Tải bản đầy đủ - 92 (trang)
Kiểm tra, chỉnh lý gương nhỏ H.

Kiểm tra, chỉnh lý gương nhỏ H.

Tải bản đầy đủ - 92trang

-
Tiếp tục quan sát qua ống kính, nếu đường mép nằm ngang vừa chọn không đi qua tâm trục ống kính thì ta tiến hành điều chỉnh các vít trên trục ống kính có 2 vít
trên trục ống kính loại này sao cho đường nằm ngang đi qua tâm trục ống kính là được. Ốc vít này vặn vào thì ốc vít kia vặn ra.

3.2 Kiểm tra, chỉnh lý gương di động I Hình 1.7 .


Sau khi tháo ống kính ta đặt Sextant nằm ngang. Du xích đặt ở khoảng 40 trên vành
chia độ và trên vành chia độ ta đặt hai đi op 1 2. Một di op đặt ở vị trí 5 - 10
, cái còn lại đặt ở vị trí 120
- 130 . Đặt mắt ở vị trí cách gương lớn I một khoảng 30cm đến 40cm.
Nhìn vào gương lớn B ta sẽ thấy ảnh phản xạ của đi op 2 và kề với nó, qua mép của gương ta nhìn thấy ảnh trực tiếp của đi op 1. Đưa nhẹ mắt qua lại hoặc dịch chuyển đi op 2 mà ta
vẫn thấy 2 đi op trùng nhau thì tức là khi đó gương lớn B đã vng góc với mặt phẳng vành chia độ. Nếu các mép của đi op tạo thành đường gãy khúc thì dùng chìa khóa để chỉnh vít
phía sau gương lớn B cho đến khi các mép trên của 2 đi op chập thành đường liền nét là được.
Nếu không có điop thì ta có thể dùng ngay các mép của vành chia độ thay cho điop. Sắp đặt Sextant như trên, cầm Sextant trên tay theo phương nằm ngang, vành chia độ hướng ra
ngoài và tiến hành tương tự như trên.
Hình 1.7

