1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Khả năng hoạt động của ngời khuyết tật bẩm sinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.92 KB, 88 trang )


bất thờng ở bộ phận sinh dục. Tuy nhiên, đa số các trục trặc này lại đợc phát hiện do bệnh nhân đi chữa bệnh khác và gia đình những ngời này không hiểu hết về nguyên
nhân cũng nh cách đề phòng cho những đứa con sau này của họ. Khoa phẫu thuật nhi, bệnh việt Việt - Đức đã thống kê đa phần bệnh nhân có bất thờng ở bé phËn
sinh dơc ®Õn trƠ, khi ®· 6-7 ti. ThËm chí có trờng hợp đã trởng thành mới đi chữa bệnh.
Sự chênh lệch về giới trong dạng khuyết tật bẩm sinh còn duy trì ở lứa tuổi lao động từ 16 đến 60 tuổi. Mặc dù số lợng nam đã có xu hớng giảm nhng vẫn
chiếm tỷ lệ 52,38 và tỷ lệ nữ tăng lên chiếm 47,62. Nhng điều đáng chú ý là lứa tuổi trên 60, tỷ lệ giới tính lại thay đổi ngợc lại và có sự khác biệt rất lớn. Trong khi
các cụ ông có khuyết tật bẩm sinh chỉ chiếm 46,32 thì các cụ bà có tû lƯ lªn tíi 53,68. Nh vËy cã thĨ thÊy các trẻ em nam sinh ra có khuyết tật bẩm sinh cao hơn
hẳn các trẻ em nữ có khuyết tật bẩm sinh đồng thời ở lứa tuổi già các cụ «ng cã khut tËt bÈm sinh thêng chÕt tríc c¸c cụ bà có khuyết tật bẩm sinh.

