1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.92 KB, 88 trang )


Bảng 20. Tỷ lệ hiểu biết của đối tợng về các yếu tố nguy cơ đối với trẻ sơ sinh
Nội dung Thành thị
Nông thôn SL
SL p
Đẻ non dới 37 tuần 76
84,4 286
86,7 0,05
Cân nặng khi sinh dới 2,5 kg 81
90,0 267
80,9 0,05
Khi sinh ph¶i can thiƯp nh dïng kĐp lÊy thai, giác hút thai, mổ đẻ
75 83,3
256 77,6
0,05 Trẻ bị vàng da sớm
84 93,3
218 66,1
0,05 Trẻ có các khiếm khuyết hoặc dị
tật các cơ quan trên cơ thể 81
90,0 296
89,7 0,05
Khác 1
1,1 2
0,6 0,05
Tổng 90
100 330
100 Hiện nay, đa phần các chị em phụ nữ đều đến các cơ sở y tế nh nhà hộ sinh,
trạm y tế, bệnh viện để đăng ký khám và sinh con. Nhiều ngời cũng biết về các dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh. Có 93,3 đối tợng phụ nữ ở khu vực thành thị hiểu
rằng trẻ bị vàng da sớm là một trong những dấu hiệu nguy hiểm. Tuy nhiên, điều đáng nói là tỷ lệ này có sự khác biệt rất lớn giữa 2 nhóm thành thị và nông thôn, tỷ
lệ ở nông thôn chỉ đạt 66,1 sai khác có ý nghĩa thống kê p0,05. Chỉ có câu hỏi về dấu hiệu đẻ non dới 37 tuần thì tỷ lệ phụ nữ ở khu vực nông thôn trả lời là biết
chiếm 86,7 cao hơn tỷ lệ phụ nữ ở khu vực thành thị 84,4 sai khác không có ý nghĩa thống kê p0,05.
Hiểu biết của nhóm phụ nữ khu vực thành thị về các dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh thờng cao hơn nhóm phụ nữ ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ phụ nữ ở khu vực
thành thị có hiểu biết về các dấu hiệu cân nặng khi sinh díi 2,5 kg, khi sinh ph¶i can thiƯp nh dùng kẹp lấy thai, giác hút thai, mổ đẻ, trẻ có các khiếm khuyết hoặc di tật
các cơ quan trên cơ thể đạt các tỷ lệ lần lợt là 90,0, 83,3, 90,0. Tơng ứng với nhóm phụ nữ ở khu vực nông thôn có các tỷ lệ lần lợt là 80,9, 77,6, 89,7.

