Tải bản đầy đủ - 92 (trang)
Động tác sơ bộ kéo ảnh của thiên thể xuống đường chân trời nhìn thấy. Động tác chủ yếu làm trùng ảnh

Động tác sơ bộ kéo ảnh của thiên thể xuống đường chân trời nhìn thấy. Động tác chủ yếu làm trùng ảnh

Tải bản đầy đủ - 92trang

Sử dụng Sextant trong Hàng hải
-
Sextant được cất giữ trong hộp kín, nó đòi hỏi phải được bảo quản tốt và thận trọng khi sử dụng. Cần phải giữ cho Sextant không bị ảnh hưởng bởi các chấn động, va đập,
không bị ảnh hưởng bởi độ ẩm và sự thay đổi thất thường của nhiệt độ.
-
Khi lấy Sextant ra khỏi hộp hay bất cứ khi nào cầm vào Sextant thì phải luôn nhớ rằng không được động chạm vào các bộ phận quang học như các gương, thấu kính,
kính lọc màu…Nếu nước mưa rơi vào các bộ phận thủy tinh của Sextant thì ta dùng một dụng cụ để hút khô các giọt nước mưa và lau chùi cẩn thận bằng một dẻ mềm,
mịn và sạch. Những vật dụng này thường có trong hộp đựng Sextant.
-
Thỉnh thoảng phải dùng bàn chải lông cứng để làm sạch vành răng cưa của Sextant và bơi một lớp mỡ đặc biệt lên nó những vật dụng này đều có trong hộp phụ tùng của
Sextant
-
Sextant có những chân để đặt Sextant lên bàn một cách vững chắc. Không được đặt Sextant một cách bừa bãi, ở những tư thế không nằm trên các chân của nó.
-
Sau khi sử dụng Sextant, trước khi đặt Sextant vào hộp, phải xếp các kính màu vào đúng vị trí của nó, tháo ống kính và đặt vào vị trí ống kính. Đặt du xích ở khoảng
120 . Dùng tay nắm khung Sextant và đặt nó vào đúng vị trí trong hộp. Khi đóng nắp
hộp Sextant khơng được dùng lực để đóng. Nếu thấy có cấn hay vướng mắc gì thì phải mở ra kiểm tra chứ khơng được cố đóng.
-
Khi Sextant bị hỏng thì khơng tự sửa chữa nếu trên tàu không thực sự cần thiết.

5. Các phương pháp đo độ cao thiên thể.


Đo độ cao thiên thể bằng Sextant hàng hải có nghĩa là ta đo góc kẹp giữa thiên thể với mặt phẳng chân trời nhìn thấy của người quan sát. Độ cao đo được là độ cao quan sát.
Để đo được góc kẹp đó ta phải đưa được ảnh của mục tiêu thiên thể xuống đường chân trời nhìn thấy động tác sơ bộ và sau đó làm chập ảnh của thiên thể xuống chân trời nhìn
thấy trong ống kính động tác chủ yếu. Sau đây ta sẽ lần lượt nghiên cứu các động tác đó.

5.1 Động tác sơ bộ kéo ảnh của thiên thể xuống đường chân trời nhìn thấy.


Để đưa ảnh của thiên thể xuống đường chân trời nhìn thấy ta sử dụng 3 phương pháp sau:
5.1.1 Phương pháp kéo ảnh từ trên cao. Đặt du xích và núm hính trống ở vị trí 0
, hướng ống kính đến thiên thể. Lúc đó trong thị trường ống kính sẽ xuất hiện hai ảnh: ảnh thật và ảnh ảo. Hạ dần ống kính xuống
đường chân trời nhìn thấy, đồng thời dùng tay trái tăng dần du xích theo chiều tăng của số đọc độ cao trên vành chia độ để ảnh ảo của thiên thể ln nằm trong thị trường ống kính.
Động tác cứ tiếp tục như vậy đến khi thấy xuất hiện đường chân trời trong thị trường ống kính gần tiếp xúc với ảnh thiên thể thì ta chuyển sang động tác chủ yếu.
