1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Tình hình học tập, làm việc và nhận hỗ trợ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.92 KB, 88 trang )


Sử dụng dụng cụ hỗ trợ là biện pháp chủ động hơn của NKT để khắc phục những khó khăn trong sinh ho¹t nhng tû lƯ sư dơng dơng cơ trợ giúp của NKT bẩm
sinh là rất thấp chỉ đạt 12,04. Các loại thiết bị đợc sử dụng chủ yếu là nạng kim loại hoặc gỗ, kính, xe lăn. bộ phận giả, máy trợ thính. Tỷ lệ sử dụng dụng cụ trợ
giúp ở nhóm tuổi lao động là thấp nhất 11,28. Trong khi tû lƯ ë trỴ em cao nhÊt 14,83 so sánh với số liệu năm 2003 thì số trẻ em trên toàn quốc có sử dụng dụng
cụ trợ giúp chỉ đạt trên 12. Nhng tỷ lệ này vẫn còn thấp hơn nhiều so với yêu cầu thực tế. Điều đáng chú ý là trong các dụng cụ trợ giúp cho trẻ em phần lớn đều do
các quỹ từ thiện, các hội NKT và các tổ chức xã hội khác trao tăng. Rất ít gia đình có khả năng tự mua các dụng cụ trợ giúp cho con em mình. Tỷ lệ sử dụng dụng cụ
trợ giúp ở nhóm ngời già cũng đạt tỷ lệ trên 14. Phân tích số liệu theo hoàn cảnh kinh tế gia đình cũng cho thấy không có sự khác biệt lớn giữa các gia đình khá giả,
trung bình hay nghèo trong việc sử dụng dụng cụ trợ giúp. Tỷ lệ này đều đạt xấp xỉ 12.

3.5.4. Tình hình học tập, làm việc và nhận hỗ trợ


Điều 67, Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi rõ: Nhà nớc và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật đợc học văn hóa, học nghề
phù hợp, ngời già, ngời khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nơng tựa đợc Nhà nớc và xã hội giúp đỡ. Việc xây dựng các chính sách, giải pháp đề án cụ thể để trợ giúp
NKT cần dựa trên cơ sở mức độ nặng hay nhẹ của những trở ngại trong sinh hoạt, những rào cản khi tham gia vào các hoạt động xã hội của bản thân NKT. Những trở
ngại, rào cản này là nguyên nhân dẫn đến những thiệt thòi đối với NKT khi tiếp cận và thụ hởng các lợi ích khác nhau của xã hội. Vì vậy, hớng tới một xã hội phát triển
bền vững, công bằng, tiến bộ, văn minh hội nhập quốc tế thì việc trợ giúp ngời khuyết tật hòa nhập với xã hội, tiếp cận đợc các dịch vụ công cộng, tạo ra sự bình
đẳng, công bằng là mục tiêu quan trọng không chỉ đối với Việt Nam, mà là mục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới.
Trình độ học vấn của NKT bẩm sinh còn rất thấp. Đặc biệt tỷ lệ không biết chữ lên tới 60,33, đồng thời tỷ lệ mù chữ ở độ tuổi lao động cũng còn rất cao
58,71. RÊt nhiỊu trỴ em cã khut tËt bÈm sinh không đợc đến trờng hoặc không có khả năng học tập. Mặc dù cũng đã có rất nhiều cố gắng từ phía gia đình, nhà tr-
ờng và các tổ chức xã hội để nhiều trẻ KT bẩm sinh đợc đến trờng, hòa nhập và đi học với các trẻ khác nhng tình trạng thôi học của các em này cũng rất cao. Qua
nghiên cứu chúng tôi thấy có rất nhiều khó khăn trong quá trình tiếp cận giáo dục
Lê Văn Hải K15 59
của NKT, điển hình nh khó khăn về đi lại đến trờng và về nhà, tham gia vào các hoạt động ở trờng, cơ sở hạ tầng của nhà trờng không phù hợp không thân thiện với
NKT, sự kỳ thị và phân biệt đối xử nặng nề từ bạn bè cùng lớp, phơng pháp giảng dạy của giáo viên và sự phân biệt đối xử của giáo viên. Ngoài ra, nhiều NKT không
đợc gia đình khuyến khích đi học.