3.6.3. Thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản


Bảng 21. Tỷ lệ thực hành xử trí khi gặp dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ mang thai
Lê Văn Hải K15 71
Nội dung Thành thị
Nông thôn SL
SL p
Không cần xử lý gì, nghỉ ngơi rồi sẽ hết 0,0
1 0,3
0,05 Mời thầy lang, mụ vờn giúp đỡ
0,0 329
99,7 0,05
Tự mua thuốc điều trị 0,0
11 3,3
0,05 Mời cán bộ y tế đến nhà
5 5,6
18 5,5
0,05 Đến các cơ sở y tÕ
88 97,8
321 97,3
0,05 Kh¸c
1 1,1
2 0,6
0,05 Tỉng
90 100
330 100
Cã một tỷ lệ cao phụ nữ cho biết sẽ đến các cơ sở y tế để khám khi gặp dấu hiƯu nguy hiĨm trong thêi kú mang thai. Trung b×nh cho cả nhóm phụ nữ nông thôn
cũng nh thành thị là 97,8. Nhng điều đáng chú ý trong nghiên cứu này là có một tỷ lệ gần nh tuyệt đối phụ nữ sinh sống ở vùng nông thôn có thói quen nhờ sự giúp
đỡ của các thầy lang, mụ vờn gần nhà khi gặp dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ mang thai 99,7 trong khi điều tra không nghi nhận bất kỳ trờng hợp phụ nữ sống ở
khu vực thành thị nào có câu trả lời nh thế.
Thực tế thấy rằng, có rất nhiều ngời hành nghề khám chữa bệnh ở vùng nông thôn không có giấy phép hành nghề thậm chí không có chuyên môn trong lĩnh vực
chăm sóc SKSS. Họ chỉ sử dụng những kinh nghiệm cơ bản trong quá trình hành nghề, không đợc đào tạo tập huấn thờng xuyên để có chuyên môn tốt hơn. Đây là
một vấn đề đáng để quan tâm, bởi vì việc khám chữa bệnh tại các cơ sở không có giấy phép cũng nh chuyên môn cao sẽ gây ra rất nhiều nguy hiểm cho chị em phụ
nữ trong giai đoạn thai kỳ.
Bảng 22. Tỷ lệ thực hành các biện pháp chăm sóc khi có thai
Nội dung Thành thị
Nông thôn SL
SL p
Khám thai tại các cơ sở y tế 86
95,6 315
95,5 0,05
Tiêm phòng uốn ván 85
94,4 309
93,6 0,05
Lê Văn Hải K15 72
Uống viên sắt phòng chống thiếu máu 70
77,8 282
85,5 0,05
Siêu âm chẩn đoán tình trạng thai nhi 84
93,3 273
82,7 0,05
Kh¸c 84
93,3 2
0,6 0,05
Tỉng 90
100 330
100 ViƯc thùc hành các biện pháp khi mang thai của chị em phụ nữ trong điều tra
là rất tốt. Việc đi khám định kỳ ở các cơ sở y tế của phụ nữ khi mang thai đều đạt trên 95. Tuy nhiên việc tiêm ngừa uốn ván có sự khác biệt giữa nhóm phụ nữ ở
khu vực nông thôn 93,6 và phụ nữ ở khu vực thành thì 94,4. Ngợc lại, tỷ lệ thực hành uống viên sắt phòng chống thiếu màu của chị em phụ nữ ở khu vực nông thôn
lại cao hơn khu vực thành thị. 85,5 so với 77,8. Thùc tÕ cho thÊy r»ng nhiỊu phơ n÷ sinh sèng ở khu vực thành thị biết rằng phải bổ xung sắt trong thời kỳ mang thai
nhng thay vì uống viên sắt họ sử dụng nhiều thực phẩm có hạm lợng sắt cao hơn. Đây là một biện pháp rât tốt và tự nhiên.
Tỷ lệ đợc siêu âm chẩn đoán hình ảnh phát hiện di tật trong những giai đoạn sớm của phụ nữ nhóm thành thị đạt tỷ lệ khá cao 93,3. Trong khi tỷ lệ này ở nhóm
phụ nữ nông thôn mới chỉ đạt 82,7 sai khác có ý nghĩa thống kê p0,05. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng nhóm phụ nữ khu vực thành thị không những có cơ
hội tiệp cận với các dịch vụ chăm sóc sản phụ tiên tiến mà hiểu biết của họ về chăm sóc SKSS cũng cao hơn nhiều. Có tới 93,3 chị em phụ nữ ở khu vực thành thị có
thể kể thêm các phơng pháp chăm sóc sản phụ nh ăn uống đầy đủ, tránh dùng các chất kích thích, không làm việc nặng, hạn chế quan hệ Tỷ lệ này có sự khác biệt
rất lớn với nhóm phụ nữ ở khu vực nông thôn 0,6.
Chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ chị em phụ nữ đợc xét nghiệm máu, phát hiện bệnh trong lần sinh mới nhất. Việt xét nhiệm máu của sản phụ nhằm xác định lợng sắt
trong máu, xác định nhóm máu và yếu tố Rherus, giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh nh bƯnh sëi Rubella, viªm gan siªu vi B, giang mai, HIV, bệnh Toxoplasma.
Lê Văn Hải K15 73
3,5 87,2
9,3 9,9
87,8
2,3 Có
Không Không biết
Thành thị Nông thôn
Hình 13. Tỷ lệ đợc xét nghiệm máu, phát hiện bệnh trong lần sinh mới nhất Trong đó có sự khác biệt lớn giữa 2 nhóm phụ nữ khu vực nông thôn và khu
vực thành thị. Chỉ có 9,3 phụ nữ ở khu vực thành thị so với 2,3 ở khu vực nông thôn có đi xét nghiệm máu. Tỷ lệ không đi xét nhiệm màu là khá cao đều trên 87.
Ngoài ra cũng còn có tới 3,5 phụ nữ ở khu vực thành thị và 9,9 phụ nữ ở khu vực nông thôn không biết đến việc phải đi xét nhiệm máu khi mang thai.

3.6.4. NhËn thøc vỊ khut tËt bÈm sinh qua hiĨu biÕt vỊ SLTS vµ SLSS


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (88 trang)

×