1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Hoàn cảnh kinh tế của gia đình có ngời khuyết tật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.92 KB, 88 trang )


ở nhóm gia đình có từ 2 NKT trở lên là đa khuyết tật. ở nhóm gia đình có 2 NKT, tỷ lệ dạng khuyết tật này là 24,87 và ở nhóm gia đình có trên 2 NKT là 26,97.
87,98
26,92
4,41 10,35
2,96 9,97
23 22,38
11,51 5,56
3,43 24,87
22,7 11,75
20,18 10,01
12,01 6,89
2,01 15,16
18,70 11,81
8,46 26,97
Vân Động
Nhìn Nghe
Nói Học
Thần Kinh
Đa KT Tổng
1 người 2 người
Trên 2 người
Hình 4. Tỷ lệ số NKT trong gia đình có NKT Dạng đa khuyết tật gia tăng theo nhóm gia đình có nhiều NKT. Điều tra cho
thấy ở nhóm gia đình có 1 NKT dạng đa khuyết tật chiếm 22,38, nhóm gia đình có 2 NKT là 24,87, gia đình có 3 NKT là 26,94 và nhóm gia đình có trên 3 NKT
là 27,14. Ngợc lại, dạng bất thờng thần kinh lại giảm dần theo nhóm gia đình có nhiều NKT. Dạng bất thờng thần kinh nhiều nhất trong nhóm gia đình có 1 NKT
chiếm 23, nhóm gia đình có 2 NKT chiếm 22,7, nhóm gia đình có 3 NKT chiếm 16,89 và nhóm gia đình có trên 3 NKT chỉ có 4,29 đây cũng là dạng khuyết tật
chiếm tỷ lệ thấp nhất trong nhóm gia đình có trên 3 NKT.