Đại học và sau đại học
0,28 PTCS
35,81
PTTH 3,58
Mù chữ 60,33
Hình 9. Trình độ học vấn của NKT bẩm sinh toàn tỉnh Khuyết tật ảnh hởng lớn đến học tập của cá nhân đặc biệt là khuyết tật trí tuệ,
khuyết tật thần kinh. Đối với trẻ mắc khuyết tật trí tuệ và thần kinh thì khả năng t duy và hình thành khái niệm không có hoặc rất yếu nên không thể tham gia học tập
cùng các trẻ bình thờng. So với mặt bằng chung xã hội thì học vấn của NKT còn thấp, chủ yếu là không biết chữ và phổ cập trung học cơ sở.
Tỷ lệ NKT bẩm sinh trong nghiên cứu của chúng tôi đạt trình độ văn hóa phổ thông trung học chỉ đạt 3,58 và trình độ văn hóa đại học và trên đại học chỉ có 49
ngời tơng đơng với 0,28. Kết quả nghiên cøu còng cho thÊy mỈc dï cã 35,81 sè NKT bẩm sinh đạt trình độ PTCS nhng một phần không nhỏ trong số những NKT
này chỉ mới biết đọc, biết viết và làm các phép tính đơn giản.
So sánh với số liệu điều tra toàn tỉnh chúng tôi thấy có sự khác biệt về tỷ lệ mù chữ của NKT. Trong khi tỷ lệ mù chữ của NKT toàn tỉnh là 49,54 thì tỷ lệ mù
chữ của NKT có nguyên nhân bẩm sinh là 60,33. Tỷ lệ mũ chữ của những NKT có nguyên nhân khác là rất thấp so với NKT có nguyên nhân bẩm sinh nh tỷ lệ mù chữ
ở những NKT có nguyên nhân tai nạn là 14,20, nguyên nhân bệnh tật là 33,22.
Lê Văn Hải K15 60
Ngoài ra, tỷ lệ có trình độ học vấn đạt từ phổ thông cơ sở trở lên của những NKT có các nguyên nhân khác cũng rất cao đều trên 67 trở lên.
Khảo sát gầy đây nhất năm 2005 ở 8 tỉnh cũng cho thấy trình độ học vấn của NKT còn rất thấp, 35,83 không biết chữ, 12,58 mới chỉ biết đọc, biết viết,
24,13 trình độ văn hóa tiểu học, 20,74 trình độ văn hóa trung học cơ sở, 5,71 trình độ phổ thông trung học, đặc biệt có đến 94 NKT không có chuyên môn kỹ
thuật. Trong khi đó, tỷ lệ mù chữ của c dân Việt Nam thấp hơn 5. Nghiên cứu năm 2003 cũng cho thấy tỷ lệ mù chữ của NKT ở vùng đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm
33,60 tổng số NKT.
Bảng 14. Trình ®é häc vÊn cđa NKT bÈm sinh theo giíi tÝnh
Häc vÊn Nam
N÷ n
n p
Mï ch÷ 5.233
56,20 5.381
64,98 0,05
PTCS 3.645
39,15 2.655
32,06 0,05
PTTH 403
4,33 226
2,73 0,05
Đại học và sau đại học 30
0,32 19
0,23 0,05
Tỉng céng 9.311
100 8.281
100 MỈc dï tû lƯ NKT bẩm sinh nam cao hơn nữ nhng tỷ lệ không biết chữ của
những NKT nữ lại cao hơn nam. Trong khi tỷ lệ NKT bẩm sinh là nữ không biết chữ chiếm 64,98 thì tỷ lệ này ở nam chỉ có 56,20 sai khác có ý nghĩa thống kê
p0,05. Tỷ lệ NKT bẩm sinh nam có trình độ học vấn PTCS đạt 39,15 còn ở nữ chỉ chiếm 32,06. Đặc biệt, trình độ văn hóa PTTH của những NKT bẩm sinh nam
cao gần gấp đôi so với nữ, 4,33 so với 2,73. Trình độ đại học và trên đại học của những NKT nữ là 0,23 trong khi ở nam là 0,32 sai khác không có ý nghĩa thống
kê p0,05. Bên cạnh đó trong điều tra chúng tôi không thấy có sự khác biệt lớn về trình độ học vấn của NKT bẩm sinh ở khu vực thành thị và nông thôn.
