh thuộc vùng Đồng
bằng sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình, phía Đông giáp thủ đô Hà Nội. Đơn vị hành
chính của tỉnh gồm 12 huyện, 2 thành phố, có 5 huyện thuộc vùng bán sơn địa với 20 xã đồi gò, và miền núi. Nguồn thu nhập chính của ngời dân từ sản phẩm nông
nghiệp, đời sống của một số bộ phận nhân dân còn nghèo [18].
Lê Văn Hải K15 17
Hà Tây năm trong vùng có số lợng ngời khuyết tật đứng thứ 2 trong 8 vïng sinh th¸i cđa ViƯt Nam. Theo sè liƯu năm 1995 vùng Đồng bằng sông Hồng có
980.118 ngời khuyết tËt sè lỵng ngêi khut tËt cao nhÊt ë vïng Đồng bằng sông Cửu Long với 1.018.341 ngời [7],[33].
Đặc biệt Hà Tây là một trong những tỉnh bị ảnh hởng nỈng nỊ cđa di chøng chiÕn tranh víi rÊt nhiỊu thơng, bệnh binh và nạn nhân chất độc da cam. Toàn tỉnh
có hơn 24.000 nạn nhân chất độc mầu da cam, trong đó số lợng trẻ em dới 16 tuổi bị khuyết tật do di chứng là 1.080 em [29].
Theo số liệu từ một công trình siêu phân tích số liệu về ngời khuyết tật ở Việt Nam năm 1999 cđa th¹c sü Thomas T. Kane, tû lƯ ngêi khut tật của Hà Tây chiếm
tới 10,4 dân sè trong ®ã sè ngêi khuyÕt tËt nỈng chiÕm 2,63 tổng dân số khoảng 25,3 tỉng sè ngêi khut tËt [50].
HiƯn nay c¸c sè liƯu công bố về ngời khuyết tật là không thống nhất nhau, cả số liệu trên toàn quốc và số liệu ở tỉnh Hà Tây. Chủ yếu các số liệu đợc thu thập từ
một số điều tra chọn mẫu cha phải điều tra toàn bộ nên độ chính xác chỉ mang tính tơng đối.

1.3.3. Tình hình nghiên cứu về trẻ em khuyết tật


Năm 1998, tỷ lệ phổ biến của khuyết tật trẻ em nói chung ở Việt Nam là 3,1 trong số trẻ em từ 0 - 17 tuổi. Một báo cáo của Bộ LĐ-TB-XH về hỗ trợ xã hội
những trẻ em gặp khó khăn đã cho thấy rằng trong năm 2002, số trẻ em bị khuyết tật nặng là 168.000 trên 1,2 triệu em khuyết tật [5], [7], [11], [32].
Ước tÝnh vỊ tû lƯ phỉ biÕn cđa khut tÊt ë Việt Nam là khá lớn 2 - 10, chiếm 5 - 7 tổng dân số. Sự khác nhau về kết quả khảo sát đã chỉ ra một vấn đề
phổ biến trên toàn thế giới và phụ thuộc vào phạm vị rộng về sự khác nhau trong định nghĩa về khuyết tật đợc sử dụng. Điều tra đợc thực hiện năm 1987 ë Trung
Qc ®· cho thÊy tû lƯ khut tật là 4,9 [54], một nghiên cứu ở úc đợc thực hiện năm 1993 đã cho thấy ngời khuyết tật chiếm 18 tổng số dân [55], trong khi điều
tra mẫu quốc gia của ấn Độ năm 1991 đã thu đợc tû lƯ phỉ biÕn cđa ngêi khut tËt chØ chiÕm 1,9 dân số [53]. Bởi vì các định nghĩa phổ biến và các phân loại khuyết
tật không đợc áp dụng ®ång nhÊt ë c¸c níc, c¸c so s¸nh cđa qc tế về dữ liệu khuyết tật không có ý nghĩa. Việc này kêu gọi nỗ lực liên quốc gia để áp dụng
Lê Văn Hải K15 18
những khái niệm đợc chấp nhận trên phạm vi quốc tế, những định nghĩa, phạm vi và những phân loại, có thể bao gồm phơng pháp nghiên cứu, kỹ thuật và bảng hỏi.