3.3.2. Hoàn cảnh kinh tế của gia đình có ngời khuyết tật


Theo thống kê năm 2003, Việt nam có gần 8 hộ gia đình có NKT và hầu hết các hộ đó đều là hộ nghèo. Đánh giá của Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội
năm 2005 ở 8 tỉnh gồm Quảng Ninh, Hòa Bình, Hà Tây, Thanh Hóa, Quảng Nam, Đắc Lắc, Đồng Nai và thành phố Cần Thơ cho thấy hầu hết những gia đình có NKT
đều có mức sống thấp, trong đó 33 rơi vào loại nghèo số liệu thống kê quốc gia là 22. Trên thực tế, những gia đình có nhiều ngời khuyết tật phải chịu nhiều khó
Lê Văn Hải K15 44
khăn nhất, 31 gia đình có một ngời khuyết tật đợc xếp vào hộ nghèo, số lợng gia đình có 3 ngời khuyết tật đã tăng lên tới 63. Gần 14 24 những hộ gia đình có
ngời khuyết tật phải sống trong điều kiện nhà ở không đầy đủ, 65 sống trong những ngôi nhà bán kiên cố. Chỉ có 11 hộ gia đình có nhà kiên cố.
Điều tra của Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội ISDS năm 2007 trên 4 tỉnh Thái Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam và Đồng Nai đã cho thấy khoảng gần 75 NKT
trong độ tuổi từ 15 trở lên không có việc làm, 75 số hộ gia đình này phải sống trong những căn nhà tạm bợ với điều kiện sống vô cùng khó khăn. Theo báo cáo mới
đây nhất của Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội, tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về ngời tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan thì hiện có tới 37 NKT
đang sống trong hộ nghèo, gần 80 trong độ tuổi lao động không có khả năng tham gia lao động, gần 88 số ngời từ 16 tuổi trở lên cha đợc đào tạo chuyên môn, 79
đang sống dựa vào gia đình, ngời thân
Bảng 6. Tỷ lệ tình trạng kinh tế gia đình của NKT toàn tỉnh
Loại KT Nghèo
Trung bình Khá Giàu
n n
n Khó khăn về vận động
2.703 24,22
3.624 27,42
285 28,85
Khó khăn về nhìn 1.064
9,54 1.502
11,37 100
10,12 Khó khăn về nghe
253 2,27
483 3,65
46 4,66
Khó khăn về nói 434
3,89 697
5,27 56
5,67 Khó khăn về học
1.065 9,54
1.372 10,38
124 12,55
Bất thờng thần kinh 2.922
26,19 2.691
20,36 171
17,31 §a khut tËt
2.717 24,35
2.846 21,54
206 20,85
Tỉng céng 11.158
44,00 13.215
52,11 988
3,90 Trong nghiên cứu toàn tỉnh Hà Tây, mặc dù có tới 52,11 NKT sống trong
các gia đình cã møc sèng trung b×nh nhng sè NKT sèng trong c¸c hé nghÌo còng chiÕm tû lƯ kh¸ cao 44 chØ cã 3,78 NKT sèng trong c¸c hé cã kinh tế khá và
0,12 sống trong các gia đình giàu có. Trong các gia đình nghèo dạng khuyết tật chiếm tỷ lệ cao lần lợt là bất thờng thần kinh 26,19, khó khăn về vận động 24,22
Lê Văn Hải K15 45
và dạng đa khuyết tật 24,35. Dạng chiếm tỷ lệ cao ở các gia đình kinh tế trung bình là khó khăn về vận động 27,42, đa khuyết tật 21,54 và bất thờng thần kinh
20,36. ở các gia đình khá và giàu dạng khó khăn về vận động chiếm tỷ lệ cao nhất 28,85 và dạng khó khăn về nghe chiếm tỷ lệ thấp nhất 4,66.
3.4. nguyên nhân dẫn đến khuyết tật
Có nhiều dạng khuyết tật mà mỗi dạng lại có các mức nặng nhẹ khác nhau và mỗi loại khuyết tật đó có các nguyên nhân khác nhau. Các nguyên nhân gây nên
khuyết tật đợc chia thành ba nhóm bao gồm các nhân tố sinh học, các nhân tố di truyền và các tai nạn. Trong nghiên cứu tình hình khuyết tật tại Việt Nam năm 1999
các nhà điều tra đã tổng kết có 4 nhóm nguyên nhân bao gồm: Nhóm nguyên nhân bẩm sinh, nhóm nguyên nhân bệnh tật, nhóm nguyên nhân tai nạn và các tác nhân
môi trờng. Đây chính là căn cứ để chúng tôi đa ra 4 nhóm nguyên nhân chính trong báo cáo này bao gồm nguyên nhân bẩm sinh, tai nạn, bệnh tật và các nguyên nhân
khác.
Bẩm sinh 69,37
Bệnh Tật 15,86
Tai nạn 11,83
Nguyên nhân khác
2,95
Hình 5. Tỷ lệ nguyên nhân dẫn đến khuyết tật Trong số những nguyên nhân nói trên thì 2 nguyên nhân đầu là do bẩm sinh
và bệnh tật đã chứa đựng trong đó nguyên nhân của hậu quả chiến tranh, nhất là hậu quả của chất độc hóa học, vì nhiều ngời tham gia chiến tranh bị hậu quả của chất
độc hóa học sau này sinh con bị dị tật, dị dạng và đợc xếp vào nhóm bẩm sinh, thậm chí có hàng nghìn ngời sinh 2 con đều bị di tật, dị dạng. Mặt khác, một số ngời sinh
con ra lúc đầu bình thờng nhng sau một thời gian đứa trẻ bị bệnh tật và ngời ta xếp
Lê Văn Hải K15 46
vào nhóm bệnh tật, những nguyên nhân sâu xa của nó chính là hậu quả của chất độc hóa học, đặc biệt là chất đioxin và hËu qu¶ cđa chiÕn tranh.
ë ViƯt Nam, tû lƯ khut tật do chiến tranh chiếm tỷ lệ rât lớn gần 26. Do níc ta ph¶i tr¶i qua mét thêi gian chiến tranh dài nên các tổn thơng do chiến tranh