Điều 13 của Bộ luật Lao động có hiệu lực năm 1994 khẳng định Chính phủ, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội phải có trách nhiệm tạo công ăn việc làm và
đảm bảo rằng tất cả những ai có khả năng làm việc đều đợc làm việc. Chơng XI, Mục III nêu những quy định cụ thể cho ngời lao động bị khuyết tật. Điều 125
Lê Văn Hải K15 61
của Mục này khẳng định Chính phủ bảo vệ quyền đợc làm việc của ngời khuyết tật và khuyến khích tạo việc làm cho họ. Hàng năm, Chính phủ dành một khoản
ngân sách nhất định để hỗ trợ NKT phục hồi chức năng, nâng cao năng lực làm việc và dạy nghỊ. ChÝnh phđ cã chđ tr¬ng cho vay víi l·i suất thấp để tạo công ăn
việc làm cho NKT. Các cơ sở dạy nghề hoặc sản xuất nhận NKT vào làm sẽ đợc hỗ trợ hoặc đợc miễn, giảm thuế và sẽ đợc cho vay với lãi suất thấp. Các cơ sở không
nhận NKT vào làm sẽ phải đóng một khoản tiền cho Quỹ Việc làm để trợ giúp NKT. Theo Điều 126, thời gian làm việc cho ngời lao động là NKT là 7 tiếngngày
và 42 giờtuần. §iỊu 126 còng nªu quy định và điều kiện làm việc cho ngời lao động là NKT. Theo Điều 128, ngời lao động là cựu chiến binh bị khuyết tật còn đ-
ợc nhận trợ cấp đặc biệt ngoài những lợi ích trên.
Bảng 15. Nghề và việc làm của NKT bẩm sinh phân theo giới tính
Nghề và Việc Làm Nam
Nữ Tổng
n n
n Không có nghề
7.536 80,94
6.843 82,63
14.37 9
81,74 Có học nghề nhng không đi làm
555 5,96
478 5,77
1.033 5,87
Có việc nhng muốn tìm việc khác 35
0,38 40
0,48 75
0,43 Có việc làm tốt
405 4,35
256 3,09
661 3,76
Muốn đợc học nghề 780
8,38 664
8,02 1.444
8,21 Tỉng céng
9.311 100
8.281 100
17.59 2
100 TiÕp cËn víi các hoạt động dạy nghề và việc làm của NKT bẩm sinh còn rất
hạn chế. Trung bình có 81,74 NKT bẩm sinh không có việc làm, tỷ lệ có việc làm tốt chỉ đạt 3,76. Trong quá trình thực địa chúng tôi nhận thấy rằng trong cơ cấu
nghề nghiệp của những NKT bẩm sinh có rất ít NKT làm công nhân kỹ thuật trong các doanh nghiệp, làm nhân viên trong công ty nhà nớc, giáo viên, tri thức hoặc chủ
lao động nhóm công nhânchuyên gia và nghề khác. Bên cạnh đó, tỷ lệ có việc làm tốt trong lứa tuổi lao động ở những NKT bẩm sinh cũng rất thấp chỉ đạt trên 4. Có
sự khác nhau giữa tỷ lệ NKT bẩm sinh giữa nam và nữ, tỷ lệ ở nam giới là 80,94 còn tỷ lệ ở nữ giới là 82,63.
Lê Văn Hải K15 62
Tỷ lệ có học nghề nhng không đi làm cũng chiếm 5,87, trong đó không có sự khác biệt lớn giữa nam và nữ ở nam là 5,96 và nữ là 5,77. Bên cạnh đó cũng
còn một phần không nhỏ những NKT bẩm sinh muốn đợc học nghề. Tỷ lệ ở nam giới là 8,38, nữ giới là 8,02. Ngoài ra còn có 0,43 NKT bẩm sinh đã có việc
làm nhng mong muốn có đợc việc làm phù hợp hơn.
Phần lớn những NKT đều mong muốn đợc đào tạo nghề và có việc làm, tuy nhiên qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy việc đào tạo nghề cho NKT rất khó khăn và
vất vả. Hiện nay, cả nớc chỉ có 143 trung tâm đào tạo nghề chính quy cho NKT nh- ng phần lớn các trung tâm này đều có quy mô nhỏ và vừa đồng thời chỉ tập trung
đào tạo các nghề đơn giản nh may, thêu, đan còn các nghề mang tÝnh chÊt trÝ t nh c«ng nghƯ th«ng tin vẫn cha đợc chú trọng đúng mức.
4,09 13,77
22,17
12,86
5 10
15 20
25
0 - 15 16 - 60
Trên 60 Tổng
Hình 10. Tỷ lệ đợc hởng trợ cấp nhà nớc của NKT bẩm sinh theo nhóm tuổi Tỷ lệ nhận đợc trợ cấp nhà nớc của NKT bẩm sinh toàn tình chỉ đạt 12,86.