Phạm vị phổ biến ớc tính ở Việt Nam đối với mỗi loại khuyết tật cũng thay đổi từ nguồn này đến nguồn khác. Hai dạng phổ biến nhất của khuyết tật trẻ em đợc
báo cáo trong khảo sát dựa vào cộng ®ång CDS 1998 lµ khuyÕt tËt vËn ®éng 22,4 vµ khuyết tật về ngôn ngữ 21,4. Những nguyên nhân chính của khuyết tật trẻ em
đợc đề cập đến là khuyết tật bẩm sinh 55 và bệnh tật 29,1. Đây cũng là 2 nguyên nhân chính của khuyết tật đợc thông báo trong số trẻ em sống trong cơ sở,
với khuyết tËt bÈm sinh chiÕm 23 64,6 vµ bƯnh tËt chiÕm 23,5.
CDS 1998 ®· ®Ị cËp r»ng, trong céng ®ång mét nửa trong tổng số những khuyết tật báo cáo về trẻ em đợc phân loại thành khuyết tật nặng. Trong số những
trẻ em khuyết tật sống trong các sơ sở, 90 có khuyết tật nặng. Nhiều khuyết tật đ- ợc báo cáo là phổ biến trong trẻ em khuyết tật. Số trung bình các khuyết tật trong trẻ
em khuyết tật là 1,48 khuyết tật1 trẻ khuyết tật sống trong hộ gia đình, và 1,64 khuyết tật1 trẻ sống trong sơ sở. Khiếm thính và khuyết tật về ngôn ngữ có xu hớng
xảy ra với cùng một trẻ, cũng nh là khuyết tật ngôn ngữ và các cơn hoặc hành vị khác thờng.
Tỷ lệ phổ biến khuyết tật trong những trẻ em gái đợc báo cáo là thấp hơn so với tỷ lệ ở bé trai. Phát hiện này liên quan đến những rủi ro mà trẻ em gái gặp phải
là ít hơn đối với một số khuyết tật đặc biệt mà có thể không đợc báo cáo.
Trình độ giáo dục của trẻ em khuyết tật đợc báo cáo là thấp. CDS 1998 báo cáo, trong cộng đồng gần một nửa số trẻ em khuyết tật trong dộ tuổi đi học 6 - 17
tuổi là mù chữ 45,5. Hơn 13 trong sè trỴ em khut tËt ti tõ 6 - 17 cha từng đi học và 16 trong số trẻ em khuyết tật đi học đã bỏ học. Trong khảo sát dựa vào cơ
sở, tình trạng giáo dục cho trẻ em khuyÕt tËt dêng nh tèt h¬n. ChØ 5 sè trẻ em khuyết tật cha đi học, mặc dù lớn hơn cả số trẻ em khuyết tật ở các cơ sở đã bỏ học.
Trong các cơ sở, 85 số trẻ em khut tËt ti tõ 15 - 17 cha hoµn thành bậc tiểu học. Số lợng những trẻ em khuyết tật sống trong các hộ gia đình hoặc trong các cở
sở đã hoàn thành bậc học trung học là rất thấp. Trẻ em khuyết tận sống trong các hộ gia đình và các sơ sở, cha đi học và bỏ học đợc thông báo trong CDS 1998 là do: Gia
đình nghèo đói; Thiếu các chơng trình giáo dục và hỗ trợ cho trẻ em khuyết tật; Trẻ em khuyết tật không thể tiếp cận đợc với trờng học; Xấu hổ hoặc thiếu tự tin của trẻ
em khuyết tật vì khuyết tật của mình.
Lê Văn Hải K15 19
Có thể thấy rằng có những nhân tố khác ảnh hởng đến sự không tham gia và bỏ học của trẻ, nhân tố quan trọng nhất trong số này là thiếu việc đào tạo giáo viên
và thông tin liên quan đến trẻ em khuyết tật, trong khi đó sự phân biệt đối xử và định kiến đối với trẻ em khuyết tật cũng ảnh hởng tới việc đi học của các em.
Từ khảo sát hộ gia đình và khảo sát dựa vào cơ sở trong CDS năm 1998, dạy nghề và cơ hợi việc làm cho những trẻ em khuyết tật lớn hơn vẫn còn hạn chế. ở
nhiều vùng sự quan tâm và những nguồn lực cha đầy đủ đã đợc phân bổ cho dạy nghề và các chơng trình tạo việc làm để đáp ứng nhu cầu của phần lớn những trẻ em
khuyết tật mong muốn có việc làm và có khả năng.
Trong cộng đồng, ngời ta phát hiện rằng nghề may là một trong một số ngành mà trẻ em khuyết tật có thể tham gia. Thực tế là hơn 90 trẻ em khuyết tật hy vọng
có đợc một nghề có ý nghĩa đã chỉ rõ nhu cầu gia tăng đối với các cơ hội và cần cung cấp phơng tiện để họ có thể đạt đợc những thành quả trong việc làm.