Phương pháp này dễ thực hiện vì nó đơn giản và thực tế hơn, thường hay áp dung cho các ống kính có thị trường nhỏ và có độ phóng đại lớn, quan sát những ngơi sao khơng
sáng lắm hoặc những thiên thể mà ta chưa biết trước độ cao và phương vị của nó. 5.1.2 Phương pháp đặt trước độ cao và phương vị gần đúng.
Nếu biết trước được phương vị và độ cao gần đúng của thiên thể bằng cách sử dụng quả cầu sao hay đĩa tìm sao, hay quan sát ước lượng bằng mắt thường… thì người ta
đặt du xích Sextant ở độ cao gần đúng đó và hướng ống kính theo phương vị la bàn về phía
Page 15
chân trời đã chọn, đồng thời tiến hành đảo Sextant và thay đổi độ cao bằng núm hình trống để tìm ảnh của thiên thể, đưa nó lại gần đường chân trời và kết thúc bước đo sơ bộ.
Phương pháp này thường được áp dụng khi quan sát những ngơi sao có độ sáng lớn và vào lúc bình minh hay hồng hơn.
5.1.3 Phương pháp dò tìm. Dùng chủ yếu là để đo độ cao Mặt trời hay Mặt trăng.
Giữ cho Sextant nằm trong mặt phẳng thẳng đứng. Sau đó ta giữ cho Sextant sao
cho chân trời nhìn thấy ln nằm trong thị trường ống kính cho đến lúc nào nhìn thấy ảnh của thiên thể Mặt trời hay Mặt trăng gần tiếp xúc với đường chân trời thì kết thúc bước đo
sơ bộ.

5.2 Động tác chủ yếu làm trùng ảnh


Khi thực hiện động tác chủ yếu làm chập ảnh của thiên thể với đường chân trời nhìn thấy, điều khó khăn đối với chúng ta là vị trí của Sextant phải được đặt thật thẳng đứng,
nếu khơng nó sẽ làm tăng thêm độ cao đo của thiên thể.Để tìm được vị trí thẳng đứng của Sextant người ta tiến hành chao Sextant để trong thị trường ống kính ảnh của thiên thể
vạch lên một cung so với mặt phẳng chân trời nhìn thấy. Khi đó, điểmtiếp xúc với đường chân trời của cung đó cho ta vị trí đúng của ảnh của thiên thể. Có các cách tiến hành đảo
Sextant như sau:
5.2.1 Đảo Sextant quanh đường dây rọi Nghĩa là người quan sát quay xung quanh vị trí đứng của mình một góc rất nhỏ tức
là quay theo phương vị ống kính của Sextant một góc rất nhỏ. Cần chú phải ln giữ cho mặt phẳng Sextant ở trong mặt phẳng thẳng đứng của người quan sát. Nhược điểm của
phương pháp này là ở độ cao h = 30 và góc quay nhỏ dưới 3
thì ảnh của thiên thể rất dễ vượt ra khỏi thị trường ống kính quan sát. Nên phương pháp này chỉ dành áp dụng để đo
các thiên thể có độ cao lớn. 5.2.2 Đảo Sextant quanh tia tới gương lớn I.
Quay Sextant quanh tia tới gương lớn I, tức là ta tiến hành đảo Sextant chuyển động theo vòng xung quanh thiên thể với bán kính là h độ cao của thiên thể. Khi đó trong thị
trường ống kính ảnh của thiên thể sẽ luôn nằm tại tâm của ống kính còn đường chân trời sẽ thay đổi vạch lên một cung parabol.
Phương chờ pháp này đơn giản và dễ tiến hành có thể cho phép quay Sextant nghiêng một góc 15
đến 20 mà đường chân trời vẫn khơng rời khỏi thị trường của ống kính.
5.2.3 Đảo Sextant quanh trục ống kính.Hình 1.13
Page 16
Quay nhẹ nhàng Sextant quanh trục ống kính một góc nhỏ để làm chập ảnh của thiên thể
với đường chân trời trong thị trường ống kính. Trong phương pháp này, ảnh của đường
chân trời ln nằm giữa thị trường ống kính còn ảnh của thiên thể sẽ vạch lên một cung
parabol. Phương pháp này cho ta độ chính xác cao,
nhưng lại rất khó sử dụng. Đòi hỏi người quan sát phải có kinh nghiệm do khi quay Sextant ảnh
của thiên thể rất dễ vượt ra khỏi thị trường ống kính đặc biệt là đối với các thiên thể có độ cao lớn
từ 60
trở lên
Hình 1.13 Đảo Sextant quanh trục ống kính
.