3.5.3. Khả năng hoạt ®éng cđa ngêi khut tËt bÈm sinh


MỈc dï cã thĨ dễ dàng nhận thấy NKT thờng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống hơn những ngời bình thờng nhng trong thực tế chúng ta vẫn cha có dữ liệu định
lợng về các loại khó khăn mà ngời khuyết tật ở Việt Nam đang phải gánh chịu. Phần này đề cập một số kết quả đánh giá về những khó khăn mà NKT ở Hà Tây đang gặp
phải trong cuộc sống, bao gồm những khó khăn trong sinh hoạt, giáo dục, việc làm, y tế cũng nh tham gia các hoạt động cộng đồng khác. Cụ thể ở đây là những khó
khăn của NKT có nguyên nhân bẩm sinh. Đây cũng chính là những lĩnh vực cần tập trung hỗ trợ để nâng cao chất lợng cuộc sống và đóng góp cho kinh tế - xã hội của
NKT.
3.5.3.1. Khả năng sinh hoạt hàng ngày Bị khuyết tật thờng gây ra cho NKT nhiều khó khăn trong những sinh hoạt
thông thờng. Trong cuộc điều tra đã yêu cầu NKT hoặc gia đình đánh giá mức độ khó khăn trong việc thực hiện những hoạt động cơ bản nh ăn, uống, nghe, nói, nhìn,
vận động, đi lại, giao tiếp và vệ sinh thân thể. Các mức độ phụ thuộc bao gồm: Tự làm NKT có thể tự mình làm việc đó mà không cần ngời khác giúp đỡ hoặc không
cần sử dụng dụng cụ hỗ trợ nào, cần giúp một phần NKT có khó khăn khi thực hiện hoạt động đó nhng vẫn cha cần ngời khác giúp đỡ hoặc không cần sử dụng
Lê Văn Hải K15 55
dụng cụ hỗ trợ nào và phụ thuộc ngời khác NKT không thể thực hiện hoạt động đó nếu không có ngời khác giúp đỡ hoặc không sử dụng dụng cụ hỗ trợ nào.
Bảng 12. Khả năng sinh hoạt hàng ngày của NKT bẩm sinh theo các nhóm tuổi
Khả năng sinh hoạt hàng ngày
0 - 15 16 - 60
Trên 60 Tổng
n n
n n
Tự làm 545
20,25 6.140 44,84 557
46,07 7.242 41,17 CÇn gióp mét phÇn
655 24,34 4.293 31,35
368 30,44 5.316 30,22
Phơ thc ngêi kh¸c 1.491 55,41 3.259 23,80
284 23,49 5.034 28,62
Tæng céng 2.691
100 13.692 100 1.209
100 17.592 100 Có 41,17 NKT bẩm sinh tự làm các công việc sinh hoạt hàng ngày nh vệ
sinh cá nhân, thân thể, tự chăm lo cho cơ thể và làm các công việc nhà. Tuy nhiên vẫn có tới 30,22 NKT không tự làm đợc bất cứ công việc gì thậm chí những NKT
này phải thờng xuyên có ngời thân để ý, chăm sóc. Chỉ có trên 30 NKT cần trợ giúp một phần. Họ có thể gặp một số khó khăn trong việc đi lại, ăn uống nhng nhìn
chung những NKT cần trợ giúp một mình vẫn tự có khả năng sinh hoạt.
Kết quả điều tra cho thấy ở trẻ em tức là nhóm tuổi dới 16 tỷ lệ phụ thuộc ng- ời khác trong sinh hoạt hàng ngày rất cao 55,41. Tỷ lệ này có sự khác biệt rất lớn
so với nhóm trẻ em khuyết tật có khả năng tự làm hoặc cần trợ giúp một phần trong sinh hoạt hàng ngày. Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc ngời khác cao hơn gấp đôi tỷ lệ cần
giúp một phần 24,34 và cao gần gấp 3 tỷ lệ trẻ em có khả năng tự làm các công việc sinh hoạt cho mình 20,25. Có rất nhiều trẻ có khuyết tật bẩm sinh đang ở lứa
tuổi nhi đồng nên khả năng tự chăm sóc bản thân là rất khó. Mặt khác, những trẻ em này vẫn đang sống cùng cha, mẹ hoặc ngời thân nên trẻ vẫn luôn đợc giúp đỡ trong
tất cả các công việc cá nhân. Tuy vậy, trong số những trẻ em có khuyết tật bẩm sinh phụ thuộc hoàn toàn vào ngời khác cũng có rất nhiều trẻ có khuyết tật nặng mà thậm
chí khi lớn hơn các em vẫn còn phải nhờ đến sự giúp ®ì cđa ngêi th©n. Thùc tÕ cho thÊy r»ng viƯc chăm sóc những NKT không có khả năng làm các công việc trong
sinh hoạt hằng ngày là một gánh nặng thực sự cho gia đình NKT. Những gia đình này không chỉ bị tổn thơng về mặt sức khỏe, kinh tế mà họ còn phải luôn sống trong
trạng thái tinh thần bị ức chế nh buồn bã, mệt mỏi.
Lê Văn Hải K15 56
Ngợc lại, ở nhóm tuổi lao động và ngời già tỷ lệ NKT có khả năng tự làm các công việc trong sinh hoạt hàng ngày lại khá cao 44,84 và 46,07. Tỷ lệ NKT
không có khả năng làm bất cứ việc gì trong sinh hoạt hàng ngày ở cả 2 nhóm tuổi đều thấp chỉ đạt hơn 23. Còn tỷ lệ NKT cần sự trợ giúp một phần từ ngời khác ở
nhóm tuổi lao động là 31,35 và ở nhóm tuổi già là 30,44.
3.5.3.2. Khả năng giúp đỡ gia đình Bảng 13. So sánh khả năng giúp đỡ gia đình ở các độ tuổi khác nhau
Khả năng giúp đỡ gia đình
0 - 15 16 - 60
Trên 60 Tổng
n n
n n
Giúp đợc tơng đối 137
5,09 2.802 20,46
228 18,86 3.167 18,00
Giúp đợc chút ít 802
29,80 6.696 48,90 633
52,36 8.131 46,22 Không giúp đợc gì
1.752 65,11 4.194 30,63 348