Nhận thức về các dịch vụ phục hồi chức năng ở địa phơng rất thấp trong số những gia đình trẻ em khuyết tật. Khoảng 13 gia đình của trẻ em khuyết tật sống
trong cộng đồng cha từng điều trị cho khuyết tật của mình. Việc điều trị cho khuyết tật trẻ thay đổi theo vùng và c dân ở nông thôn - thành thị, với 90 sống ở thành thị
khu vực Đồng bằng sông Hồng đã tìm đến các dịch vụ phục hồi chức năng, so sánh với chỉ 29 sống ở nông thôn của vùng Cao Nguyên.
Khoảng 15 trong số trẻ em khuyết tật đang sử dụng các thiết bị và trợ giúp phục hồi chức năng nh là các bộ phận giả, chỉnh hình, trợ thính, trợ thị và xe lăn. Tỷ
lệ này còn thấp, khoảng một nửa tổng số trẻ khuyết tật sống trong các hộ gia đình đ- ợc báo cáo là bị khuyết tật nặng. Dới 10 trẻ em bị khuyết tật vận động và 2 trẻ
em bị khiếm thính sử dụng các loại thiết bị trợ giúp phục hồi chức năng. Phần lớn các thiết bị phục hồi chức năng đang đợc sử dụng là phải mua thay vì đợc nhận
thông qua tổ chức tài trợ hoặc chơng trình của Nhà nớc.
Chỉ 5 số trẻ em khuyết tật sống trong các hộ gia đình ở khu vực thành thị và 10 trẻ em khuyết tật sống trong các hộ gia đình ở khu vực nông thôn nhận đợc
hình thức hỗ trợ tài chính từ Nhà nớc và cộng đồng nh là trợ cấp hàng tháng, giáo dục miến phí hoặc đợc trợ cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Tỷ lệ hỗ trợ thay đổi theo
vùng, 8,3 tổng số trẻ em khuyết tật ở khu vực phía Tây Bắc nhận đợc hỗ trợ so với chỉ 3 trong tổng số trẻ em khuyết tật ở khu vực Đông Nam Bộ.
Lê Văn Hải K15 20
Trong các cơ sở bảo trợ xã hội, 6,5 trẻ em khuyết tật đã bị gia đình bỏ rơi, 2,6 không có gia đình và 9,1 không liên lạc với gia đình. Tuy nhiên, phần lớn
những trẻ em khuyết tật đợc đa vào cơ sở đều liên lạc hàng tuần với gia đình mình. Việc liên lạc với gia đình thay đổi theo dạng khuyết tật, hơn 13 số trẻ em bị lên cơn
thần kinh và những khuyết tật về hành vi c xử xa lạ đợc báo cáo là không có liên lạc với gia đình. Phần lớn trẻ em khuyết tật cho biết là họ đợc cán bộ đối xử tốt. Gần 15
trong số trẻ em khuyết tật trong các cơ sở nói các em không thích cơ sở, tỷ lệ phần trăm các em không thích cơ sở cao hơn so với những trẻ em khuyết tật lớn hơn.
Trẻ em bị lên cơn thần kinh, hành vi c xử xa lạ đợc báo cáo là bị cô lập về xã hội nhiều nhất. Họ có ít bạn, ít tham gia vào trờng học, làm việc và các hoạt động ở
lứa tuổi họ. Trong cuộc sống hằng ngày họ đợc những ngời dân địa phơng, cộng đồng và cán bộ trong cơ sở đối xử tốt. Sự cô lập về xã hội của trẻ em trải qua những
khuyết tật về tâm thần, bệnh phong, bệnh tự kỷ và những khuyết tật khác theo phân loại về các cơn thần kinh, hành vi xa lạ là vần đề phổ biến trên thế giới [7] , [5].
Cuộc thu thập dữ liệu thống kê quốc gia NSDC năm 2002 đã cho biết tỷ lệ khuyết tật là 6,3 trong tổng số dân, tơng đơng với 5,1 triệu ngời khut tËt. Tỉng
sè trỴ em khut tËt ti tõ 0 - 18 là 662.000 chiếm 2,4 tổng số trẻ em tuổi tử 0 - 18 [52].
NSDC báo cáo ba dạng khuyết tật phổ biến nhất là khuyết tật vận động 29 và rối loạn thần kinh, khiếm thính cả hai chiếm 17. Trong số 648 hộ gia đình
tham gia vào khảo sát hộ gia đình, hai khuyết tật phổ biến là khuyết tật vận động 24 và thiểu năng trí tuệ 23. Những kết quả của khảo sát hộ gia ®×nh ®· cho
thÊy nhiỊu khut tËt phỉ biÕn, tû lƯ khuyết tật trung bình trong trẻ là 1,5.