Đặc biệt có rất ít trẻ em dới 15 tuổi đợc hởng trợ cấp của nhà nớc. Tỷ lệ này chỉ đạt 4,09. Số liệu này cho thấy việc quan tâm chăm sóc đến trẻ có khuyết tật bẩm sinh
là cha cao và phần lớn trẻ không nhận đợc trợ cấp thờng xuyên, các trẻ nhận đợc trợ cấp chủ yếu do các trơng trình hỗ trợ NKT của xã hội và đặc biệt là của các tổ chức
phi chính phủ. Quá trình tìm hiểu tại cơ sở chúng tôi thấy rằng: Mặc dù luật pháp tạo điều kiện u tiên cho việc chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng
nhng việc thực hiện còn rất nhiều khó khăn do thiếu chính sách và đờng lối chỉ đạo các hoạt động hỗ trợ cho trẻ em khuyết tật thực hiện chơng trình phục hồi chức năng
dựa vào cộng đồng và giáo dục hòa nhập. Thứ hai, do thiếu cơ chế giám sát và các phơng thức để cđng cè viƯc thùc thi. Th ba, do thiÕu ngn nhân lực và tài chính cho
Lê Văn Hải K15 63
viƯc thùc thi vµ ci cïng lµ do thiÕu sù chuyên môn hóa và cơ hội để nâng cao chuyên môn.
Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ nhận đợc trợ cÊp ë løa ti lao ®éng chiÕm 13,77, tû lƯ này đã cao hơn tỷ lệ trung bình và tỷ lệ nhận đợc trợ cấp ở những ngời
già có khuyết tật bẩm sinh cao hơn hẳn 22,17. Các dạng khuyết tật nhận đợc hỗ trợ của nhà nớc nhiều nhất là dạng bất thờng thần kinh, dạng khó khăn vận động.
Trong khi đó các dạng khuyết tật nh khó khăn về nghe, khó khăn về nói ít nhận đợc trợ cấp hơn.
3.6. nhận thức của cộng đồng về các biện pháp hạn chế khuyết tật bẩm sinh
Tình trạng khuyết tật luôn là một gánh nặng đối với bất kỳ xã hội nào. Mục tiêu của nhiều chính phủ hiện này là giảm tỷ lệ tàn tật trong dân c, qua đó giảm các
chi phí nuôi dỡng, chữa trị và hỗ trợ đối với NKT. Đã có rất nhiều biện pháp từ chính phủ nh ban hành pháp lệnh về NKT, tổ chức các trơng trình hòa nhập cho
NKT
Hiên nay, Việt Nam đang rất cố gắng trong vấn để giảm thiểu thơng vong bởi
tai nạn giao thông và tai nạn lao động. Điều này đồng nghĩa với mục đích hạn chế tỷ lệ khuyết tật có nguyên nhân tai nạn. Bên cạnh đó các tỷ lệ khuyết tật gây ra bởi các
nguyên nhân bệnh tật và các nguyên nhân khác cũng ngày càng đợc cải thiện. Tuy nhiên vấn đề chúng tôi quan tâm là việc hạn chế tỷ lệ khuyết tật có nguyên nhân
bẩm sinh.
Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ NKT có nguyên nhân bẩm sinh là rất lớn. Chúng tôi nhận thấy các biện pháp hỗ trợ NKT bẩm sinh nh tạo điều kiện cho NKT
đợc học tập, học nghề, có công việc hay đợc hởng các nguồn trợ cấp khác nhau chỉ là các biện pháp phần ngọn. Một trong các biện pháp có tính cơ bản trong hạn chế tỷ
lệ NKT bẩm sinh trong tơng lại là can thiệp ngay từ những giai đoạn đầu tiên. Cụ thể ở đây là chơng trình sàng lọc trớc sinh và sàng lọc sơ sinh. Tuy nhiên, đây là
những biện pháp còn khá mới mẻ và cha phát triển ở Việt Nam mặc dù trên thế giới đã có nhiều nớc thực hiện cách đây nửa thể kỷ. Nhiều ngời, đặc biệt là đối tợng phụ
nữ vẫn cha có những kiến thức thực sự cần thiết để tiếp cận đợc với những chơng trình này.
Lê Văn Hải K15 64

3.6.1. Đặc điểm cá nhân của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có chồng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (88 trang)

×