3.3 Kiểm tra, chỉnh lý gương nhỏ H.


Sự chỉnh lý này còn được gọi là khử sai số cạnh sườn. Thao tác này được tiến hành sau
khi đã chỉnh lý gương di động I. Ta có nhiều cách để chỉnh lý tùy thuộc vào mục tiêu chọn. Sử dụng đường chân trời nhìn thấy.
Đặt du xích ở vạch 0 , cầm ngang Sextant đưa lên ngang mắt. Người quan sát nhìn
qua ống kính sao cho thấy cả hai ảnh phản xạ và ảnh trực tiếp của đường chân trời nằm trong thị trường ống kính. Nếu cả hai ảnh đó tạo thành một đường liền nét thì khi đó gương
H đã vng góc với mặt phẳng vành chia độ Sextant khơng có sai số cạnh sườn. Nếu chúng tạo thành đường gãy khúc thì ta tiến hành chỉnh lí gương H bằng cách, dùng chìa
khóa để chỉnh vít nằm phía sau gương vít xa mặt phẳng Sextant nhất vì gương H có 2 vít cho tới khi nhìn thấy ảnh trực tiếp và ảnh phản xạ của đường chân trời tạo thành một đường
liền nét là được
Sử dụng Mặt trời hay ngơi sao.Hình 1.8
Page 11
Du xích cũng được đặt ở vạch số 0 , cầm Sextant thẳng đứng. Người quan sát ngắm
Mặt trời hoặc một ngôi sao nào đó qua ống kính với Mặt trời ta phải dùng các kính màu sao cho phù hợp.
Nếu ảnh phản xạ 2 lần S
1
hoặc S
2
không nằm trên một đường thẳng đứng với ảnh nhìn trực tiếp S thì ta có thể nói Sextant có sai số cạnh sườn. Tiến hành chỉnh lí bằng cách
xoay núm hình trống để đặt S
1
tới vị trí S
1
’ Hình 1.8, tức là S
1
S
1
’ nằm trên đường nằm ngang. Dùng chìa khóa để chỉnh ốc vít ở xa mặt phẳng Sextant nhất phía sau gương H để
dịch chuyển ảnh phản xạ 2 lần S
1
’ đến trùng theo phương thẳng đứng với ảnh nhìn trực tiếp S. Khi làm động tác này, ảnh phản xạ hai lần có thể dịch chuyển đến vị trí cao hơn hay thấp
hơn ảnh nhìn trực tiếp, tức là làm thay đổi sai số vạch chuẩn. Do vậy, sau cùng ta phải xác định sai số vạch chuẩn còn lại.
S
1
S’
1
S’
2
S
2
S
Sử dụng Mặt trời
S’
1
S S
1
Sử dụng sao Hình 1.8
4. Xác định sai số vạch chuẩn và cách làm giảm sai số vạch chuẩn 4.1 Xác định sai số vạch chuẩn
Vị trí gốc của vành chia độ không phải là cố định nên mỗi lần sử dụng Sextant để quan trắc ta cần phải tiến hành xác định sai số vạch chuẩn. Trong thực tế, có một số phương
pháp xác định sai số vạch chuẩn khác nhau, nhưng những công việc chuẩn bị ban đầu cho xác định sai số vạch chuẩn là giống nhau.
- Đặt vạch chuẩn của du xích ở vị trí 0 , xoay núm hình trống để làm trùng ảnh phản
xạ hai lần và ảnh nhìn trực tiếp của mục tiêu. - Đọc số đọc vạch gốc h
i
trên vành chia độ hoặc có thể đọc trực tiếp “i” trên đó.
Xác định sai số vạch chuẩn bằng quan sát ngôi sao Hình 1.9.
Phương pháp này được áp dụng trong các trường hợp quan sát các ngôi sao ở các thời điểm bình minh hay hồng hơn.
Cách tiến hành: + Chọn một ngơi sao khơng sáng q và hướng ống kính Sextant lên nó.
+ Xoay núm hình trống để làm trùng ảnh phản xạ hai lần S
1
và ảnh nhìn trực tiếp của nó là S.
+ Đọc số chỉ trên vành chia độ h
i
và xác định i = 360 - h
i
. Hoặc có thể đọc trực tiếp “i” trên vành chia độ bằng cách đếm giá trị góc mà vạch chuẩn của du xích chỉ vào, nhưng
phải lưu cách xét dấu của “i” theo vị trí vạch chuẩn.
Page 12
S
1
S
Hình 1.9
S Ξ S
1
Xác định sai số vạch chuẩn bằng quan sát đường chân trời Hình 1.10
Hình 1.10 Hướng Sextant về phía đường chân trời và xoay núm hình trống để làm trùng 2 ảnh
của đường chân trời sao cho chúng đang là đường gãy khúc thành một đường thẳng liền nét. Ở phương pháp này ta có thể khơng dùng ống kính cũng được.
Xác định sai số vạch chuẩn bằng quan sát mục tiêu gần Hình 1.11.
Hình 1.11 Người ta sử dụng phương pháp này khi đo các góc kẹp ngang giữa các mục tiêu gần
người quan sát dưới 1 hải lí. Trình tự tiến hành cũng giống như khi xác định sai số vạch chuẩn “i” bằng ngôi sao hay đường chân trời nhìn thấy. Lưu là Sextant có thể ở vị trí nằm
ngang hay thẳng đứng tùy theo ảnh của mục tiêu rõ nét theo phương ngang hay phương thẳng đứng một cách tương ứng.
Xác định sai số vạch chuẩn “i” theo đường chân trời hay mục tiêu gần kém chính xác hơn là tiến hành bằng quan trắc các ngôi sao.
Xác định sai số vạch chuẩn bằng quan sát Mặt trời Hình 1.12.
S S
1
S
2
Hình 1.12
S
1
S
2
Page 13
h
i
= h
sxt1
+ h
sxt2
2 i = 360
- h
i
S
Rất khó làm trùng các đĩa Mặt trời với độ chính xác vừa đủ. Bởi vậy, người ta dùng cách làm tiếp xúc lần lượt các mép đối diện của ảnh Mặt trời. Trình tự được tiến hành như
sau:
-
Dùng các kính màu phù hợp và có màu sắc khác nhau để tạo cho các ảnh của Mặt trời có màu khác nhau và nhìn rõ nhất.