Nguyên nhân phổ biến nhất của khuyết tật theo NSDC và khảo sát hộ gia đình đợc báo cáo là do những khuyết tật bẩm sinh. Theo NSDC, 36 khuyết tật đợc
báo cáo là do những khuyết tật bẩm sinh, và trong khảo sát hộ gia đình tỷ lệ này là 71 trong tất cả các dạng khuyêt tật.
Phụ nữ có tỷ lệ khut tËt thÊp h¬n nam giíi tû lƯ khut tËt phổ biến là 7,5 và 5,2 đối với nữ, đối với trẻ em khuyết tật, tỷ lệ bị khuyết tật giữa hai giới
là cân băng.
Tỷ lệ phổ biến của khuyết tật ở khu vực nông thôn cao hơn ở thành thị. Đối với những ngời khuyết tật nói chung, tỷ lệ phổ biến ở thành thị là 3,1 so với tỷ lệ
7,5 ở khu vực nông thôn. Đặc biệt, tỷ lệ phổ biến của nữ giới bị khuyết tật cao hơn
Lê Văn Hải K15 21
ở khu vực nông thôn 6,3 so với ở khu vực thành thị 1,9. Đối víi trỴ em khut tËt, tû lƯ phỉ biÕn ë khu vực thành thị là 1,4 và ở khu vực nông thôn là
2,6, tỷ lệ phổ biến của trẻ em gái bị khuyết tật là 1,1 ở thành thị và 2,6 ë khu vùc n«ng th«n. 52 trong sè 648 hộ gia đình có trẻ khuyết tật tham gia vào Khảo
sát hộ gia đình không tiếp cận với giáo dục, trong sè ®ã cã 19 hiƯn vÉn ë ti mÉu giáo. NSDC báo cáo tổng số 49 trong số những ngời khuyết tật không hoàn thành
bậc tiểu học, trong số đó 34 là mù chữ. Tiếp cận với giáo dục cho thấy sự không bình đẳng về giới một cách rõ ràng. Tỷ lệ mù chữ trong số nữ giới bị khuyết tật là
49 so với 23 tỷ lệ nam giới bị khuyết tật. ở một số vùng, sự không bình đẳng này thậm chí còn đợc tuyên bố là cao hơn.
Từ khảo sát hộ gia đình, nghiên cứu chỉ ra rằng 30 trẻ em khuyết tật nặng đợc nhận một số dạng hỗ trợ tài chính từ Chính phủ nh trợ cấp giáo dục, tiếp cận
miễn phí với các dịch vụ y tế hoặc trợ cấp hàng tháng. 86 hộ gia đình đợc báo cáo là đã đa con mình tới bác sỹ ít nhất một lần. 12 trong số trẻ em khuyết tật sử dụng
các dụng cụ trợ giúp.
Trong 42 số những ngời đợc hỏi trong khảo sát hộ gia đình đã cho biết con họ có những vấn đề về giao tiếp, và tất cả trẻ em đợc báo cáo là cần hỗ trợ trong kỹ
năng sống hằng ngày.
Tiếp cận với dạy nghề rất hạn chế. Chỉ 5 trong số trẻ em tàn tật từ 16 đến 18 tuổi có tham gia vào các hoạt động dạy nghề trong thời điểm hiện tại và trớc đó,
Đợc biết những lý do chính cho tỷ lệ thấp này là sức khỏe yếu và bị khyết tật nặng.
Trong khi khảo sát hộ gia đình, phỏng vấn bán cấu trúc, KAP và thảo luận nhóm tập trung cho thấy có thái ®é tÝch cùc ®èi víi trỴ em khut tËt, thay đổi từ
thái độ bình thờng sang tốt bụng và cảm thông, 54 trẻ em khuyết tật trong mẫu nghiên cứu là không có bạn bè, đối với trẻ em có hành vi xa lạ thì tỷ lệ này thậm chí
còn cao hơn 90. Cần có nghiên cứu sâu về định tính để có thêm thông tin về vấn đề này.
Lê Văn Hải K15 22
1.4. hạn chế khuYết tật bẩm sinh bằng sàng lọc trớc sinh và sơ sinh

1.4.1. Chơng trình sàng lọc trớc sinh nhằm giảm thiểu khuyết tật bÈm sinh


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (88 trang)

×