28,78 6.294 35,78 Tỉng céng
2.691 100
13.692 100
1.209 100
17.592 100
Cã tíi 65,11 số trẻ em khuyết tật bẩm sinh không giúp đợc gì cho gia đình và chỉ có 5,09 có thể giúp đỡ gia đình một cách tơng đối. ở nhóm tuổi lao động tỷ
lệ NKT giúp đợc gia đình tơng đối chiếm 20,46, giúp đợc chút ít chiếm 48,90 và không giúp đợc gì chiếm 30,63. Đây là nhóm tuổi có khả năng lao động cao, đa
phần đều có khả năng tự làm các công việc cá nhân và họ cũng có ý thức hơn trong việc giúp đỡ gia đình để giảm bớt các gánh nặng do chính mình mang lại. Ngoài ra,
nghiên cứu còn cho thấy có sự khác biệt ở lứa tuổi già, có tới 52,36 những ngời già có khuyết tật bẩm sinh giúp đỡ đợc gia đình chút ít trong khi tỷ lệ giúp đợc tơng
đối chỉ có 18,86 và tỷ lệ không giúp đợc g× chiÕm tíi 28,78.
3.5.3.3. T×nh h×nh sư dơng dơng cơ trợ giúp Trong giai đoạn hiện nay cuộc sống của NKT còn gặp rất nhiều khó khăn,
một bộ phận không nhỏ NKT sống trong cảnh nghèo khó 33, nhà tạm 24, không biết chữ 35,8 và cha đợc đáp ứng về nhu cầu chỉnh hình phục hồi chức
năng, khám chữa bệnh, học nghề, tạo việc làm, tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thể thao số liệu năm 2005.
Lê Văn Hải K15 57
Khảo sát năm 2005 cũng cho thấy tỷ lệ tiếp cận các dụng cụ trợ giúp của NKT còn rất thấp. Các gia đình có NKT mới chỉ đáp ứng những nhu cầu tối thiểu
nh ăn, mặc, khám chữa bệnh cho NKT 93,24 số hộ đáp ứng đợc nhu cầu về ăn, mặc, 72 số hộ đáp ứng đợc nhu cầu về khám chữa bệnh cho NKT còn những nhu
cầu khác nh phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề mức độ đáp ứng còn
thấp.
14,83 11,28
14,47 12,04
2 4
6 8
10 12
14 16
0 - 15 16 - 60
Trên 60 Tổng
Hình 8. Tỷ lệ sử dụng cụ trợ giúp của NKT với các độ tuổi khác nhau Ngoài ra, tỷ lệ NKT bẩm sinh tiếp cận với các chơng trình phục hồi chức
năng nói chung và với dụng cụ trợ giúp nói riêng cũng còn rất thấp. Nguyên nhân có cả chủ quan và khách quan. Nguyên nhân chủ quan do những NKT bẩm sinh hay
NKT do chất độc đioxin thờng bị đa dị tật, khó điều trị, NKT vận động phải đợc điều trị thành nhiều giai đoạn, can thiệp nhiều lần, phải tiến hành đồng bộ cả phẫu
thuật chỉnh hình phục hồi chức năng, cung cấp dụng cụ cho nên tốn kém, kinh phí hỗ trợ không đủ cho việc đi lại từ nhà đến Trung tâm. NKT vận động gặp rất nhiều
khó khăn khi thực hiện chỉnh hình phục hồi chức năng, việc tiếp cận khám chữa bệnh chất lợng cao của NKT vẫn còn nhiều rào cản đặc biệt là chi phí tốn kém.
Qua nghiên cứu thấy rằng, để khắc phụ những khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày cũng nh giúp đỡ gia đình và làm các công việc phù hợp, NKT thờng dựa vào sự
giúp đỡ từ ngời khác, cố gắng thích nghi và sử dụng các dụng cụ hỗ trợ. Tuy nhiên tỷ lệ NKT sử dụng dụng cụ hỗ trợ là rất thấp. Phần lớn NKT phải nhờ cậy đến sự
giúp đỡ từ gia đình, họ hàng, hàng xóm hoặc bạn bè. Nhiều NKT cố gắng thích nghi trong sinh hoạt hằng ngày. Những phơng pháp nh tự kiểm soát, tự quản lý và tự học
từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, kể cả kinh nhiệm từ những NKT khác.
Lê Văn Hải K15 58
Sử dụng dụng cụ hỗ trợ là biện pháp chủ động hơn của NKT để khắc phục những khó khăn trong sinh ho¹t nhng tû lƯ sư dơng dơng cơ trợ giúp của NKT bẩm
sinh là rất thấp chỉ đạt 12,04. Các loại thiết bị đợc sử dụng chủ yếu là nạng kim loại hoặc gỗ, kính, xe lăn. bộ phận giả, máy trợ thính. Tỷ lệ sử dụng dụng cụ trợ
giúp ở nhóm tuổi lao động là thấp nhất 11,28. Trong khi tû lƯ ë trỴ em cao nhÊt 14,83 so sánh với số liệu năm 2003 thì số trẻ em trên toàn quốc có sử dụng dụng
cụ trợ giúp chỉ đạt trên 12. Nhng tỷ lệ này vẫn còn thấp hơn nhiều so với yêu cầu thực tế. Điều đáng chú ý là trong các dụng cụ trợ giúp cho trẻ em phần lớn đều do
các quỹ từ thiện, các hội NKT và các tổ chức xã hội khác trao tăng. Rất ít gia đình có khả năng tự mua các dụng cụ trợ giúp cho con em mình. Tỷ lệ sử dụng dụng cụ
trợ giúp ở nhóm ngời già cũng đạt tỷ lệ trên 14. Phân tích số liệu theo hoàn cảnh kinh tế gia đình cũng cho thấy không có sự khác biệt lớn giữa các gia đình khá giả,
trung bình hay nghèo trong việc sử dụng dụng cụ trợ giúp. Tỷ lệ này đều đạt xấp xỉ 12.

3.5.4. Tình hình học tập, làm việc và nhận hỗ trợ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (88 trang)

×