-
Đặt du xích ở gần vạch 0 và ống kính chĩa về phía Mặt trời.
-
Trong khi lắc nhẹ Sextant xung quanh trục ống kính, ta làm trùng các mép của ảnh phản xạ 2 lần S
1
với ảnh nhìn trực tiếp S. Sau đó ghi lại số đọc thứ nhất h
sxt1
.
-
Xoay núm hình trống tiếp tục để ảnh phản xạ 2 lần S
1
dịch chuyển đến vị trí S
2
và cũng làm tiếp xúc các mép của S
2
với S. Sau đó ghi lại số đọc thứ 2 h
sxt2
. Tính: h
i
=
h
sxt1
+ h
sxt2
2
; i = 360 - h
i
. Kiểm tra: Trong số đọc Sextant là và h
sxt2
ta chọn số nào lớn hơn, giả sử h
sxt1
lớn hơn để tính hiệu số.
h
sxt1
- h
sxt2
= 4R So sánh R tính được này với số liệu về bán kính Mặt trời chọn trong trang lịch thiên
văn. Nếu chúng không khác nhau quá ± 0’4 thì kết quả ta quan trắc là chính xác. Phương pháp dùng Mặt trời là chính xác nhất vì nó cho ta bước kiểm tra được kết
quả đo. Cách xác định sai số vạch chuẩn “i” trong thực hành.
Ta có thể sử dụng trực tiếp cách đọc i
1
và i
2
trên vành chia độ lưu ý là số đọc bao giờ cũng đọc từ vị trí 0
đến vạch chuẩn của du xích. Nếu i được đọc trên cung chia độ chính thì nó sẽ mang dấu - và nếu đọc trên cung bên phải thì i mang dấu + sau đó ta cộng đại
số i =
i
1
+ i
2
2
Phương pháp này cho ta tính nhẩm nhanh i bằng quan trắc Mặt trời.
4.2 Cách làm giảm sai số vạch chuẩn. Thực chất của động tác này là ta điều chỉnh cho gương nhỏ H song song với gương
lớn I khi du xích đặt ở vị trí 0 .
Ta nhận thấy rằng, về nguyên lý thì độ lớn của sai số vạch chuẩn không ảnh hưởng tới kết quả quan trắc vì ta biết nó và có thể tiến hành bù trừ nó đi khỏi kết quả đo để loại bỏ
nó. Tuy nhiên, ta không nên để sai số vạch chuẩn i lớn quá 6 - 7
. Để làm giảm sai số vạch chuẩn “i” ta cần tiến hành điều chỉnh gương nhỏ H.
Đặt du xích ở vạch 0 , núm hình trống ở vị trí 0’ và hướng ống kính về phía một
ngơi sao nào đó. Hai ảnh của mục tiêu là S
1
và S
2
sẽ không trùng nhau trên đường nằm ngang với ảnh nhìn trực tiếp tức là S
1
’. Dùng chìa khóa điều chỉnh vít phía sau gương H sao cho ảnh phản xạ hai lần S
1
về nằm ngang với ảnh nhìn trực tiếp tức là đưa đến vị trí S’
1
. Sau đó ta nhất thiết phải chỉnh lí sự khơng vng góc của gương H theo trình tự chỉnh lí đã
học ở phần trên và cuối cùng quan sát tính tốn lại “i”.
Page 14
Sử dụng Sextant trong Hàng hải
-
Sextant được cất giữ trong hộp kín, nó đòi hỏi phải được bảo quản tốt và thận trọng khi sử dụng. Cần phải giữ cho Sextant không bị ảnh hưởng bởi các chấn động, va đập,
không bị ảnh hưởng bởi độ ẩm và sự thay đổi thất thường của nhiệt độ.
-
Khi lấy Sextant ra khỏi hộp hay bất cứ khi nào cầm vào Sextant thì phải ln nhớ rằng khơng được động chạm vào các bộ phận quang học như các gương, thấu kính,
kính lọc màu…Nếu nước mưa rơi vào các bộ phận thủy tinh của Sextant thì ta dùng một dụng cụ để hút khô các giọt nước mưa và lau chùi cẩn thận bằng một dẻ mềm,
mịn và sạch. Những vật dụng này thường có trong hộp đựng Sextant.
-
Thỉnh thoảng phải dùng bàn chải lông cứng để làm sạch vành răng cưa của Sextant và bôi một lớp mỡ đặc biệt lên nó những vật dụng này đều có trong hộp phụ tùng của
Sextant
-
Sextant có những chân để đặt Sextant lên bàn một cách vững chắc. Không được đặt Sextant một cách bừa bãi, ở những tư thế khơng nằm trên các chân của nó.
-
Sau khi sử dụng Sextant, trước khi đặt Sextant vào hộp, phải xếp các kính màu vào đúng vị trí của nó, tháo ống kính và đặt vào vị trí ống kính. Đặt du xích ở khoảng
120 . Dùng tay nắm khung Sextant và đặt nó vào đúng vị trí trong hộp. Khi đóng nắp
hộp Sextant khơng được dùng lực để đóng. Nếu thấy có cấn hay vướng mắc gì thì phải mở ra kiểm tra chứ khơng được cố đóng.
-
Khi Sextant bị hỏng thì khơng tự sửa chữa nếu trên tàu khơng thực sự cần thiết.

5. Các phương pháp đo độ cao thiên thể.


Đo độ cao thiên thể bằng Sextant hàng hải có nghĩa là ta đo góc kẹp giữa thiên thể với mặt phẳng chân trời nhìn thấy của người quan sát. Độ cao đo được là độ cao quan sát.
Để đo được góc kẹp đó ta phải đưa được ảnh của mục tiêu thiên thể xuống đường chân trời nhìn thấy động tác sơ bộ và sau đó làm chập ảnh của thiên thể xuống chân trời nhìn
thấy trong ống kính động tác chủ yếu. Sau đây ta sẽ lần lượt nghiên cứu các động tác đó.

5.1 Động tác sơ bộ kéo ảnh của thiên thể xuống đường chân trời nhìn thấy.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kiểm tra, chỉnh lý gương nhỏ H.

Tải bản đầy đủ ngay(92 tr)

×