Hình 1.14 Quan sát đo độ cao của Mặt trời và sao Phương pháp nhận và bắt ảnh: Có hai phương pháp nhận và bắt ảnh
- Phương pháp nhận ảnh trực tiếp. Bằng cách thay đổi vị trí núm hình trống cho đến khi ảnh của thiên thể tiếp xúc hay
trùng với đường chân trời thường dùng để đo độ cao của Mặt trời khi đi qua kinh tuyến người quan sát.
- Phương pháp đợi. Đặt trước số đo trên vành chia độ rồi tiến hành chờ đợi theo chuyển động ngày đêm
ảnh của thiên thể sẽ đi tới tiếp xúc với đường chân trời phương pháp này thường áp dụng khi độ cao thiên thể biến đổi nhanh
6. Công tác thực hành đo độ cao thiên thể. 6.1 Công tác chuẩn bị đo độ cao thiên thể.
6.1.1 Chọn vị trí quan sát. Vị trí quan sát cần tránh những nơi có luồng gió mạnh, có luồng hơi nóng, hơi nước,
có bụi và phải là nơi ít chịu ảnh hưởng nhất của rung, lắc của tàu. Vị trí quan sát phải là nơi quan sát thuận tiện nhất và quan sát được rõ các thiên thể
được chọn và chân trời dưới chúng.
Page 17
Trong điều kiện thời tiết tốt, ta nên chọn vị trí người quan sát nơi có độ cao lớn để tăng tầm xa vì khi đó đường chân trời sẽ phẳng hơn.
Khi điều kiện thời tiết xấu, tầm nhìn xa hạn chế thì ta nên chọn vị trí người quan sát ở những nơi có độ cao thấp để kéo đường chân trời lại gần cho dễ quan sát.
Trong điều kiện sóng to, gió lớn, tàu bị lắc mạnh thì nên chọn vị trí quan sát ở gần với trục dọc của tàu.
6.1.2 Chuẩn bị dụng cụ quan sát. Sextant quan sát phải được kiểm tra thật kỹ vị trí của ống kính và các gương. Tiến
hành xác định sai số vạch chuẩn “i”. Chọn ống kính quan sát sao cho phù hợp
Trong điều kiện nóng quá hay lạnh qua thì ta nên tiến hành đưa Sextant ra vị trí quan sát trước đó 10 phút để các bộ phận của Sextant hấp thụ nhiệt độ khơng khí bên ngồi
trước khi tiến hành quan trắc. Chú ý chính lý Sextant các kính màu bảo vệ mắt phải được giữ nguyên cho tới khi
công tác đo đạc được tiến hành xong để tránh sai số gây ra do kính màu. 6.2 Đo độ cao của Mặt trời, Mặt trăng, Định tinh và Hành tinh.
6.2.1 Đo độ cao Mặt trời Thông thường người ta đo độ cao của mép dưới Mặt trời trên đường chân trời nhìn thấy.
Trước hết ta phải tiến hành chuẩn bị sơ bộ Sextant: kiểm tra sự vuông góc của mặt
phẳng Sextant với các gương và chỉnh lí chúng nếu cần, xác định sai số vạch chuẩn ....Sau khi xác định sai số vạch chuẩn “i” ta đặt các kính màu trước gương lớn I sao cho phù hợp,
còn trước gương nhỏ H thì khơng cần. Nhưng nếu như chân trời q sáng thì ta có thể đặt một kính màu nhạt trước gương sao cho phù hợp.
6.2.1.1 Đưa ảnh Mặt trời về đường chân trời Bước đo thô Đưa ảnh Mặt trời về đường chân trời nghĩa là ta có thể thấy được cả 2 ảnh trong thị
trường ống kính. Ta có thể dùng một trong ba phương pháp sau đây: Phương pháp 1: Du xích đặt ở vị trí 0
, hướng ống kính tới chân trời phía Mặt trời, giữ Sextant thẳng đứng. Sau đó khơng làm mất trong thị trường ống kính đường chân trời.