hoặc các tai nạn liên quan đến chiến tranh góp phần đáng kể vào tình trạng khuyết tật. Nhng gần đây, tai nạn giao thông và bệnh liệt não làm tăng đáng kể số lợng ngời
tàn tật ở nớc ta trong khi đó khuyết tật do chiến tranh bắt đầu ít nổi bật hơn. Đồng thời các bệnh do nhiễm khuẩn, nhiễm virus dẫn đến khuyết tật cũng ngày một gia
tăng. Theo dự báo của Chính phủ thì trong những năm tới tỷ lệ NKT trên tổng số dân sẽ tăng do tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp và do ô nhiễm môi trờng gây
nên bởi quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Bảng 7. Tỷ lệ giữa nguyên nhân KT với các loại KT
Loại KT Bẩm sinh
Tai nạn Bệnh Tật
Nguyên nhân khác
n n
n n
Khó khăn về vận động 4.165 23,68 1.449 48,30
833 20,71
165 22,09
Khó khăn về nhìn 1.666 9,47
534 17,80
272 6,76
194 25,97
Khó khăn về nghe 570
3,24 66
2,20 83
2,06 63
8,43 Khó khăn về nói
1.135 6,45 12
0,40 34
0,85 6
0,80 Khó khăn về học
2.221 12,63 60
2,00 230
5,72 50
6,69 Bất thờng thần kinh
3.284 18,67 508
16,93 1.824 45,35 168
22,49 Đa khuyết tật
4.551 25,87 371
12,37 764
18,55 101
13,52 Tæng céng
17.59 2
100 3.000
100 4.022
100 747
100 Từ bảng số liệu trên thấy rằng nguyên nhân gây khut tËt chiÕm tû lƯ cao
nhÊt lµ bÈm sinh 69,37, tiếp theo là nguyên nhân do bệnh tật 15,86, nguyên nhân do tai nạn chỉ chiếm 11,83 và các nguyên nhân khác chiếm 2,95. Báo cáo
mới nhất của Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội năm 2006 cho thấy nguyên nhân dẫn đến bệnh tật ở Việt Nam bao gồm: Nguyên nhân bẩm sinh 35,8, bệnh tật
Lê Văn Hải K15 47
32,34, hậu quả chiến tranh 25,56, tai nạn lao động 3,49, tai nạn giao thông 1,16 và các nguyên nhân khác chiếm 1,57.
Trong nguyên nhân bẩm sinh dạng khuyết tật phổ biến là đa khuyết tật 25,87 và khó khăn về vận động 23,68. Còn ở nhóm nguyên nhân do tai nạn,
dạng khuyêt tật gặp nhiều nhất là khó khăn về vận động chiếm tới 48,30. Ngoài ra, trong nguyên nhân tai nạn các dạng khuyết tật chiếm tỷ lệ thấp hơn là khó khăn
về nhìn 17,80, dạng bất thờng thần kinh 16,93 và dạng đa khuyết tật chiếm 12,37. Ngợc lại, ở nhóm nguyên nhân do bệnh tật, dạng bất thờng thần kinh có tỷ
lệ cao nhất lên tới 45,35, các dạng khó khăn về vận động chiếm 20,71 và đa khuyết tật chiếm 18,55. Trong các nguyên nhân khác, dạng khuyết tật phổ biến
nhất là bất thờng thần kinh 22,49 và thấp nhất là dạng khó khăn về nói 0,8.
3.5. tình hình khuyết tật bẩm sinh ở hà tây
Khuyết tật bẩm sinh là một gánh nặng cho bản thân ngời bệnh, cho gia đình và cho xã hội. Khuyết tật bẩm sinh là những bất thờng về hình thái, phát sinh trong
thai kỳ, đợc khám phát hiện ngay khi sinh ra, hoặc xuất hiện sau này khi trẻ lớn lên. Tổn thơng có thể ở mức độ đại thĨ hay vi thĨ, cã thĨ biĨu hiƯn ë bªn ngoài hay bên
trong cơ thể. Khuyết tật bẩm sinh có thĨ lµ 1 tËt hay nhiỊu tËt, cã biĨu hiƯn lâm sàng nhẹ hoặc nghiêm trọng. Các trờng hợp khuyết tật nhẹ tật chỉ tay, thừa da vành tai
chiếm khoảng 14 các trờng hợp di tật bẩm sinh.
Các nghiên cứu trong những năm trớc đây đều đã đi đến kết luận nguyên nhân dẫn đến khuyết tật ở Việt Nam chđ u do bÈm sinh, bƯnh tËt vµ do hËu quả
của chiến tranh. Các nguyên nhân này phản ánh tố chất con ngời, cũng nh sự chăm sóc ban đầu cho trẻ và chất lợng dịch vụ y tế còn khá hạn chế trong việc kiểm soát
bệnh tật dẫn đến tỷ lệ khuyết tật cao. Nguyên nhân từ hậu quả chiến tranh cũng khá cao. Chiến tranh kéo dài 30 năm, đặc biệt là cuộc chiến tranh chỗng Mỹ cứu nớc
giai đoạn 1960 - 1975 đã để lại hậu quả nghiêm trọng và dai dẳng cho ngời dân Việt Nam.
Điểm hạn chế trong các nghiên cứu, hớng dẫn thống kê, điều tra phân loại nguyên nhân khuyết tật trớc đây là cha làm rõ dạng khuyết tật bẩm sinh hay khuyết
tật do hậu quả chất độc hóa học đioxin, do chiến tranh. Dẫn đến khi phân loại, thống kê thì nguyên nhân bị khuyết tật do chiến tranh thấp hơn nguyên nhân bẩm sinh và
nguyên nhân do bệnh tật. Sự phân tích này có ý nghĩa rất quan trọng cho việc nghiên cứu thống kê, điều tra phân loại nguyên nhân khuyết tật cũng nh việc hoạch định
Lê Văn Hải K15 48
chính sách, giải pháp trợ giúp cũng nh ngăn ngừa tình trạng khuyết tật. Phần tiếp theo sẽ tập trung phân tích số liệu của dạng khuyết tật có nguyên nhân bẩm sinh.

3.5.1. Tỷ lệ, cơ cấu ngêi khuyÕt tËt bÈm sinh


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (88 trang)

×