Bằng tay trái, đưa du xích tới trước đồng thời lắc nhẹ Sextant quanh trục ống kính để làm tăng tầm bao quát bầu trời của gương lớn. Khi thấy ảnh phản chiếu của Mặt trời trong thị
trường ống kính thì dừng lại. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất.
Phương pháp 2: Du xích đặt ở vị trí 0 , đặt các kính màu trước gương giống như khi
quan sát xác định sai số vạch chuẩn “i”. Hướng ống kính về phía Mặt trời, trong thị trường ống kính ta sẽ thấy cả hai ảnh của Mặt trời. Vừa hạ ống kính xuống một cách từ từ vừa dịch
chuyển du xích tới trước sao cho ảnh phản xạ 2 lần của Mặt trời luôn luôn nằm trong thị trường ống kính. Khi ống kính đã hạ xuống đến đường chân trời thì ta bỏ các kính màu
trước ống kính ra.
Phương pháp 3: Ước lượng độ cao của Mặt trời bằng mắt, đặt du xích ở vạch bằng độ cao ước lượng của Mặt trời đó. Hướng ống kính về phía chân trời trong khi Sextant
được đặt trong mặt phẳng thẳng đứng của Mặt trời, lắc nhẹ Sextant và quét ống kính nhẹ nhàng từ phải qua trái và ngược lại ta sẽ phát hiện được ảnh của Mặt trời. Phương pháp này
đòi hỏi người quan sát phải có kinh nghiệm để ước lượng độ cao Mặt trời một cách chính xác.
6.2.1.2 Làm trùng ảnh của Mặt trời với đường chân trời bước đo tinh
Page 18
Sau khi đã đưa được ảnh của Mặt trời vào thị trường ống kính gần chân trời ta phải tiến hành bước làm trùng mép đĩa ảnh của Mặt trời với đường chân trời để thu được độ cao
chính xác. Khi làm trùng như vậy thì phương pháp chờ đợi là phương pháp thuận lợi nhất. Ở
phương pháp chờ đợi này, ta đặt trước số đọc Sextant rồi chờ cho ảnh của Mặt trời do chuyển động ngày đêm của thiên cầu và chuyển động riêng sẽ đi đến tiếp xúc với đường
chân trời.
Nếu quan sát được tiến hành vào buổi trước giữa trưa buổi sáng thì bằng cách xoay núm hình trống, ta kéo ảnh của Mặt trời xuống hơi quá đường chân trời một chút bởi
vì trong khoảng thời gian đó độ cao Mặt trời tăng dần. Nếu quan sát tiến hành lúc giữa trưa buổi chiều thì dùng núm hình trống ta đặt đĩa Mặt trời hơi cao hơn đường chân trời
một chút lúc này độ cao Mặt trời đang giảm dần, lưu rằng, ta phải xoay núm hình trống theo một chiều tăng của số đo để làm giảm ảnh hưởng của sai số hành trình chết của núm
hình trống.
Sau đó, ta khơng cần động chạm gì đến núm hình trống nữa và tiếp tục lắc nhẹ Sextant quanh trục ống kính, ta chờ đợi ảnh của Mặt trời tiếp xúc với đường chân trời. Vào
đúng thời điểm tiếp xúc đó ta ghi lại giờ thời kế T
TK
. Để dễ nhớ, ta lưu vào buổi sáng ảnh của Mặt trời ln rời xa mặt nước, còn vào buổi chiều, ảnh của Mặt trời luôn đi tới mặt
nước. Để tăng độ chính xác của phép đo, ta cần tiến hành đo một loạt từ 3 đến 5 lần độ
cao Mặt trời liên tiếp cùng với giờ thời kế tương ứng. Sau đó ta lấy giá trị trung b́nh của các lần đo đó.
Trong một số trường hợp, ta khơng dùng phương pháp chờ đợi, mà xoay núm hình trống để làm tiếp xúc đĩa Mặt trời với đường chân trời, đồng thời ghi lại giờ thời kế. Tuy
nhiên, phương pháp này khơng cho độ chính xác bằng phương pháp chờ đợi. 6.2.2 Đo độ cao Mặt trăng
Chỉ nên đo độ cao Mặt trăng vào ban ngày hay lúc nhá nhem vì vào ban đêm, khoảng chân trời phía dưới Mặt trăng sẽ có những vệt sáng và tối đan nhau lẫn lộn nên ta
rất khó quan sát. Việc xác định vị trí tàu bằng quan trắc đồng thời Mặt trời và Mặt trăng tốt nhất là vào những ngày gần thượng huyền hay hạ huyền, tức là vào những ngày từ 6-9 hoặc
21-24 âm lịch.
Nếu đo độ cao Mặt trăng vào ban ngày thì về nguyên tắc cũng giống như cách đo độ cao Mặt trời. Chỉ khác là khơng cần dùng tới kính màu và làm tiếp xúc ảnh của Mặt trăng
mép của Mặt trăng với đường chân trời nhìn thấy rõ nhất ứng với pha trăng và vĩ độ đã cho.
Khi đo độ cao Mặt trăng lúc nhá nhem, đơi lúc ta cũng nên dùng kính màu nhẹ trước gương lớn I để sao cho đường chân trời khó nhìn khơng bị lẫn với ánh Trăng.
6.2.3 Đo độ cao Đinh tinh và Hành tinh Khi tiến hành đo độ cao Định tinh hay Hành tinh chúng ta thường gặp các khó khăn
như sau: - Đường chân trời nhìn thấy khơng rõ nét, đơi khi còn khơng nhìn thấy đường chân
trời khi nhìn thấy các ngơi sao.Trong thời gian chân trời còn sáng thì ngược lại, bản thân các vì sao lúc đó lại khơng thấy rõ.
- Có rất nhiều vì sao trên bầu trời như vậy làm cho chúng ta nhận dạng sao rất khó khăn và rất dễ nhầm lẫn giữa các vì sao.
Page 19
Việc đo độ cao của các định tinh sao thường được tiến hành vào khoảng thời gian bình minh hay hồng hơn hàng hải. Ta cũng có thể đo độ cao của các ngôi sao vào những
đêm trăng sáng với điều kiện là, trong trường hợp đó, phương vị của sao không quá gần với phương vị Mặt trăng để tránh được hiện tượng “chân trời giả” do ánh trăng gây lên.
Để tầm nhìn xa của chân trời tốt hơn khi ta dùng ống kính ban đêm và có thị trường khoảng 1,5 đến 2 lần, lớn hơn ống kính ban ngày. Điều này cho phép chúng ta nhìn thấy
chân trời trên khoảng lớn hơn giúp cho việc tìm kiếm sao dễ dàng hơn. Có ba phương pháp để đo độ cao của sao hay hành tinh như sau:
-
Sau khi đặt du xích ở vạch số 00, hướng ống kính Sextant lên vì sao mà ta muốn đo, vừa di chuyển du xích tới trước một cách nhẹ nhàng vừa hạ ống kính Sextant xuống để kéo ảnh
của sao xuống gần đường chân trời hơn. Phương pháp này được áp dụng cho các ngơi sao nhìn thấy rõ bằng mắt thường vào lúc kết thúc hồng hơn hay bắt đầu bình minh.
-
Bằng quả cầu sao hay đĩa tìm sao, ta tìm độ cao gần đúng của sao cần đo, đặt du xích của Sextant ở vạch tương ứng với độ cao nói trên. Với sự giúp đỡ của một la bàn, ta hướng
Sextant theo phương vị la bàn của sao mà ta cũng vừa tìm được theo dụng cụ nói trên. Vừa lắc nhẹ Sextant vừa quét rê nó nhẹ nhàng theo chân trời ta sẽ tìm được ngơi sao cần thiết.
Phương pháp này rất quan trọng vì nó cho phép ta đo độ cao các sao khi mặt biển còn sáng và do đó đường chân trời còn rõ nét, lúc này bằng mắt thường ta khơng thể nhìn thấy các vì
sao đó. Phương pháp này cũng cho phép ta tăng được thời gian quan trắc vì điều này rất có ích khi ta hành trình ở những vĩ độ nhỏ, vì ở đó thời gian nhá nhem rất ngắn. Đây là
phương pháp duy nhất dùng để quan sát vào ban ngày hành tinh Venus sao Kim
-
Đặt du xích ở vạch số 00, cầm Sextant bằng tay trái, và như vậy lật ngược vành chia độ lên phía trên, hướng ống kính tới gần ngơi sao đo. Sau đó di chuyển du xích từ từ cho đến khi
đường chân trời xuất hiện trong thị trường ống kính gần ngơi sao, đến lúc đó hãy lật ngược Sextant về tư thế bình thường của nó bên tay phải rồi tiến hành đo độ cao như thông
thường. Phương pháp này thường áp dụng để đo các ngơi sao có độ sáng mờ nhạt, dễ bị nhầm lẫn với các ngôi sao bên cạnh.
Khi làm chập ảnh của sao với đường chân trời ta khơng nên dùng phương pháp chờ đợi, vì thời gian phải chờ sẽ rất lâu, mà ta nên xoay núm hình trống để đưa ảnh sao về tiếp
xúc với đường chân trời. Với mỗi một ngôi sao ta nên đo từ 3 đến 5 lần độ cao của sao và kết hợp ghi lại thời
gian T
TK
tương ứng, rồi lấy giá trị trung bình cộng của loạt đo đó, bởi vậy việc quan trắc lúc trời nhá nhem là rất khó khăn, đặc biệt là khi thực hiện lại chỉ có một người, vì vậy khi quan
trắc các vì sao hay định tinh nên có người giúp việc thứ hai.
Đo độ cao thiên thể khi đi qua kinh tuyến người quan sát. Về mặt lý thuyết ta có thể đo được độ cao kinh tuyến của thiên thể độ cao của thiên
thể khi nó đi qua kinh tuyến người quan sát, nếu người quan sát không chuyển động và thiên thể khơng thay đổi xích vĩ.
Trong thực tế, do tàu chuyển động và xích vĩ của thiên thể biến thiên nên ta thường chỉ đo được độ cao lớn nhất của thiên thể.
Tuy nhiên, trong hàng hải người ta bỏ qua sự khác biệt nói trên và thừa nhận độ cao lớn nhất của thiên thể là độ cao kinh tuyến, hoặc khi cần thiết có độ chính xác cao hơn thì
người ta hiệu chỉnh sai số này bằng một số hiệu chỉnh nào đó. Có hai phương pháp đo độ cao kinh tuyến, tức độ cao lớn nhất của thiên thể.
Page 20
- Phương pháp 1: Tính trước giờ tàu T
t
mà thiên thể đó sẽ đi qua kinh tuyến người quan sát dùng Lịch thiên văn và tọa độ vị trí dự đốn để tính tốn. Khi còn từ 3 đến
5 phút nữa đến thời điểm nói trên ta bắt đầu đo liên tục độ cao: đưa ảnh của thiên thể về tiếp xúc với đường chân trời và ghi lại số đọc Sextant cùng như giờ thời kế,
và lặp lại các động tác đó tức là ta khơng áp dụng được phương pháp chờ đợi. Nếu thiên thể qua thiên kinh tuyến thượng thì độ cao ban đầu của thiên thể sẽ dần tăng
lên sau đó sẽ giảm đi và nếu thiên thể qua thiên kinh tuyến hạ thì ngược lại. Số đọc Sextant lớn nhất trong một loạt số đọc đó được thừa nhận là độ cao kinh tuyến của
thiên thể. - Phương pháp 2: Công tác chuẩn bị cũng như đối với phương pháp trên. Khi còn vài
phút nữa đến thời điểm thiên thể qua kinh tuyến người ta bắt đầu quan trắc và đưa ảnh của thiên thể về đường chân trời. Vừa xoay núm hình trống chú chỉ xoay theo
một chiều vừa lắc Sextant, ta duy trì liên tục sự tiếp xúc của ảnh của thiên thể với đường chân trời. Ngay khi nhận thấy thiên thể chuyển động theo hướng ngược lại
với hướng chuyển động ban đầu thì ngừng xoay núm hình trống và đọc giờ thời kế, ghi lại số đọc Sextant. Đó chính là độ cao Sextant của thiên thể khi đi qua kinh tuyến.
Trong mọi trường hợp, phương pháp thứ nhất nói chung là tốt hơn, đỡ vất vả hơn và cho phép ta tiến hành tính tốn theo những độ cao gần kinh tuyến đo được. nếu độ cao
lớn nhất vì lí do nào đó khơng nhận được. Phương pháp thứ hai hay dùng khi tàu hành trình ở vùng Nhiệt đới để đo những độ
cao lớn của Mặt trời.
Chương II: Bầu trời sao, dụng cụ nhận dạng sao 1. Bầu trời sao, cách nhận dạng sao
Để thuận tiện cho việc định hướng trên bầu trời, ngay từ thời cổ đại, các vì sao nhìn thấy được trên bầu trời đã được phân chia thành các nhóm, gọi là các chòm sao. Vào năm
1928, theo nghị quyết của hiệp hội Thiên văn học quốc tế, thì ranh giới giữa các chòm sao được thiết lập theo các cung kinh tuyến và xích vĩ. Tên của các chòm sao cơ bản vẫn gọi
theo tên lịch sử của chúng, chủ yếu là theo thần thoại Hy Lạp - La Mã như: Ursa Major, Orion, Hercules...Những sao sáng hơn trong một chòm sao thì được ký hiệu theo các chữ
cái Hy Lạp như: α, β, γ,...
Trong Lịch thiên văn Anh, người ta thiết lập danh mục sao bao gồm 173 ngơi sao trong đó có 57 ngơi sao chọn lọc mà đơi khi ta còn gọi là các ngơi sao hàng hải. Trong danh
mục này cho ta các thông tin như: cấp độ sáng, tên riêng của sao hoặc tên của chòm sao và chữ cái Hy Lạp ký hiệu của sao, số thứ tự của các ngôi sao chọn lọc, xích kinh nghịch SHA:
Sideral Hour Angle và xích vĩ Dec: Declination theo từng tháng.
Cần lưu rằng việc đưa khái niệm chòm sao chỉ có tính chất ước lệ, bởi vì trong thực tế, các chòm sao chỉ là hình chiếu của các ngơi sao lên trên bề mặt một mặt cầu tưởng
tượng và các ngôi sao trong một chòm sao thực tế khơng liên quan gì đến nhau cả và chúng ở cách rất xa nhau.
Để đặc trưng cho tính chất mờ tối hay sáng rõ của một ngôi sao, người ta đưa ra
khái niệm gọi là cấp sao, ký hiệu là Mag trong lịch thiên văn Anh. Những ngơi sao sáng nhất là những ngơi sao có cấp sao bằng 0 hay nhỏ hơn nữa, tức là có Mag 0 cấp âm.
Page 21
Những ngơi sao mờ nhạt nhất trong số các ngơi sao có thể quan sát thấy bằng mắt thường có cấp sao bằng 6.
Người ta đã quy định rằng: những ngôi sao cấp 1 sẽ sáng hơn những ngôi sao cấp 2 tương tự những ngơi sao cấp 2 sẽ được nhìn thấy sáng hơn những ngơi sao cấp 3 và ...nói
cách khác, độ sáng của các ngôi sao I
1
; I
2
; I
3
;.... ở những cấp khác nhau sẽ tạo thành một cấp số nhân. Người ta cũng quy định rằng ngơi sao có cấp sao bằng 1 sáng gấp 100 lần ngơi
sao có cấp sao bằng 6, tức là I
1
I
6
= 100. Do đó cơng bội q của cấp số nhân sẽ là 2,5 nghĩa là khi cấp sao giảm đi 1 cấp một đơn vị thì độ sáng của sao giảm đi khoảng 2,5 lần.
Ngày nay, cấp sao được xác định với độ chính xác rất cao nhờ phương pháp quang phổ hoặc vô tuyến và được biểu diễn bằng những số thập phân dương, còn các ngơi sao
sáng thì những số thập phân âm. Ta có thể xem ví dụ về cấp sao của 173 ngôi sao trong “Danh mục các ngôi sao” trong Lịch thiên văn Anh.
Thiên thể sáng nhất trên bầu trời là Mặt trời với độ sáng -26,8. sau đó là Mặt trăng với độ sáng là -12,6 còn ngơi sao sáng nhất là sao Venus sao Hôm hay sao Mai với độ sáng là - 4,6.
2. Quả cầu sao, cách sử dụng 2.1 Cấu tạo quả cầu sao.Hình 2.1
Thiên cầu được đặc trưng bởi một khối cầu rỗng được làm từ chất dẻo. Trên bề mặt khối cầu đó có dán bản đồ bầu trời sao đối với người quan sát nhìn lên Thiên cầu từ bên
ngồi. Do đó sự sắp xếp của các ngôi sao ngược với thực tế. Thiên cầu có thể quay quanh hai điểm tượng trưng cho thiên cực, trong đó thiên cực bắc P
N
được xác định bởi sao Polaris bên cạnh nó.
Qua hai thiên cực người ta vẽ sẵn các thiên kinh tuyến cách nhau 15 một. Vòng
xích đạo ở giữa quả cầu được vẽ đậm và chia độ bằng chữ số Ả rập đồng thời ký hiệu bằng cả đơn vị giờ ký hiệu bằng chữ số La Mã. Những độ chia này dùng để đặt góc giờ
địa phương của điểm xuân phân tức là thời gian sao địa phương hoặc xích kinh α. Điểm gốc để tính các độ chia của vành Xích đạo là điểm Xuân phân γ, được đánh số là 0
và XXIV. Người ta còn vạch trên quả cầu tưởng tượng đường Hồng đạo nghiêng với Thiên xích đạo
một góc 23 5 và cũng chia độ nó.
Các thiên kinh tuyến ứng với các điểm Xuân phân γ và điểm Thu phân Ω, điểm Hạ chí L và Đơng chí
L’cũng được vạch đậm và chia độ. Các thiên vĩ tuyến vòng xích vĩ được vẽ song song
với vòng xích đạo và cách nhau 10 một.
Vành kinh tuyến người quan sát làm bằng kim loại ôm sát lấy quả cầu, đi qua hai Thiên cực và ở nơi
đó có các trục để Thiên cầu xoay tròn. Vành kinh tuyến người quan sát được chia độ, đánh số từ 0
đến 90 , tính
từ Xích đạo về phía hai thiên trục Vòng phương vị được đặt trên mặt phẳng nằm
ngang của hộp chứa và tượng trưng cho mặt phẳng chân trời thật. Ở các điểm N và S của vành phương vị
người ta khoét hai khe để đặt vành kinh tuyến người Hình 2.1
quan sát vào đó. Vành phương vị được khắc độ và đánh số theo cách tính phương vị ¼ vòng.
Page 22
Hai vòng thẳng đứng là hai nửa vòng tròn vng góc với nhau và rồi chúng lại được đặt vng góc với vành phương vị. Vì vậy, hai vòng thẳng đứng này có thể nhấc ra hay đặt
vào tùy . Chúng được chia độ và đánh số từ 0 đến 90
theo chiều từ chân trời trở lên. Giao điểm của hai vòng thẳng đứng chính là thiên đỉnh người quan sát. Để xác định độ cao h của
thiên thể. Trên vòng thẳng đứng có bố trí một con chạy. Trên bề mặt khối cầu, người ta vẽ khoảng 170 ngôi sao sáng nhất đối với một thời
kỳ nhất định. Trong vòng từ 20 đến 30 năm, sự thay đổi các tọa độ của thiên thể do hiện tượng tiến động địa trục có thể bỏ qua. Ở gần thiên cực bắc P
N
người ta cho bảng chỉ dẫn về k hiệu các ngôi sao tương ứng với các độ sáng của chúng. Tên của các ngơi sao được ghi
bên cạnh chúng. Vì các hành tinh, Mặt trăng và Mặt trời luôn thay đổi các tọa độ của chúng do có
chuyển động riêng, nên người ta không biểu diễn chúng trên quả cầu sao mà ta phải tự đánh dấu chúng lên đó bằng bút chì mềm có sẵn trong hộp đựng phụ tùng kèm theo.

2.2 Cách sử dụng quả cầu sao.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Động tác sơ bộ kéo ảnh của thiên thể xuống đường chân trời nhìn thấy. Động tác chủ yếu làm trùng ảnh

Tải bản đầy đủ ngay(92 tr)

×